TRIỀU LA VỸ
Giừng có chửa!
Bà giáo trề môi. Cả làng Vệ nhốn nháo.
Tôi hớt hải chạy ra trại Nòn tìm Giừng.
Minh họa: Tô Trần Bích Thúy
Nó đang ngồi đan gióng. Vừa đan, nó vừa tủm tỉm cười. Trời ơi, cái bụng đã lùm lùm thế kia, mày còn cười được sao hả Giừng?
Giừng sống một mình ngoài trại Nòn, dưới chân núi Vệ. Cha mẹ mất sớm. Ngày ngày Giừng đan giỏ giừng sàng thúng mủng mẹt gióng bằng tre rồi đem vào làng đổi gạo.
Giừng đẹp hồn nhiên như cây lúa Giao Chỉ vừa mới nhú đòng.
Giừng chửa hoang!
Đàn bà làng Vệ nghiến răng, bóng bà giáo khệnh khạng to đùng như bóng núi trước sân. Đàn ông làng Vệ im thin thít, bóng già làng nhỏ thó bé mọn run rẩy như bóng cau góc vườn.
Giừng bị cấm vào làng Vệ. Tội nghiệp nó. Giừng có chung chạ với thằng cha nào của làng Vệ này đâu. Không lẽ Giừng đã mang thai trăng?
Đêm nào em cũng mơ thấy trăng. Giừng vừa nói vừa cười hồn nhiên.
Trăng lừng lững như bóng núi Vệ, không u nghiêm dễ sợ như nhiều người vẫn tưởng. Giừng thích cuộn tròn trong lòng cái bóng hiền lành ấy, nghe thầm thì thầm thì từ ngàn cao những câu chuyện cổ.
Trăng ở Nòn kỳ lắm. Đi tới đâu cũng để lại dấu chân người. Giừng thường chạy theo trăng, ướm thử chân mình vào đấy và cười khúc khích.
Tôi đã thử rình theo Giừng mấy đêm trăng liền mà có thấy dấu chân nào đâu. Hay Giừng bị con ma nào ám?
Nhà tôi ở rìa làng Vệ, cũng chẳng xa trại Nòn mấy. Tôi hay ghé chơi trại Nòn xem Giừng đan gióng. Giừng khéo tay lắm. Mai mốt đứa nào ưng Giừng chắc là phúc bảy đời.
Mắt Giừng lúng liếng lá răm. Da Giừng trắng mịn. Mồ hôi của Giừng có mùi thơm là lạ quyến rũ. Tôi ngờ Giừng được thế là nhờ tắm trăng dưới ao tám vú.
Ao nằm sau trại Nòn, dưới chân núi Vệ, bao quanh bởi những núm đá kỳ dị hình vú đàn bà. Nước ao trong văn vắt. Cạnh ao, trên một tảng đá trải dài bằng phẳng như chiếc chiếu con là một dấu chân người khổng lồ. Ao thiêng lắm, nên cả làng không ai dám đến.
Một tối đánh liều tôi theo Giừng ra ao, tênh hênh ngâm mình dưới trăng. Sóng vỗ voàm voạp lạ lắm như tay ai đang mân mê vuốt ve vờn vọc từng núm đá hình vú đàn bà. Tôi nhìn đôi chũm cau chớm lớn đang hườm hự chả hê của Giừng và đôi bầu vú căng cứng mây mẩy của mình cứ run lên dài dại dưới trăng mà lòng dềnh lên một niềm đê mê khó tả và một nỗi sợ hãi mơ hồ.
Đó là lần duy nhất tôi tắm dưới ao thiêng. Sau lần đó, thi thoảng tôi mơ thấy mình bị bóng trăng đè ngữa xuống chiếu đá. Tôi giật mình thức giấc nghe tê tức trên hai bầu ngực, còn lòng thì cứ rộn rạo phập phồng.
Cạnh trại Nòn, sát chân núi Vệ có một vườn cà hoang lâu đời. Gốc cà to lắm. Lá cành rậm rì. Những trái cà mùi hăng nồng, to bằng bát ăn cơm, tròn lẳng lòn trước gió, trông ngồ ngộ kỳ kỳ.
Vườn cà này linh lắm. Những đêm trăng tròn dân làng Vệ thường nghe có tiếng chân người. Ai cũng sợ xanh mặt. Thần núi đấy. Họ thì thầm vào tai nhau. Đàn bà, con gái, trẻ nhỏ bị cấm ra đường vào những đêm như thế.
Nhưng con Giừng thích ngủ dưới gốc cà, giữa lõa lồ ánh trăng khuya.
Tôi không dám theo ngủ với Giừng. Tôi sợ. Nhưng cứ mỗi lần bất chợt bắt gặp mắt Giừng nhìn bâng quơ ra vườn cà rồi tủm tỉm cười một mình, tôi lại thấy người bứt rứt, rần rực, khó ở.
Hay Giừng đã mang thai núi Vệ?
Ngày lại ngày, bụng Giừng to dần trong những tiếng xì xào chì chiết của cả làng.
Giừng không cần gạo của làng Vệ. Giừng ăn cà hoang thay cơm.
Bụng Giừng càng lớn, Giừng càng phổng phao xinh đẹp.
Một đêm tối trời, Giừng chuyển dạ.
Một thằng bé bụ bẫm ra đời.
Tôi lăng xăng cắt rốn, làm tã bên bếp lửa hồng trại Nòn.
Mẹ tròn con vuông. Hú vía. Không biết, nếu không có tôi mẹ con Giừng sẽ ra sao.
Đặt tên thằng cu là gì chị Út?
Gióng. Tôi buột miệng.
Gióng, sao lại Gióng? Út sợ đặt tên khác làng Vệ bắt vạ à?
Vạ cái vú cô thì có. Tôi mắng yêu. Mai mốt thằng cu nhớn, cô không muốn nó nhớ nghề sinh nhai của ông bà và mẹ nó phỏng?
Tôi nói rồi quay mặt đi, tay lén chùi nước mắt. Mai này biết phận mình, con có tủi thân không, Gióng ơi?
Thằng Mẹt nhà tôi cười giòn tan. Gióng, Gióng… Giừng và Gióng. Mẹ Giừng. Em Gióng. Vui quá, vui quá…
Mới đó mà đã ba mùa rẫy.
Thằng Mẹt nhà tôi không thèm chơi diều nữa. Nó cất diều vào bồ thóc. Nó bảo chơi một mình chán lắm. Nhưng nó lại nằng nặc đòi tôi làm thêm một con diều tre nữa. Tự tay nó phết hồ, dán giấy và gắn cây sáo trúc lên thân.
Diều cho em Gióng chơi đó mẹ. Nó bảo diều của nó và em Gióng sẽ bay cao nhất, tiếng sáo trúc sẽ lảnh lót véo von nhất làng Vệ này.
Nó đưa diều cho Giừng giữ.
Mai mốt em Gióng biết đi, cô Giừng cho Mẹt dẫn em ra đồng thả diều nhé.
Ừ chơi ngoan. Nhưng anh Mẹt không được bắt nạt em Gióng đấy.
Nhất định thế rồi, cô hứa nhé.
Cô hứa.
Hứa lời hứa của hoa cỏ may ngoài đồng cỏ nhé cô. Ai hứa rồi nó sẽ bám hoài trên áo, bám vào cả giấc mơ luôn đấy. Thằng Mẹt vừa huyên thuyên vừa khúc khích cười.
Lời hứa hoa cỏ may, thề đấy, ông nỡm ạ. Giừng vừa mắng yêu vừa khúc khích cười theo.
Tôi nhìn ra đồng cỏ. Nắng đã nghiêng qua vai núi Vệ. Hoa cỏ may tím nôn nao một vạt đồng.
Nhưng thằng Mẹt đợi hoài mà em Gióng vẫn chưa chịu biết đi.
Năm ấy cả xứ mất mùa đói kém.
Giặc phương Bắc chực vào cướp.
Giặc mạnh và hung bạo vô cùng. Nghe đâu nó chỉ dùng súng nước bắn chơi mà quan quân ngoài biên ải đã phải cong đuôi chạy re, mặt xanh còn hơn đít nhái.
Một lũ ăn hại nhát chết. Vua bụm miệng chửi đổng một mình, rồi tức tốc cho loa đi khắp nơi cầu hiền tài.
Tôi đang chổng mông thổi lửa nồi cám lợn thì thằng Mẹt xồng xộc chạy vào. Nó đòi đi đánh giặc.
Mắt đang cay xè vì khói, nước mắt nước mũi tèm nhèm, nghe nó nói chưa hết câu tôi đã mắng té tát.
Mày là thằng con nít ranh, đi đái còn ướt đũng quần, nấu nồi cám lợn còn bị khê, ở đấy mà đòi giặc với giũ.
Nó nhìn mặt tôi chằm chằm, giọng như người lớn.
Mẹ nói mà nghe được à. Thằng giặc ỉ lớn hiếp nhỏ, đi tới đâu cũng cướp phá. Con không đi đánh, nó vào cướp hết làng, còn ruộng đâu mẹ trồng cà trồng lúa, còn đất đâu cho thằng Gióng thả trâu thả diều hả mẹ.
Tôi cắn nhẹ môi dưới. Mầy biết lớn rồi đó Mẹt.
Mẹt tám tuổi. Nội nó, cha nó ngày xưa mới lên mười đã đi lính cho vua. Cái xứ này giặc giã liên miên. Trẻ trâu trẻ nhớn đều mê đánh giặc. Hăng phết. Sống chết không màng. Ngực cứ đỏ như son. Chỉ tội đám đàn bà côi cút. Chỉ thương bọn con gái lỡ thì. Tôi chép miệng thở dài, giọng nghe chừng đã hết nẫu ruột vì xót con.
Xứ này đánh giặc có nòi rồi. Thôi con đi đi, đánh cho cừ vào, đừng làm hổ danh làng Vệ ta nhé.
Thằng Mẹt cười tít mắt, chạy lon ton ra sau nhà.
Con Giừng hớt hải từ đầu ngõ chạy vào, giọng đứt quãng.
Chị… Út ơi. Thằng… Gióng nhà em…nó…nó…
Nó bị làm sao. Tôi hoảng hốt.
Nó cười nói được rồi… Mừng quá Út ơi.
Mắt con Giừng đỏ hoe, nhưng cái miệng nó cười tươi lắm. Tội Giừng quá. Thằng Gióng ba năm nay nằm như khúc thịt thừa không nói không rằng. Suốt ngày nó nằm ngửa trên chiếu đá, mắt nhìn trừng trừng lên bầu trời cao. Tới bữa ăn, mẹ nó vạch áo đút ti vào miệng, nó bú một hơi rồi nằm lăn ra ngủ khì. Tôi thấy xót lòng lắm. Con Giừng gầy rạc xương. Chắc mầy tủi thân với cái của nợ này lắm phải không Giừng?
Đêm nào em cũng nằm mơ thấy Gióng to cao hùng dũng ngồi trên ngựa chiến, bay từ nóc nhà này sang nóc nhà khác. Xung quanh Gióng là các tướng nhà trời, ai cũng oai phong lẫm liệt. Giừng vừa nói vừa mơ màng nhìn theo những bông nắng đang nhảy nhót nghịch ngợm ngoài hiên.
Tôi nuốt cục nghẹn xuống ngực. Lạy các ông tướng nhà trời đừng làm khổ dân đen nữa!
Dân làng Vệ còn công kênh em trên vai, diễu khắp làng rất là thành kính nữa. Mắt Giừng sáng lấp lánh.
Cô sắp thành bà mẹ anh hùng rồi đấy. Tôi trề môi cố kéo giọng mình dài ra.
Con Giừng bất chợt nhìn sững tôi rồi ôm mặt khóc hu hu.
Em đếch cần là anh hùng, đếch cần làm mẹ tướng nhà trời. Em chỉ cần như chị Út, như bao bà mẹ tầm thường khác thôi. Em cần Gióng. Em cần con em bình thường như bao trẻ trâu trẻ nhớn khác. Sao để thành ông này ông kia con phải sống vô hồn, bỏ cười bỏ khóc thế này Gióng ơi…
Tôi ôm Giừng vào lòng, nước mắt dàn dụa. Tôi không ngờ Giừng có nhiều trăn trở đớn đau làm vậy. Khốn nạn thân em.
Giờ thằng Gióng mới thực sự làm người.
Nhờ có giặc mà nó biết cười biết nói!
Vua đang làm một con ngựa sắt, một áo giáp sắt, một cái mũ sắt và một cây roi sắt để Gióng lên đường đánh giặc.
Đất nước đang nguy nan Gióng ơi. Ngày hội làng, bọn nó giành giựt nhau để được ngồi ghế cao chiếu rộng, xâu xé nhau để được ăn mâm cao cỗ đầy. Sao việc cứu nước cứu nhà trọng đại dường ấy phải cầu đến một đứa con nít lên ba, miệng còn hôi sữa?
Gióng vụt lớn.
Bao nhiêu nong cơm, bao nhiêu nong cà của làng Vệ, của tất cả làng Vệ, đều không làm Gióng đủ no. Gióng ăn khỏe quá. Gióng lớn nhanh quá. Thoắt cái mà Gióng đã là một thanh niên tuấn tú oai phong.
Ngựa sắt đem tới trại Nòn cũng vừa lúc giặc tràn vào cướp phá vùng núi Trâu. Gióng nhảy lên mình ngựa, vung roi sắt, thúc ngựa phi lên trước. Ngựa sắt hí vang trời, miệng hừng hực lửa. Thằng Mẹt nhà tôi ngồi sau lưng Gióng cũng vung chiếc cào tre lên cao, thật là dũng mãnh. Trai tráng khắp nơi ùn ùn chạy theo chân Gióng. Khí thế bừng bừng.
Giặc chết như ngả rạ. Tin thắng trận dồn dập. Tôi và Giừng ôm nhau khóc. Chúng tôi mừng tíu tít trong nỗi sợ hãi vô hình.
Giặc tan. Tôi và Giừng tất tả chạy khắp nơi tìm con. Đâu đâu cũng tan hoang. Đâu đâu cũng nghi ngút khói. Những con đường lở lói sình lầy đầy xác chết. Những lũy tre cháy vàng hườm nham nhở tả tơi dưới ánh chiều tà.
Dưới chân núi Sóc, bên gốc cây đa ngàn tuổi chúng tôi ôm chiếc áo của Mẹt và Gióng mà khóc không thành tiếng.
Chiếc áo chăn trâu thường ngày của thằng Mẹt nhà tôi chi chít vết đâm. Máu khô đóng thành vệt trên những chỗ rách nham nhở.
Cái áo lót bằng lụa mà làng Vệ đã may cho Gióng ngày lên đường đánh giặc rách toạt một mảng lớn ở bụng. Nơi này áo giáp sắt không kín, chúng tôi đã buộc thêm rơm vào. Máu chưa kịp khô còn đỏ thẫm trên vệt rách hình lá tre khô bay phần phật tả tơi trước gió.
Mẹt ơi, Gióng ơi. Các con đang ở đâu? Đi đâu mà không kịp một lời chào mẹ? Hay ngựa sắt đã đưa các con về trời?
Tôi và Giừng bất chợt nhìn nhau, rồi nhìn xuống tay mình. Trong lúc vội vã chạy tìm con, không hiểu sao tôi và Giừng ai cũng cầm theo một con diều tre phết giấy có gắn một cây sáo trúc trên thân.
Hai chiếc diều tre chấp chới bay trên đỉnh núi Sóc, nhỏ bé nhưng đầy kiêu hãnh trên nền trời đỏ rực một màu máu lúc hoàng hôn. Tiếng sáo vi vu trầm bổng. Mắt Giừng đỏ hoe. Mắt tôi cũng nhòe đi vì gió. Bất giác chúng tôi nghe có tiếng gọi từ trên cao. Kìa Mẹt và Gióng đang cười đùa hồn nhiên trên lưng những con diều tre. Trên tay mỗi đứa tím sững sờ một nhánh hoa cỏ may. Chúng ơi ới gọi, chúng vẫy tay với chúng tôi. Rồi biến mất vào vòm trời cao vút cùng với ngân nga tiếng sáo.
Mùa hạ, tháng tư.
Nắng giòn như má con gái vừa mới dậy thì.
Tôi về thăm đền Sóc lúc hội Gióng vừa tan. Nắng trưa tròn bóng cứ trổ đầy hoa tre trên từng bậc rêu. Bên thềm đền Mẫu, tôi ngạc nhiên khi gặp một người đàn bà xinh đẹp phúc hậu đang ngồi chải tóc. Rồi nhìn vào ánh mắt ngỡ ngàng xen lẫn háo hức của tôi bà rì rầm kể tôi nghe câu chuyện về nàng Giừng. Tôi ngồi thẫn thờ xúc động, quên cả chào người đàn bà kỳ lạ đang lặng lẽ khuất dần trên đường lên đền Thượng. Câu chuyện cứ ám ảnh tôi mãi. Đêm đó, bên bếp lửa bập bùng, tôi thuật lại câu chuyện nàng Giừng với một già làng Phù Đổng với mong muốn nhận được một sự cảm thông nhưng chỉ nhận từ bà một cái lắc đầu ngờ vực. Rồi bà nhìn tôi bằng ánh mắt hoang mang khó chịu. Cô không thấy tre đằng ngà đang cháy như lửa ngoài lũy làng kia sao. Bà nói như hét. Thật là nhảm nhí hoang đường.
T.L.V
(TCSH358/12-2018)
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.