Để không bị lãng quên giữa các loại hình nghệ thuật giải trí hiện đại, sân khấu cải lương nói riêng, nghệ thuật truyền thống nói chung, đang tìm cách chuyển mình, dần tìm lại chỗ đứng. Trong quá trình tìm hướng đi mới ấy, các nghệ sĩ không hoàn toàn chạy theo thị hiếu một cách dễ dãi mà bỏ qua yếu tố nghệ thuật.
Trích đoạn vở diễn “Ni sư Hương Tràng”, Nhà hát Cải lương Việt Nam
Tự làm mới
Vở Ni sư Hương Tràng, dù đây thực sự là câu chuyện của bang giao, hòa hiếu, và vấn đề bảo vệ quốc gia, dân tộc… song người xem được bước vào câu chuyện tình yêu, tìm hiểu lịch sử một cách tự nguyện mà không cảm thấy bị lên gân hay khiên cưỡng. Câu chuyện dù rất giản dị, nhưng thông qua các khúc quanh, các sự cố trong cuộc đời của Huyền Trân công chúa đã khiến khán giả cảm động, khâm phục. |
Gần đây, nhiều nhà hát sân khấu truyền thống nỗ lực tìm hướng đi để tồn tại và phát triển với nhiều hình thức, như làm mới các vở diễn kinh điển, kết hợp biểu diễn tăng tính tương tác với khán giả, phối hợp với các công ty du lịch tổ chức biểu diễn phục vụ du khách… Riêng với nghệ thuật cải lương, đã có một số gameshow truyền hình thực tế về loại hình sân khấu này như “Học viện cải lương”, “Chuông vàng vọng cổ”, thậm chí Đài Truyền hình Việt Nam còn xây dựng sân chơi “Ai rành 6 câu” với mong muốn thế hệ trẻ có cơ hội tiếp xúc với cải lương và văn hóa dân tộc, tiếp bước một thế hệ nghệ sĩ cải lương đã một thời vàng son...
Theo Phó Giám đốc Nhà hát Cải lương Việt Nam, NSƯT Triệu Trung Kiên, sân khấu cải lương đang có những điểm sáng, được thể hiện qua sự thừa nhận của công chúng và khán giả yêu nghệ thuật dân tộc. Hiện nay, một bộ phận khán giả vẫn trông chờ được đến thưởng thức mỗi dịp nhà hát ra mắt tác phẩm mới.
Dành nhiều tâm huyết cho sân khấu nói chung và nghệ thuật cải lương nói riêng, NSƯT Triệu Trung Kiên cho biết, để lôi kéo đông đảo khán giả, chính các nghệ sĩ phải thực sự yêu thích loại hình nghệ thuật truyền thống này và tự làm mới mình. “Quan trọng là những người làm nghề phải sống được bằng nghề. Tôi nghĩ, khi ai đó làm việc bằng tất cả tâm huyết và sự yêu thích của mình thì ở bất cứ sân khấu nào, khó khăn đến mấy cũng có thể gặt hái thành công, để lại dấu ấn trong lòng công chúng”, NSƯT Triệu Trung Kiên khẳng định.
Việc công chúng dần xa rời nghệ thuật truyền thống không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn tại nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, thông qua những vở diễn của Nhà hát Cải lương Việt Nam 5 - 7 năm gần đây cho thấy, các nghệ sĩ cũng đã rất cố gắng để phô diễn được cái hay, cái đẹp của loại hình nghệ thuật này mà nhiều khi nó bị khỏa lấp bởi nhiều lý do của cuộc sống hiện đại.
Thay đổi một cách hài hòa
Cuối năm 2017 vừa qua, vở diễn Ni sư Hương Tràng (do TS. Bùi Hữu Dược chấp bút, NSƯT Triệu Trung Kiên đạo diễn) được Nhà hát Cải lương Việt Nam ra mắt khán giả Thủ đô, với các đêm diễn tại sân khấu rạp Đại Nam thu hút rất đông khán giả, thuộc nhiều lứa tuổi. Đây cũng là một trong hai vở diễn dàn dựng theo đơn đặt hàng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm qua. Nghệ sĩ Trần Quang Khải, thủ vai Phật hoàng Trần Nhân Tông, hồ hởi cho biết, nhìn ba tầng khán phòng không còn chỗ trống, khán giả ngồi kín cả lối đi lên xuống, anh và đồng nghiệp có thêm động lực để cống hiến.
Rõ ràng, so với một vài năm trước đây, lượng khán giả yêu nghệ thuật cải lương đã tăng lên. Điều này cũng chứng tỏ, nghệ thuật cải lương vẫn có sức sống. Tuy nhiên, để đưa nó trở lại thời hoàng kim cần nỗ lực rất lớn của nhiều người, cũng như sự hỗ trợ của nhiều ban, ngành. Bên cạnh đó, bản thân khán giả cũng nên mở lòng đón nhận.
Các đơn vị nghệ thuật hiện nay có xu hướng làm mới tác phẩm truyền thống để có thể phù hợp với thị hiếu khán giả cũng như bối cảnh xã hội đương đại. Đạo diễn Triệu Trung Kiên cho rằng, cần hài hòa ở sự thay đổi này, không hoàn toàn chạy theo thị hiếu một cách dễ dãi mà bỏ quên yếu tố nghệ thuật. “Cách tân nghệ thuật cải lương để thỏa mãn phần nào những tiêu chí và đòi hỏi của khán giả hiện đại, nhưng điều đó không có nghĩa là biến nó thành một loại hình nghệ thuật lai tạp”.
Theo đạo diễn Triệu Trung Kiên, không đổi mới không được, nhưng đổi mới yếu tố gì và ở mức độ nào lại là một sự tinh toán rất tinh tế của những người làm nghề. “Bởi vì thực tế cho thấy những nhân tố của sân khấu cải lương đã trở lại với sân khấu giải trí. Tuy nhiên, cũng nên đánh giá một cách thấu đáo rằng các chương trình không phải đều giống nhau, món ăn phải được thay đổi thường xuyên, người ta chán ăn món ăn quốc tế hóa rồi thì phải quay lại với các món ăn dân tộc. Đây có lẽ cũng chỉ là sự thay đổi ở khẩu vị mà thôi”.
Theo Hồng Hà - ĐBND
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.