BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
Trường Đồng Khánh xưa - Ảnh: internet
Từ ngôi nhà với vườn xưa đầy hoa lá ở đường Bộ Học, tôi mượn xe đạp, đạp ra cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền, quẹo phải xuống đường Lê Lợi. Lang thang một mình mong tìm lại một chút cảm giác đáng yêu của ngày ấy - ngày tôi là nữ sinh Đồng Khánh. Con đường học trò nhộn nhịp hơn xưa. Hai bên đường cây xanh rợp lá xôn xao trong nắng “đợi bóng tình nhân” vẫn dễ thương như độ nào. Con đường áo lụa nên thơ, duyên dáng; con đường áo trắng quần tây xanh dáng thư sinh điềm đạm đang vờn quanh tôi. Xao xuyến. Rạo rực. Đạp xe gần đến trường xưa - ngôi trường hồng con gái nổi tiếng một thời. Tim tôi rộn rã. Đây là “Trường Em” - Đồng Khánh, trường tôi. Cổng trường duyên dáng hiện ra. Trong phút chốc lòng tôi bỗng chựng lại. Nơi mà ngày xưa chỉ dành riêng cho giáo sư và khách ra vào thì nay học trò con trai, con gái với quần tây, áo chemise trắng lao xao đạp xe ra vào. Cảm giác xót xa chợt đến. Ôi, con trai cũng vào học trường của mình. Giật mình bởi như có tiếng ai đó đang khúc khích cười vọng lại từ xa… “Ui cha, dị chưa tề. Trường chi của mi?”. Tiếng vọng chợt đến, chợt đi. Tôi mỉm cười, bẽn lẽn. Ừ. Trường chi của mình hè! Nhưng mà… không, con gái tụi mình ngày ấy vẫn thường hãnh diện và có ý nghĩ như rứa: Trường của mình. Cứ được vào học trường Đồng Khánh là Trường của mình. “Trường của mình”. Nghe dễ thương chi lạ. Tôi ngừng xe. Mắt hướng vào trường. Đôi mắt buồn xa xăm của một “thiếu nữ lớn tuổi” đã trên lục tuần. Đứng nhìn trường xưa mà lòng buồn rười rượi. Đảo mắt tìm một tà áo dài trắng học trò. Không có. Tuyệt nhiên không. Con trai, con gái quần tây, áo chemise trắng qua lại trên những con đường nhỏ trong sân trường. Nét duyên, nét thơ, đằm thắm, dịu dàng của con gái Đồng Khánh dưới nắng sân trường đã mất. Mất thật rồi. Ngậm ngùi, nuối tiếc. Ôi! Trường Em - Đồng Khánh của tôi.
Sát với Trường Em là con đường nhỏ yên ắng, Nguyễn Trường Tộ - giới hạn với Trường Anh, Quốc Học. Anh và em chỉ cách nhau một con đường. Con đường nho nhỏ, dễ thương dành riêng cho con gái Đồng Khánh nghỉ chân trước giờ trường mở cổng. Đường thì của chung nhưng ngày ấy không có bóng dáng của một anh Quốc Học nào dám bước chân đi vào “khoảng trời riêng của em”. Tôi từ từ đạp xe đi vào khoảng trời riêng của mình ngày xưa và nhớ về ngày ấy… Dễ thương nhất vẫn là những giây phút đợi giờ cổng trường mở. Nghỉ hai giờ đầu. Học hai giờ sau. Các nàng thường đi học sớm, đứng dọc hai bên lề đường, dưới bóng cây xanh. Nón nhấp nhô. Áo trắng bay nhẹ dưới nắng sáng, nắng chiều. Kín đáo nhìn nhau. “Con gái ngắm con gái”. Vẫn là một cái thú riêng của nữ sinh Đồng Khánh. Tôi thường đứng cặp khi thì Bùi Hồng Xuân, khi thì Trần Bích Hà to to, nhỏ nhỏ. Bích Hà, nước da trắng hồng, xinh xinh, tinh nghịch, nhí nhảnh rất dễ thương. Hà là tầm ngắm của các anh Y khoa Huế và Pilot - một thời sáng giá của thập niên 60. Hồng Xuân đẹp, có duyên với chiếc răng khểnh. Mắt nâu đa tình, thu hút người nhìn. Những mẩu chuyện bên lề đường Nguyễn Trường Tộ của chúng tôi bao giờ cũng rộn rã: “Chiều ni, được nghỉ học một giờ sau về Tây Thượng ăn bánh bèo nghe”. “Ừ. Chiều ni mình ăn mười chén”. Hồng Xuân nheo mắt nhìn tôi với nụ cười thật duyên. Bích Hà chen vào: “Mình sẽ ăn mười lăm chén. Chồng chén của mình sẽ cao hơn chồng chén của ấy”. “Ừ. Có sức thì cứ ăn. Chiều ni mình đãi”. Tôi nói. Hồng Xuân đánh nhẹ vào tay tôi: “Ê, ấy nhìn Lâm Kim Cúc xinh chưa tề”. “Ừ. Đẹp. Mà ấy cũng đẹp lắm!”. “Mình đẹp mà không ai nhìn”. Cười. “Không, cũng có nhiều người nhìn ấy lắm đó. Chẳng hạn như Bích Hà và mình đây”. Cả ba đứa cùng cười…
![]() |
Đường Nguyễn Trường Tộ giữa hai trường Đồng Khánh và Quốc Học - Ảnh: internet |
Qua khỏi giới hạn với Trường Em là Quốc Học - Trường Anh. Tôi dừng xe trước cổng trường anh. Trường anh bề thế, vững chãi. Cũng màu hồng như trường em nhưng sậm màu hơn và Quốc Học rất đỗi đàn ông. Tôi đạp xe thêm một đoạn ngắn dọc đường Lê Lợi và đi vào con đường bên hông trường Quốc Học - đường Phan Bội Châu. Con đường này có cổng phụ dành cho các anh Quốc Học ra vào trường. “Khoảng trời riêng của anh”. Con đường mà ngày xưa các em Đồng Khánh không bao giờ dám bước chân vào. Nay, tôi đàng hoàng đi vào con đường ấy mà không “sợ”, không “dị” chi cả. Đúng 46 năm tôi rời trường Đồng Khánh ở lứa tuổi biết yêu, biết sợ, biết dị… Đứng nhìn cổng ra vào dành cho học sinh Quốc Học, tôi thật sự bàng hoàng khi trước mắt tôi, học trò Quốc Học con trai, con gái đang nối đuôi nhau người đi vào, kẻ đi ra. Nữ sinh quần tây có, áo dài trắng có, tay áo xăn lên đến khuỷu tay, vạt áo quấn quanh người đang đạp xe ra khỏi trường. Một nữ sinh áo dài trắng đàng hoàng đứng bên lề sát cổng trường đợi người thân đến đón. Hai tà áo bay trong gió. Mắt tôi bỗng sáng lên. Tim rạo rực. Nhưng… cô nàng đầu trần, tóc demi-garcon, vai đeo túi xách màu đỏ đựng sách vở. Lạ quá! Học trò con gái cũng học trường Quốc Học, học trò con trai cũng học trường Đồng Khánh. Tôi bùi ngùi, thương cảm và tiếc thầm. Giá như cô gái này có đầu tóc xõa ngang vai với chiếc nón nghiêng che theo chiều nắng và cặp sách trên tay thì duyên dáng, đằm thắm, dễ thương biết chừng nào - hình ảnh đặc trưng của nữ sinh Đồng Khánh một thời. Tôi bỗng nhớ ngày xưa, khoảng gần cuối thập kỷ 50, trường nữ Trung học Đồng Khánh chưa có lớp Đệ Nhất, các chị Đồng Khánh phải qua học nhờ ở Trường Anh - Quốc Học nhưng các chị vẫn áo dài trắng, nón lá cặp sách duyên dáng, mềm mại vô cùng. Học nhờ ở Trường Anh đến năm 1963, trường Đồng Khánh mở được lớp Đệ Nhất với đầy đủ các ban A, B, C thì cảnh học nhờ của các chị không còn. “Anh không còn cưu mang em nữa”. Nghe mà dễ thương quá!...
Tôi đang đứng trầm ngâm giữa khung trời mùa thu xứ Huế mà bùi ngùi thầm tiếc về ngôi trường nữ và ngôi trường nam nổi tiếng một thời. Hai ngôi trường đẹp bên bờ sông Hương, có bề dày lịch sử và lớn nhất của Huế. Trong nỗi niềm nuối tiếc đó tôi mong Huế sẽ phục hồi lại được một ngôi trường nam, một ngôi trường nữ như xưa “Ngày ấy. Hôm nay. Mãi mãi”…
Mùa thu Huế vẫn còn đây với gió nhẹ, lá vàng bay. Con đường học trò vẫn duyên dáng với hai hàng cây có lá xanh um chụm đầu thì thầm bên nhau nhưng nét Huế trong học trò như nữ sinh Đồng Khánh, nam sinh Quốc Học ngày xưa đã không còn. Huế ơi! Tiếc quá đi thôi. Tôi cũng như bất cứ người Huế nào của một thời đã từng học ở hai trường Quốc Học và Đồng Khánh khi xa Huế đều nhớ thuở học trò dưới hai mái trường nữ và nam xinh, duyên và đẹp của Huế mà chúng tôi vẫn gọi một cách trìu mến và lãng mạn là “Trường Anh - Trường Em”.
Ơi! Huế của một thời.
B.K.C
(SDB12/03-14)
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.