Khi người ta yêu

10:32 26/09/2011
LGT: O. Henry là bút danh của William Sydney Porter. Ông sinh năm 1862 và mất năm 1910, cùng năm qua đời của Mark Twain.

Văn hào O. Henry - Ảnh: wikipedia

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if !mso]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

O.Henry là một nhà văn Mỹ đầy “sinh lực văn chương”, viết truyện ngắn nhiều tới mức người ta phải lập danh sách các truyện của ông theo thứ tự ABC để tra cứu cho tiện. Ông chuyên viết về sinh hoạt của những con người bình thường ở Thành phố New York. Ông là bậc thầy về lối kết cục bất ngờ gây ngạc nhiên: cốt truyện cứ phát triển, thắt dần, thắt dần rồi đột nhiên chuyển sang một tình huống mỉa mai, châm biếm, trùng khớp hoặc kết thúc đột ngột đến không ngờ. Đó chính là nghệ thuật độc đáo điển hình của O.Henry, và là một trong những nguyên nhân khiến người đọc phải nhớ mãi, phải suy ngẫm.



O. HENRY


Khi người ta yêu


Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả.

Đó chính là giả thuyết của chúng tôi. Câu chuyện này sẽ rút ra một kết luận từ đó, đồng thời cho thấy rằng giả thuyết này là không đúng. Đây là một điểm mới trong Logic và là một tiểu xảo điêu luyện trong nghệ thuật kể chuyện, một nghệ thuật còn lâu đời hơn cả Vạn lý trường thành ở Trung Hoa vậy.

Joe Larrabee ra đời trong căn nhà bằng gỗ sồi ở miền Trung Tây, nước Mỹ với nhịp đập của một tài năng thiên bẩm về nghệ thuật tạo hình. Lên 6, chú đã vẽ được bức tranh máy nước công cộng với một người vội vã bước qua. Tác phẩm của họa sĩ tí hon này đã được đóng khung, treo trong tủ kính của một cửa hàng dược phẩm bên cạnh một bông lúa mì có những dãy hạt không đều nhau. Hai mươi tuổi, anh rời quê lên New York, với chiếc nơ hai dải thắt trên cổ áo, và tất cả vốn liếng được gói ghém thành một bọc, còn thắt chặt hơn.

Delia Caruthers chơi dương cầm tại một ngôi làng trồng toàn thông ở miền Nam nước Mỹ, triển vọng tới mức họ hàng đã gom góp tiền bạc giúp cô lên miền “Bắc” để “ăn học thành tài”. Người ta chưa biết dung nhan của cô, nhưng đó chính là câu chuyện mà chúng tôi muốn kể cho các bạn nghe.

Joe và Delia gặp nhau tại một xưởng họa nơi một số sinh viên mỹ thuật và âm nhạc thường gặp gỡ nhau để bàn luận về hội họa ánh sáng và bóng tối, về Wagner, về âm nhạc, các tác phẩm của Rembrandt, các tuyệt tác, Waldteufel, giấy dán tường, Chopin và Oolong.

Joe và Delia đem lòng yêu nhau và cưới nhau trong một thời gian ngắn, vì như đã nói ở trên, khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả.

Anh chị Larrabee bắt đầu sống chung trong một căn hộ. Đó là một căn hộ đơn độc, y như cung La thăng bên tay trái cuối bàn phím dương cầm vậy. Nhưng họ vẫn hạnh phúc vì họ có nghệ thuật và họ có nhau. Và lời khuyên của tôi cho anh chàng thanh niên trẻ tuổi này là hãy bán tất cả những gì mình có, rồi đem cho người quản gia khốn khổ kia, để đổi lấy đặc ân được sống trong một căn hộ với nghệ thuật của anh và với Delia của anh.

Những người sống trong căn hộ sẽ xác nhận câu châm ngôn của tôi: hạnh phúc của họ là hạnh phúc duy nhất chân chính! Thương nhau trái ấu cũng tròn, trái lim cũng ngọt, bồ hòn cũng ngon, vì thế ngôi nhà của cặp uyên ương hạnh phúc không bao giờ quá chật chội cả - người ta có thể ngả cái tủ áo xuống làm cái bàn billard, biến cái mặt lò sưởi thành dụng cụ tập bơi thuyền, cái bàn viết thành một buồng ngủ dự trữ, cái giá để chậu rửa mặt thành chiếc dương cầm đứng, quây bốn bức tường lại với nhau, nếu họ muốn, với chàng và Delia của chàng vui vầy trong đó… Còn nếu không thì ngôi nhà phải thật rộng, thật dài, người ta vào qua eo biển Golden Gate, treo mũ ở mũi Hatteras, áo choàng ở mũi Cape Horn và bước ra qua bán đảo Labrador.

Joe học vẽ trong lớp của Thầy Magister vĩ đại - bạn biết tên tuổi của ông ta rồi đấy. Học phí của ông cao giá; bài học của ông nhẹ nhàng - những điểm nhấn mạnh của ông đã đem lại tiếng tăm cho ông. Còn Delia theo học dương cầm dưới sự hướng dẫn của Ông Rosenstock - bạn cũng đã biết tiếng tăm của ông ấy là người chuyên làm loạn bộ bàn phím của dương cầm.

Cặp vợ chồng trẻ sống vô cùng hạnh phúc, chừng nào họ còn tiền. Mọi cặp vợ chồng đều thế cả - nhưng tôi sẽ không cao giọng yếm thế nữa. Mục đích của họ được đề ra rất rõ ràng. Joe phải phấn đấu để nhanh chóng có khả năng sáng tác được tranh tới mức các quý ông lịch sự, với hai bên tóc mai mong mỏng nhưng ví tiền lại dày dày, phải tới túc trực tại căn hộ của anh, để có được đặc ân mua tranh của anh. Còn Delia thì phải điêu luyện về Âm nhạc tới mức có thể xem thường nó, để khi thấy các ghế hoặc các lô xem hòa nhạc trong nhà hát không bán được vé, nàng phải biết lập tức cảm thấy đau họng, ăn tôm hùm trong một phòng ăn riêng, và không chịu lên sân khấu biểu diễn nữa.   

Nhưng theo ý kiến của riêng tôi, tuyệt nhất vẫn là cuộc sống gia đình trong căn hộ bé nhỏ xinh xinh ấy - những cuộc trò chuyện ríu rít, líu lo, sau một ngày đi học về; những bữa ăn tối ấm cúng, và những bữa điểm tâm nhẹ nhàng, tươi mát; sự trao đổi cho nhau những hoài bão - những hoài bão được hòa quyện lẫn nhau, của người này quấn quít với người kia, không sao kể xiết; sự giúp đỡ cùng sự khích lệ lẫn nhau; và – xin bỏ qua cho sự vụng về chất phác của tôi nhé - cả món ô-liu nhồi thịt và bánh sandwich kẹp phó-mát vào lúc 11 giờ tối nữa chứ. 

Nhưng được một thời gian thì Nghệ thuật bắt đầu xuống dốc. Sự đời đôi khi vẫn thế, cho dù đôi khi người bẻ ghi xe lửa không ra hiệu như vậy. Mọi thứ đều ra đi mà chẳng có gì trở lại, như người đời vẫn nói. Tiền không đủ để trả học phí cho Thầy Magister và Ông Rosenstock. Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả. Vì thế, Delia cho biết nàng sẽ dạy nhạc, để cho nồi xúp có thể tiếp tục reo sôi trên bàn ăn.

Đã hai, ba ngày nay, nàng đi săn lùng học sinh muốn học nhạc. Một buổi tối nàng trở về nhà, mặt mày hớn hở.

“Anh Joe yêu quý,” nàng nói, hân hoan, vui sướng, “em đã tìm được một học sinh rồi. Ôi, mà là người đáng yêu nhất! Đó là con gái Tướng A.B. Pinkney, trên Phố 71. Chà, ngôi nhà của họ mới đẹp làm sao, Joe ạ, giá mà anh được thấy cái cửa trước của nó nhỉ! Mỹ thuật Byzantine, em tin chắc thể nào anh cũng sẽ thốt lên như vậy. Còn nội thất bên trong nữa chứ! Ôi, anh Joe ạ, trước đây em chưa hề được thấy những thứ đó bao giờ”.

“Học trò của em là con gái Đại tướng, cô bé tên là Clementina. Em yêu cô bé kinh khủng. Đó là một cô bé tinh tế - bao giờ cũng mặc toàn trắng; còn phong cách thì vô cùng dịu dàng, giản dị! Cô bé mới 18 tuổi. Em sẽ dạy 3 buổi một tuần; và anh thử nghĩ xem, anh Joe! Chỉ có 5 đô-la một buổi. Thôi cũng không sao; vì khi em kiếm được thêm hai hay ba học sinh nữa, thì em lại tiếp tục đi học Ông Rosenstock. Bây giờ thì anh đừng cau mày, ưu tư nữa nhé, anh yêu, và ta cùng thưởng thức một bữa tối thật ngon nào”.  

“Dele, đối với em thế là ổn rồi,” Joe vừa nói vừa ra sức mở hộp đậu Hà Lan bằng một con dao phay và một chiếc rìu nhỏ, “thế còn anh thì thế nào? Em nghĩ rằng anh sẽ cam tâm để cho em lam lũ, bươn chải kiếm tiền, trong khi anh cứ rong chơi trên các nẻo đường phù phiếm của nghệ thuật được chăng? Không đời nào nhé! Anh thấy là anh có thể bán báo, hoặc đi lát đường, cũng đem về đôi ba đồng chứ.”

Delia chạy đến ôm choàng lấy cổ Joe.

“Ôi, anh Joe yêu quý của em, anh ngốc lắm! Anh phải tiếp tục học vẽ. Phải chăng em bỏ học nhạc và đi làm, chỉ vì một vấn đề gì đó khác ư? Trong khi em dạy là em vẫn học đấy chứ. Chẳng lúc nào em rời âm nhạc của em cả. Với 15 đô-la một tuần, chúng ta vẫn có thể sống ung dung như một ông hoàng. Anh không được nghĩ đến chuyện bỏ học Thầy Magister đấy nhé!”

“Thôi được,” vừa nói Joe vừa giơ tay với lấy chiếc đĩa sâu để cơi rau. “Nhưng anh không thích để em đi dạy học tí nào. Đó không phải là Nghệ thuật. Mà em sinh ra không phải là để làm những chuyện đó.”

“Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả.” Delia đáp.

“Thầy Magister khen nức khen nở bầu trời trong bức phác họa anh vẽ ở công viên,” Joe nói. “Và Tinkle đã đồng ý để anh treo hai bức trong số đó tại cửa hiệu của ông ấy rồi. Có thể anh sẽ bán được một bức nếu một gã giàu có, ngốc nghếch nào đó để mắt tới chúng.”

“Em đánh cuộc là anh sẽ bán được tranh,” Delia nói, giọng ngọt ngào. “Bây giờ thì ta hãy cảm ơn Tướng Pinkney và món bê thui này đã.”

Trong cả tuần sau đó, cặp vợ chồng Larrabees đều ăn sáng rất sớm. Joe thì rất say sưa về mấy bức phác họa cảnh bình minh mà anh vẽ trong Công viên Trung tâm, còn Delia chuẩn bị thức ăn cho Joe một cách nâng niu, chiều chuộng, cùng những lời tán dương, khen ngợi và những nụ hôn nồng nàn trước khi ra khỏi nhà vào lúc 7 giờ sáng. Nghệ thuật quả là một thiếu nữ duyên dáng, quyến rũ biết chừng nào! Còn Joe thì nhiều khi 7 giờ tối mới về tới nhà.

Cuối tuần, Delia kiêu hãnh một cách duyên dáng nhưng có vẻ uể oải, mệt nhoài, đặt một cách đắc thắng 3 tờ 5 đô-la lên chiếc bàn rộng 8x10 inches kê giữa căn phòng khách rộng 8x10 feet.

“Đôi khi,” Delia nói, giọng hơi mệt mỏi, “Clementina làm cho em phát mệt. Em ngờ rằng cô bé không chịu thực hành, em cứ phải nhắc đi nhắc lại một vấn đề không biết bao nhiêu lần. Và rồi lúc nào cô bé cũng mặc toàn đồ trắng, trông thật đơn điệu. Nhưng Tướng Pinkney thì quả là một ông già đáng mến thật. Ước gì anh được biết ông ấy nhỉ, anh Joe ạ. Thỉnh thoảng ông ấy có vào khi em đang đàn với Clementina – ông ấy góa vợ, anh biết đấy – chuyên đứng đó, tay vuốt chòm râu dê. “Tình hình nốt móc đôi và nốt móc ba tiến triển thế nào rồi, cô giáo?”, bao giờ ông ấy cũng hỏi như vậy.

“Ước gì anh được thấy ván ốp của căn phòng khách nhà ấy nhỉ, anh Joe ạ! Và cả những tấm thảm lông cừu Astrakhan nữa chứ. Mà Clementina có cái lối ho rất ngộ. Em hy vọng cô bé khỏe hơn cái bề ngoài còm nhom của cô ấy. Ồ, quả là em đã cảm thấy gắn bó với cô bé ấy rồi. Cô bé dịu dàng, và đài các biết nhường nào. Em trai của Tướng Pinkney đã từng làm Công sứ ở Bolivia đấy”.

Thế rồi đến lượt Joe, với dáng vẻ của một Monte Cristo, anh rút ra một tờ mười đồng, một tờ năm, một tờ hai, và tờ một đồng, rồi đặt chúng bên cạnh những đồng tiền do Delia kiếm được.

“Anh bán được bức tranh màu nước vẽ đài kỷ niệm cho một ông từ Peoria tới,” Joe tuyên bố, với dáng vẻ áp đảo.

“Đừng có rỡn với em nhá,” Delia nói, “chẳng có chuyện từ Peoria gì hết! ”

“Lặn lội từ Peoria tới thật đấy. Ước gì em được gặp ông ấy nhỉ, Dele ạ. Ông ta là một người to béo, quàng một chiếc khăn len to đùng, miệng ngậm một cái tăm xỉa răng bằng lông chim. Ông ta đã thấy bức phác họa tại cửa hiệu của Tinkle, lúc đầu ông ấy tưởng đó là một cái cối xay gió, thế nhưng ông ấy vui tính thật, mua luôn. Ông ấy còn đặt ngay một bức nữa - một bức phác họa sơn dầu vẽ Ga xe lửa Lackawanna - để ông ấy mang theo về Peoria. Những bài học âm nhạc! Ôi anh cho rằng Nghệ thuật vẫn còn lẩn khuất trong những bài học âm nhạc đó”.

“Em vui biết chừng nào vì anh vẫn tiếp tục học vẽ được,” Delia hồ hởi nói. “Anh nhất định phải thắng, anh yêu ạ. Ba mươi ba đô-la! Trước đây, chúng ta chưa bao giờ có nhiều tiền đến thế để mà xài. Tối nay, chúng ta phải thưởng thức món sò huyết mới được”.  

“Và cả món thịt thăn nõn om nấm nữa chứ”, Joe nói. “Em này, cái dĩa lấy ô-liu của nhà mình đâu rồi, em nhỉ?”.

Vào buổi tối thứ bảy sau, Joe về tới nhà trước tiên. Anh trải rộng 18 đô-la anh kiếm được lên trên bàn phòng khách, rồi rửa sạch hai bàn tay dính đầy sơn sẫm màu.

Nửa giờ sau, Delia về tới nhà, bàn tay phải bị buộc băng lung tung thành một bọc không ra hình thù gì.

“Thế này là thế nào?” Joe thắc mắc sau câu chào hỏi như thường lệ. Delia cười, nhưng không vui lắm.

“Clementina,” Delia giải thích, “cứ khăng khăng đòi ăn món thỏ xứ Wales sau khi học đàn xong. Cô bé quả là một cô gái kỳ quặc, lạ lùng. Đòi ăn món thỏ xứ Wales vào lúc 5 giờ chiều. Ngài Đại tướng cũng có mặt tại đó. Giá anh được thấy ông ấy chạy đi lấy cái lò hầm, anh Joe ạ, cứ như thể không có người giúp việc trong nhà vậy. Em thông cảm Clementina không được khoẻ lắm; cô bé vụng về biết chừng nào. Trong lúc múc món thỏ hầm, cô ấy đã đánh đổ nước canh sôi sùng sục lên tay và cổ tay em. Đau kinh khủng, anh Joe ạ. Cô bé rất lấy làm tiếc! Còn Tướng Pinkney nữa chứ! – Anh Joe ạ, ông già gần như hóa điên. Ông chạy vội xuống dưới nhà và sai một người nào đó - họ bảo đó là một người công nhân lò sưởi hoặc một người làm gì đó đang ở dưới tầng hầm - chạy ra hiệu thuốc để mua dầu và các thứ để băng cho em. Bây giờ em không còn cảm thấy đau đến thế nữa.”

“Thế đây là cái gì?” Joe vừa hỏi vừa nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay rồi rút mấy sợi tơ trắng dưới những lần băng gạc.

“Đó là một thứ mềm làm đệm, có tẩm dầu, “Delia nói. “Ồ, anh Joe, anh lại bán được thêm một bức nữa rồi đấy à?” Nàng đã nhìn thấy tiền để trên bàn.

“Sao cơ?” Joe nói; “cứ hỏi ông già ở Peoria thì biết. Hôm nay, ông ta đã lấy bức ga xe lửa rồi; ông ta còn không chắc lắm nhưng ông ấy nghĩ là ổng muốn có một bức phong cảnh công viên và một bức cảnh Vịnh Hudson. Mà chiều nay em bị bỏng tay lúc mấy giờ nhỉ, Dele?”.

“Vào quãng năm giờ gì đó,” Delia nói, giọng kể lể, than vãn. “Cái bàn là – à em muốn nói là lúc đó món thỏ hầm vừa mới bắc ra khỏi lò. Giá mà anh được thấy Tướng Pinkney nhỉ, anh Joe ạ, khi đó…”.

“Em hãy ngồi xuống đây một lát đã, Dele,” Joe nói. Anh dìu Delia tới chiếc sofa, ngồi xuống cạnh vợ rồi quàng tay qua vai nàng. “Anh hỏi thực em nhé, hai tuần qua em làm gì hả Dele?” anh hỏi.

Delia lặng thinh trong giây lát, cặp mắt chan chứa một tình yêu nồng nàn và một thái độ cứng cỏi, kiên cường, đoạn lẩm nhẩm đôi lời một cách mơ hồ về Tướng Pinkney; nhưng cuối cùng nàng cũng cúi đầu nói ra sự thật, nước mắt đầm đìa, lã chã tuôn rơi. 

“Thực ra em chẳng kiếm được học sinh nào cả” Delia thú thật. “Nhưng em không chịu được cảnh phải để anh bỏ học; em đã xin được một chỗ làm, chuyên là áo sơ-mi, tại hiệu giặt là to lớn ấy ở Phố 24. Em nghĩ em đã phịa chuyện về Tướng Pinkney và Clementina rất cừ, phải không, anh Joe? Và sau khi một cô gái trong xưởng vô ý chạm chiếc bàn là nóng vào tay em chiều nay, suốt trên đường về nhà, em đã phải nghĩ cách bịa câu chuyện về món xúp thỏ xứ Wales. Anh không giận em chứ, anh yêu, Joe? Và nếu như em không kiếm được việc làm thì rất có thể anh cũng chẳng bán được các bức họa của anh cho ông già Peoria ấy.”

“Ông ta chẳng phải từ Peoria tới …” Joe chậm rãi nói.

“Mà ông ta từ đâu tới cũng chẳng thành vấn đề. Anh thông minh biết chừng nào, anh Joe ạ - bây giờ thì hôn em đi nào, anh Joe – mà điều gì đã khiến anh nghi ngờ rằng em không dạy nhạc cho Clementina nào?”

“Anh chẳng nghi ngờ gì cả”, Joe nói, “cho tới tận tối hôm nay. Chiều nay, anh cũng không nghi ngờ gì, anh chỉ gửi thứ bông xơ và dầu từ phòng máy lên cho một cô gái trên gác tay bị bỏng bàn là. Hai tuần nay, anh vẫn cho chạy máy trong xưởng giặt là đó mà.”

“Thế thì anh đã không …”, Delia thốt lên.

“Cả Ông già Peoria mua tranh,” Joe nói, “lẫn Tướng Pinkney đều là những sáng tác của cùng một thứ Nghệ thuật – nhưng người ta không thể gọi loại hình nghệ thuật này là hội họa hay âm nhạc được!”

Thế rồi cả hai ôm nhau cười ngất, và Joe lại nói:

“Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là…”

Đến đây Delia đã đặt tay lên môi anh không cho anh nói tiếp. “Không”, Delia nói, “chỉ cần nói Khi người ta yêu thế thôi”.

Điền Thanh
(dịch từ nguyên bản tiếng Anh nhan đề “A Service of Love”)
(271/09-11)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.

  • Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.

  • Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

  • LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.

  • LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.