Khi người ta yêu

10:32 26/09/2011
LGT: O. Henry là bút danh của William Sydney Porter. Ông sinh năm 1862 và mất năm 1910, cùng năm qua đời của Mark Twain.

Văn hào O. Henry - Ảnh: wikipedia

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if !mso]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

O.Henry là một nhà văn Mỹ đầy “sinh lực văn chương”, viết truyện ngắn nhiều tới mức người ta phải lập danh sách các truyện của ông theo thứ tự ABC để tra cứu cho tiện. Ông chuyên viết về sinh hoạt của những con người bình thường ở Thành phố New York. Ông là bậc thầy về lối kết cục bất ngờ gây ngạc nhiên: cốt truyện cứ phát triển, thắt dần, thắt dần rồi đột nhiên chuyển sang một tình huống mỉa mai, châm biếm, trùng khớp hoặc kết thúc đột ngột đến không ngờ. Đó chính là nghệ thuật độc đáo điển hình của O.Henry, và là một trong những nguyên nhân khiến người đọc phải nhớ mãi, phải suy ngẫm.



O. HENRY


Khi người ta yêu


Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả.

Đó chính là giả thuyết của chúng tôi. Câu chuyện này sẽ rút ra một kết luận từ đó, đồng thời cho thấy rằng giả thuyết này là không đúng. Đây là một điểm mới trong Logic và là một tiểu xảo điêu luyện trong nghệ thuật kể chuyện, một nghệ thuật còn lâu đời hơn cả Vạn lý trường thành ở Trung Hoa vậy.

Joe Larrabee ra đời trong căn nhà bằng gỗ sồi ở miền Trung Tây, nước Mỹ với nhịp đập của một tài năng thiên bẩm về nghệ thuật tạo hình. Lên 6, chú đã vẽ được bức tranh máy nước công cộng với một người vội vã bước qua. Tác phẩm của họa sĩ tí hon này đã được đóng khung, treo trong tủ kính của một cửa hàng dược phẩm bên cạnh một bông lúa mì có những dãy hạt không đều nhau. Hai mươi tuổi, anh rời quê lên New York, với chiếc nơ hai dải thắt trên cổ áo, và tất cả vốn liếng được gói ghém thành một bọc, còn thắt chặt hơn.

Delia Caruthers chơi dương cầm tại một ngôi làng trồng toàn thông ở miền Nam nước Mỹ, triển vọng tới mức họ hàng đã gom góp tiền bạc giúp cô lên miền “Bắc” để “ăn học thành tài”. Người ta chưa biết dung nhan của cô, nhưng đó chính là câu chuyện mà chúng tôi muốn kể cho các bạn nghe.

Joe và Delia gặp nhau tại một xưởng họa nơi một số sinh viên mỹ thuật và âm nhạc thường gặp gỡ nhau để bàn luận về hội họa ánh sáng và bóng tối, về Wagner, về âm nhạc, các tác phẩm của Rembrandt, các tuyệt tác, Waldteufel, giấy dán tường, Chopin và Oolong.

Joe và Delia đem lòng yêu nhau và cưới nhau trong một thời gian ngắn, vì như đã nói ở trên, khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả.

Anh chị Larrabee bắt đầu sống chung trong một căn hộ. Đó là một căn hộ đơn độc, y như cung La thăng bên tay trái cuối bàn phím dương cầm vậy. Nhưng họ vẫn hạnh phúc vì họ có nghệ thuật và họ có nhau. Và lời khuyên của tôi cho anh chàng thanh niên trẻ tuổi này là hãy bán tất cả những gì mình có, rồi đem cho người quản gia khốn khổ kia, để đổi lấy đặc ân được sống trong một căn hộ với nghệ thuật của anh và với Delia của anh.

Những người sống trong căn hộ sẽ xác nhận câu châm ngôn của tôi: hạnh phúc của họ là hạnh phúc duy nhất chân chính! Thương nhau trái ấu cũng tròn, trái lim cũng ngọt, bồ hòn cũng ngon, vì thế ngôi nhà của cặp uyên ương hạnh phúc không bao giờ quá chật chội cả - người ta có thể ngả cái tủ áo xuống làm cái bàn billard, biến cái mặt lò sưởi thành dụng cụ tập bơi thuyền, cái bàn viết thành một buồng ngủ dự trữ, cái giá để chậu rửa mặt thành chiếc dương cầm đứng, quây bốn bức tường lại với nhau, nếu họ muốn, với chàng và Delia của chàng vui vầy trong đó… Còn nếu không thì ngôi nhà phải thật rộng, thật dài, người ta vào qua eo biển Golden Gate, treo mũ ở mũi Hatteras, áo choàng ở mũi Cape Horn và bước ra qua bán đảo Labrador.

Joe học vẽ trong lớp của Thầy Magister vĩ đại - bạn biết tên tuổi của ông ta rồi đấy. Học phí của ông cao giá; bài học của ông nhẹ nhàng - những điểm nhấn mạnh của ông đã đem lại tiếng tăm cho ông. Còn Delia theo học dương cầm dưới sự hướng dẫn của Ông Rosenstock - bạn cũng đã biết tiếng tăm của ông ấy là người chuyên làm loạn bộ bàn phím của dương cầm.

Cặp vợ chồng trẻ sống vô cùng hạnh phúc, chừng nào họ còn tiền. Mọi cặp vợ chồng đều thế cả - nhưng tôi sẽ không cao giọng yếm thế nữa. Mục đích của họ được đề ra rất rõ ràng. Joe phải phấn đấu để nhanh chóng có khả năng sáng tác được tranh tới mức các quý ông lịch sự, với hai bên tóc mai mong mỏng nhưng ví tiền lại dày dày, phải tới túc trực tại căn hộ của anh, để có được đặc ân mua tranh của anh. Còn Delia thì phải điêu luyện về Âm nhạc tới mức có thể xem thường nó, để khi thấy các ghế hoặc các lô xem hòa nhạc trong nhà hát không bán được vé, nàng phải biết lập tức cảm thấy đau họng, ăn tôm hùm trong một phòng ăn riêng, và không chịu lên sân khấu biểu diễn nữa.   

Nhưng theo ý kiến của riêng tôi, tuyệt nhất vẫn là cuộc sống gia đình trong căn hộ bé nhỏ xinh xinh ấy - những cuộc trò chuyện ríu rít, líu lo, sau một ngày đi học về; những bữa ăn tối ấm cúng, và những bữa điểm tâm nhẹ nhàng, tươi mát; sự trao đổi cho nhau những hoài bão - những hoài bão được hòa quyện lẫn nhau, của người này quấn quít với người kia, không sao kể xiết; sự giúp đỡ cùng sự khích lệ lẫn nhau; và – xin bỏ qua cho sự vụng về chất phác của tôi nhé - cả món ô-liu nhồi thịt và bánh sandwich kẹp phó-mát vào lúc 11 giờ tối nữa chứ. 

Nhưng được một thời gian thì Nghệ thuật bắt đầu xuống dốc. Sự đời đôi khi vẫn thế, cho dù đôi khi người bẻ ghi xe lửa không ra hiệu như vậy. Mọi thứ đều ra đi mà chẳng có gì trở lại, như người đời vẫn nói. Tiền không đủ để trả học phí cho Thầy Magister và Ông Rosenstock. Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả. Vì thế, Delia cho biết nàng sẽ dạy nhạc, để cho nồi xúp có thể tiếp tục reo sôi trên bàn ăn.

Đã hai, ba ngày nay, nàng đi săn lùng học sinh muốn học nhạc. Một buổi tối nàng trở về nhà, mặt mày hớn hở.

“Anh Joe yêu quý,” nàng nói, hân hoan, vui sướng, “em đã tìm được một học sinh rồi. Ôi, mà là người đáng yêu nhất! Đó là con gái Tướng A.B. Pinkney, trên Phố 71. Chà, ngôi nhà của họ mới đẹp làm sao, Joe ạ, giá mà anh được thấy cái cửa trước của nó nhỉ! Mỹ thuật Byzantine, em tin chắc thể nào anh cũng sẽ thốt lên như vậy. Còn nội thất bên trong nữa chứ! Ôi, anh Joe ạ, trước đây em chưa hề được thấy những thứ đó bao giờ”.

“Học trò của em là con gái Đại tướng, cô bé tên là Clementina. Em yêu cô bé kinh khủng. Đó là một cô bé tinh tế - bao giờ cũng mặc toàn trắng; còn phong cách thì vô cùng dịu dàng, giản dị! Cô bé mới 18 tuổi. Em sẽ dạy 3 buổi một tuần; và anh thử nghĩ xem, anh Joe! Chỉ có 5 đô-la một buổi. Thôi cũng không sao; vì khi em kiếm được thêm hai hay ba học sinh nữa, thì em lại tiếp tục đi học Ông Rosenstock. Bây giờ thì anh đừng cau mày, ưu tư nữa nhé, anh yêu, và ta cùng thưởng thức một bữa tối thật ngon nào”.  

“Dele, đối với em thế là ổn rồi,” Joe vừa nói vừa ra sức mở hộp đậu Hà Lan bằng một con dao phay và một chiếc rìu nhỏ, “thế còn anh thì thế nào? Em nghĩ rằng anh sẽ cam tâm để cho em lam lũ, bươn chải kiếm tiền, trong khi anh cứ rong chơi trên các nẻo đường phù phiếm của nghệ thuật được chăng? Không đời nào nhé! Anh thấy là anh có thể bán báo, hoặc đi lát đường, cũng đem về đôi ba đồng chứ.”

Delia chạy đến ôm choàng lấy cổ Joe.

“Ôi, anh Joe yêu quý của em, anh ngốc lắm! Anh phải tiếp tục học vẽ. Phải chăng em bỏ học nhạc và đi làm, chỉ vì một vấn đề gì đó khác ư? Trong khi em dạy là em vẫn học đấy chứ. Chẳng lúc nào em rời âm nhạc của em cả. Với 15 đô-la một tuần, chúng ta vẫn có thể sống ung dung như một ông hoàng. Anh không được nghĩ đến chuyện bỏ học Thầy Magister đấy nhé!”

“Thôi được,” vừa nói Joe vừa giơ tay với lấy chiếc đĩa sâu để cơi rau. “Nhưng anh không thích để em đi dạy học tí nào. Đó không phải là Nghệ thuật. Mà em sinh ra không phải là để làm những chuyện đó.”

“Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là quá khó khăn, nhọc nhằn cả.” Delia đáp.

“Thầy Magister khen nức khen nở bầu trời trong bức phác họa anh vẽ ở công viên,” Joe nói. “Và Tinkle đã đồng ý để anh treo hai bức trong số đó tại cửa hiệu của ông ấy rồi. Có thể anh sẽ bán được một bức nếu một gã giàu có, ngốc nghếch nào đó để mắt tới chúng.”

“Em đánh cuộc là anh sẽ bán được tranh,” Delia nói, giọng ngọt ngào. “Bây giờ thì ta hãy cảm ơn Tướng Pinkney và món bê thui này đã.”

Trong cả tuần sau đó, cặp vợ chồng Larrabees đều ăn sáng rất sớm. Joe thì rất say sưa về mấy bức phác họa cảnh bình minh mà anh vẽ trong Công viên Trung tâm, còn Delia chuẩn bị thức ăn cho Joe một cách nâng niu, chiều chuộng, cùng những lời tán dương, khen ngợi và những nụ hôn nồng nàn trước khi ra khỏi nhà vào lúc 7 giờ sáng. Nghệ thuật quả là một thiếu nữ duyên dáng, quyến rũ biết chừng nào! Còn Joe thì nhiều khi 7 giờ tối mới về tới nhà.

Cuối tuần, Delia kiêu hãnh một cách duyên dáng nhưng có vẻ uể oải, mệt nhoài, đặt một cách đắc thắng 3 tờ 5 đô-la lên chiếc bàn rộng 8x10 inches kê giữa căn phòng khách rộng 8x10 feet.

“Đôi khi,” Delia nói, giọng hơi mệt mỏi, “Clementina làm cho em phát mệt. Em ngờ rằng cô bé không chịu thực hành, em cứ phải nhắc đi nhắc lại một vấn đề không biết bao nhiêu lần. Và rồi lúc nào cô bé cũng mặc toàn đồ trắng, trông thật đơn điệu. Nhưng Tướng Pinkney thì quả là một ông già đáng mến thật. Ước gì anh được biết ông ấy nhỉ, anh Joe ạ. Thỉnh thoảng ông ấy có vào khi em đang đàn với Clementina – ông ấy góa vợ, anh biết đấy – chuyên đứng đó, tay vuốt chòm râu dê. “Tình hình nốt móc đôi và nốt móc ba tiến triển thế nào rồi, cô giáo?”, bao giờ ông ấy cũng hỏi như vậy.

“Ước gì anh được thấy ván ốp của căn phòng khách nhà ấy nhỉ, anh Joe ạ! Và cả những tấm thảm lông cừu Astrakhan nữa chứ. Mà Clementina có cái lối ho rất ngộ. Em hy vọng cô bé khỏe hơn cái bề ngoài còm nhom của cô ấy. Ồ, quả là em đã cảm thấy gắn bó với cô bé ấy rồi. Cô bé dịu dàng, và đài các biết nhường nào. Em trai của Tướng Pinkney đã từng làm Công sứ ở Bolivia đấy”.

Thế rồi đến lượt Joe, với dáng vẻ của một Monte Cristo, anh rút ra một tờ mười đồng, một tờ năm, một tờ hai, và tờ một đồng, rồi đặt chúng bên cạnh những đồng tiền do Delia kiếm được.

“Anh bán được bức tranh màu nước vẽ đài kỷ niệm cho một ông từ Peoria tới,” Joe tuyên bố, với dáng vẻ áp đảo.

“Đừng có rỡn với em nhá,” Delia nói, “chẳng có chuyện từ Peoria gì hết! ”

“Lặn lội từ Peoria tới thật đấy. Ước gì em được gặp ông ấy nhỉ, Dele ạ. Ông ta là một người to béo, quàng một chiếc khăn len to đùng, miệng ngậm một cái tăm xỉa răng bằng lông chim. Ông ta đã thấy bức phác họa tại cửa hiệu của Tinkle, lúc đầu ông ấy tưởng đó là một cái cối xay gió, thế nhưng ông ấy vui tính thật, mua luôn. Ông ấy còn đặt ngay một bức nữa - một bức phác họa sơn dầu vẽ Ga xe lửa Lackawanna - để ông ấy mang theo về Peoria. Những bài học âm nhạc! Ôi anh cho rằng Nghệ thuật vẫn còn lẩn khuất trong những bài học âm nhạc đó”.

“Em vui biết chừng nào vì anh vẫn tiếp tục học vẽ được,” Delia hồ hởi nói. “Anh nhất định phải thắng, anh yêu ạ. Ba mươi ba đô-la! Trước đây, chúng ta chưa bao giờ có nhiều tiền đến thế để mà xài. Tối nay, chúng ta phải thưởng thức món sò huyết mới được”.  

“Và cả món thịt thăn nõn om nấm nữa chứ”, Joe nói. “Em này, cái dĩa lấy ô-liu của nhà mình đâu rồi, em nhỉ?”.

Vào buổi tối thứ bảy sau, Joe về tới nhà trước tiên. Anh trải rộng 18 đô-la anh kiếm được lên trên bàn phòng khách, rồi rửa sạch hai bàn tay dính đầy sơn sẫm màu.

Nửa giờ sau, Delia về tới nhà, bàn tay phải bị buộc băng lung tung thành một bọc không ra hình thù gì.

“Thế này là thế nào?” Joe thắc mắc sau câu chào hỏi như thường lệ. Delia cười, nhưng không vui lắm.

“Clementina,” Delia giải thích, “cứ khăng khăng đòi ăn món thỏ xứ Wales sau khi học đàn xong. Cô bé quả là một cô gái kỳ quặc, lạ lùng. Đòi ăn món thỏ xứ Wales vào lúc 5 giờ chiều. Ngài Đại tướng cũng có mặt tại đó. Giá anh được thấy ông ấy chạy đi lấy cái lò hầm, anh Joe ạ, cứ như thể không có người giúp việc trong nhà vậy. Em thông cảm Clementina không được khoẻ lắm; cô bé vụng về biết chừng nào. Trong lúc múc món thỏ hầm, cô ấy đã đánh đổ nước canh sôi sùng sục lên tay và cổ tay em. Đau kinh khủng, anh Joe ạ. Cô bé rất lấy làm tiếc! Còn Tướng Pinkney nữa chứ! – Anh Joe ạ, ông già gần như hóa điên. Ông chạy vội xuống dưới nhà và sai một người nào đó - họ bảo đó là một người công nhân lò sưởi hoặc một người làm gì đó đang ở dưới tầng hầm - chạy ra hiệu thuốc để mua dầu và các thứ để băng cho em. Bây giờ em không còn cảm thấy đau đến thế nữa.”

“Thế đây là cái gì?” Joe vừa hỏi vừa nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay rồi rút mấy sợi tơ trắng dưới những lần băng gạc.

“Đó là một thứ mềm làm đệm, có tẩm dầu, “Delia nói. “Ồ, anh Joe, anh lại bán được thêm một bức nữa rồi đấy à?” Nàng đã nhìn thấy tiền để trên bàn.

“Sao cơ?” Joe nói; “cứ hỏi ông già ở Peoria thì biết. Hôm nay, ông ta đã lấy bức ga xe lửa rồi; ông ta còn không chắc lắm nhưng ông ấy nghĩ là ổng muốn có một bức phong cảnh công viên và một bức cảnh Vịnh Hudson. Mà chiều nay em bị bỏng tay lúc mấy giờ nhỉ, Dele?”.

“Vào quãng năm giờ gì đó,” Delia nói, giọng kể lể, than vãn. “Cái bàn là – à em muốn nói là lúc đó món thỏ hầm vừa mới bắc ra khỏi lò. Giá mà anh được thấy Tướng Pinkney nhỉ, anh Joe ạ, khi đó…”.

“Em hãy ngồi xuống đây một lát đã, Dele,” Joe nói. Anh dìu Delia tới chiếc sofa, ngồi xuống cạnh vợ rồi quàng tay qua vai nàng. “Anh hỏi thực em nhé, hai tuần qua em làm gì hả Dele?” anh hỏi.

Delia lặng thinh trong giây lát, cặp mắt chan chứa một tình yêu nồng nàn và một thái độ cứng cỏi, kiên cường, đoạn lẩm nhẩm đôi lời một cách mơ hồ về Tướng Pinkney; nhưng cuối cùng nàng cũng cúi đầu nói ra sự thật, nước mắt đầm đìa, lã chã tuôn rơi. 

“Thực ra em chẳng kiếm được học sinh nào cả” Delia thú thật. “Nhưng em không chịu được cảnh phải để anh bỏ học; em đã xin được một chỗ làm, chuyên là áo sơ-mi, tại hiệu giặt là to lớn ấy ở Phố 24. Em nghĩ em đã phịa chuyện về Tướng Pinkney và Clementina rất cừ, phải không, anh Joe? Và sau khi một cô gái trong xưởng vô ý chạm chiếc bàn là nóng vào tay em chiều nay, suốt trên đường về nhà, em đã phải nghĩ cách bịa câu chuyện về món xúp thỏ xứ Wales. Anh không giận em chứ, anh yêu, Joe? Và nếu như em không kiếm được việc làm thì rất có thể anh cũng chẳng bán được các bức họa của anh cho ông già Peoria ấy.”

“Ông ta chẳng phải từ Peoria tới …” Joe chậm rãi nói.

“Mà ông ta từ đâu tới cũng chẳng thành vấn đề. Anh thông minh biết chừng nào, anh Joe ạ - bây giờ thì hôn em đi nào, anh Joe – mà điều gì đã khiến anh nghi ngờ rằng em không dạy nhạc cho Clementina nào?”

“Anh chẳng nghi ngờ gì cả”, Joe nói, “cho tới tận tối hôm nay. Chiều nay, anh cũng không nghi ngờ gì, anh chỉ gửi thứ bông xơ và dầu từ phòng máy lên cho một cô gái trên gác tay bị bỏng bàn là. Hai tuần nay, anh vẫn cho chạy máy trong xưởng giặt là đó mà.”

“Thế thì anh đã không …”, Delia thốt lên.

“Cả Ông già Peoria mua tranh,” Joe nói, “lẫn Tướng Pinkney đều là những sáng tác của cùng một thứ Nghệ thuật – nhưng người ta không thể gọi loại hình nghệ thuật này là hội họa hay âm nhạc được!”

Thế rồi cả hai ôm nhau cười ngất, và Joe lại nói:

“Khi người ta yêu Nghệ thuật của mình thì dường như không có việc gì là…”

Đến đây Delia đã đặt tay lên môi anh không cho anh nói tiếp. “Không”, Delia nói, “chỉ cần nói Khi người ta yêu thế thôi”.

Điền Thanh
(dịch từ nguyên bản tiếng Anh nhan đề “A Service of Love”)
(271/09-11)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • OTTO STEIGER (THỤY SĨ)Ai cũng biết rằng cái tên Ruđenxơ tượng trưng cho sức mạnh và lòng dũng cảm, vậy mà nhân vật của chúng ta lại là một người nhút nhát. Có thể nói là từ lúc lọt lòng: mặc cho bác sĩ hầm hừ doạ nạt và bà đỡ cố công thúc đẩy, mãi ông chẳng chịu ra cho. Điều này để lại dấu vết trên diện mạo của ông. Khi rốt cuộc ông cũng được sinh ra và nhìn thấy thế gian buồn khổ này, trông ông xấu xí quá lắm, còn cái đầu thì rõ là chiếc bắp cải chứ không ngoa.

  • SLAWOMIR MROZEKSlawomir Mrozek sinh ngày 26 tháng 6 năm 1930, là nhà văn, kịch tác gia và hoạ sĩ tranh biếm hoạ nổi tiếng của Ba Lan. Năm 1953 tập truyện ngắn đầu tay của ông ra đời và bốn năm sau đó tập truyện Con voi được nhận giải thưởng của Tạp chí văn hoá.

  • ERNEST HEMINGWAYKhông ai có thể chỉ cho mọi người biết mình là thế nào rõ rệt hơn chính tôi làm việc đó. Không ai có thể giấu mình khỏi anh em đồng loại, bởi vì mỗi hành vi của con người, mỗi hành động của sáng tạo đều nói về tác giả của nó. Tôi kể hết cho mọi người biết mọi điều về tôi trong các cuốn sách của mình.

  • ANDRA NEYBURGA ()LGT: Nữ nhà văn Andra Neyburga sinh năm 1957. Tốt nghiệp Viện Hàn lâm Nghệ thuật Quốc gia Latvia, là người sáng lập tạp chí tiên phong của giới trẻ Latvia Mạch nguồn, chuyên viên tư vấn của Hội Nhà văn Latvia, phụ trách Hội tác giả trẻ (1987-1989). Tác phẩm của cô đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Châu Âu như Đức, Anh, Pháp, Nga...

  • ENYO IOGY TESHANSKY ()(Truyện cổ - có thể cho cả người lớn đọc)Mơ thường trái hẳn với thực, chẳng phải vậy sao? Trong mơ những mong ước thiêng liêng nhất của chúng ta đều được thực hiện. Khi ta mơ thấy được vàng ấy là khi trong đời ta không một xu dính túi. Nói gọn lại, tương tự như ví dụ này, bạn có thể dễ dàng hình dung tình hình chính trị và xã hội của Xứ Mơ là thế nào.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)Tôi ngồi trong quán cà phê, cũ, vắng, và đang uống cốc nước chè của mình, bỗng tôi thấy có một vật mà ta có thể gọi là người tí hon đang đi ngang qua mặt bàn.

  • Mẹ tôi làm nghề phù thủy. Bà có thể chế thứ thuốc nước để làm sáng mắt hay để làm nóng dạ con. Bà biết cách thụt rửa âm đạo để có con trai như ý muốn hay chế một liều thuốc độc để tẩy những đứa trẻ không được mong muốn sinh ra. Ngoại trừ những lúc cấp bách, bà tự hái thuốc và lấy những phần thân thể động vật, tôi không được phép giúp bà.

  • LGT: Tác giả có cách dẫn dắt truyện bất ngờ, lôi cuốn nhờ chọn lựa một chi tiết vừa là nhan đề hay: “Cánh cửa sổ mở”. Từ đó trộn lẫn thực tại với ảo giác qua lời “bịa như thật” với lôgích tưởng tượng tuyệt vời. Điểm đặc sắc là cách xây dựng cấu trúc nhân vật theo kiểu thôi miên nạn nhân bị suy nhược thần kinh của một cô gái tinh nghịch có trí tưởng tượng bịa chuyện lạ kỳ.Chính việc lựa chọn điểm nhìn trần thật bên trong của nhân vật Framton dọc suốt 2/3 truyện với sự ngây thơ dễ tin của anh tạo nên một kết thúc bất ngờ hài hước.                                        BỬU NAM giới thiệu

  • (tiếp theo phần 1)

  • Hanan Al Shaykh sinh ra trong một gia đình theo đạo Hồi ở Libăng. Bà lớn lên ở Beirut và sau đó học tại Cairo; là một phóng viên có tiếng ở Beirut và Cairo . Bà lấy chồng là một kỹ sư người Libăng theo đạo Thiên chúa giáo và có hai con. Từ năm 1982 do nội chiến nên họ chuyển tới sống ở London . Bà đã viết ba tiểu thuyết được hoan nghênh nồng nhiệt, Câu chuyện của Zahra, Những người đàn bà của cát và Myrrh. Truyện Myrrh đã được thời báo Publisher's Weekly chọn là một trong số 50 cuốn sách hay nhất năm 1992, và gần đây nhất bà xuất bản cuốn Những nữ học giả ở Beirut . Bà còn là tác giả của một số tập truyện ngắn.

  • - Coi nào, tạm biệt Jerry! Chăm sóc tốt bà chủ nhé. Phải vâng lời, đừng sủa bậy, đừng có hơi một tí là cáu nghe chưa. Tao sẽ báo cho mày khi nào tao về và mày phải chịu trách nhiệm cái nhà này khi tao vắng mặt đó.

  • Maisa thích những cái cây đó dù cô không biết chúng tên gì và cũng không tính xem chúng có bao nhiêu nữa. Các thân cây quyện vào nhau rồi lại tách ra, tán lá xoè xuống trải rộng trên mặt đất, những cái lá hình nón xào xạc trong cơn gió chiều.

  • LTS: Jhumpa Lahiri, sinh ở London trong một gia đình người Belgali (Ấn Độ), lớn lên ở đảo Rhode, hiện sống tại New York . Truyện “Người dịch bệnh” được rút từ tập truyện ngắn Interpreter of Maladies là tác phẩm đầu tay của cô, đã được giải Pulitzer 2000 cho thể loại truyện hư cấu, giải của báo New Yorker cho sách đầu tay hay nhất. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu.

  • 1Anh trở về nhà dọc theo con phố của một thành phố nhỏ ở Czech, nơi anh đã mấy năm sống bình lặng, quen chịu những người hàng xóm hay chuyện và cảnh tục tằn đơn điệu tại công sở - anh bước đi không để ý gì xung quanh (như người ta đi trên con đường đã qua lại trăm lần) và suýt nữa thì ngang qua chị mà không biết.

  • “Chính anh đã cho em biết tình yêu là gì”.      Herman Hesse

  • Ở miền Nam Thái Bình Dương xa xôi kia có hai hòn đảo nằm cạnh nhau tên là Nurabandi và Kiniwata.

  • Một truyện ngắn của nhà văn Mỹ, đoạt giải Nobel đầu tiên của nền văn học này vào năm 1930, nhà văn Sinclair Lewis, với truyện “Ông trẻ Axelbrod vào Đại học” do dịch giả và nhà nghiên cứu văn học Phan Quang Định dịch. Các bạn sẽ thưởng thức tài năng viết truyện ngắn của nhà văn này, bên cạnh tài năng viết tiểu thuyết của ông.