Huế trong dòng tự sự của 3 nhạc sĩ

09:09 23/04/2008
...người sáng tác phải dày công và phải có trình độ uyên thâm để xử lý những chất liệu đó và biến nó thành của mình nhưng lại phải mang được hơi thở của cuộc sống hiện đại...


è  Nhạc sĩ  HÀ SÂM: VỚI TÔI, HUẾ ĐÃ LÀ QUÊ HƯƠNG
Buổi sáng. Gió từ mặt hồ Tĩnh Tâm ngan ngát. Quán cà phê phía bên kia đường mở nhạc rất nhẹ. Hình như có tiếng chim hót đâu đó trong khuôn viên nhà ông. Tác giả của “Tạm biệt Huê” (phỏng thơ Thu Bồn), “Hợp xướng Sông Hương”, “tốp đàn tranh Lý Huế”, “giai điệu Phụng vũ”, “độc tấu sáo Huế”... giáo sư - nhạc sĩ Hà Sâm không có vẻ bận rộn lắm. Ông là một trong những người có nhiều đóng góp không chỉ cho Huế mà cả cho dải đất miền Trung trong lĩnh vực âm nhạc và đào tạo. Và bây giờ là quãng thời gian lắng lại của ông sau bao nhiêu năm tháng miệt mài. Dù nghỉ hưu đã vài năm, ông vẫn bận rộn với sáng tác, nghiên cứu, biên soạn, viết giáo trình... Và giọng ông thật hiền với những âm sắc pha giữa Bình Định và Huế khi bảo:
“Viết về Huế khó lắm...Nhưng tôi đã gắn bó và yêu quý mảnh đất này. Với những tác phẩm viết về Huế, kể cả ca khúc và khí nhạc, tôi luôn trăn trở để làm thế nào tác phẩm của mình mang được hơi thở của Huế. Muốn thế phải hiểu được phong tục tập quán của Huế, phải có sự tìm hiểu sâu về nguồn gốc, về âm nhạc dân gian vì mỗi vùng có một  sắc thái riêng mà điều đó thì ở Huế lại đậm đặc và có nhiều luồng văn hóa quyện lại. Do đó tôi nghĩ, người sáng tác phải dày công và phải có trình độ uyên thâm để xử lý những chất liệu đó và biến nó thành của mình nhưng lại phải mang được hơi thở của cuộc sống hiện đại”.
Im lặng một thoáng rồi ông bảo: “Với tôi, Huế đã là quê hương và tôi thích sống kiểu của người Huế. Một cách sống thủy chung, khiêm tốn, ít nói và uyên thâm. “Huế khúc ca xuân” với chất liệu ai, bình là tác phẩm mà tôi rất tâm đắc. Tôi cũng rất thích câu “Nắng phương này mà mưa tím phương kia” trong bài Gửi lại cho ai của Trần Dạ Lữ, tác phẩm này tôi vừa phổ nhạc. Có lẽ chỉ có người Huế thì mới nói như thế, mới nghĩ như thế...”
- Là người sáng tác nhiều cho các dàn đồng ca, hợp xướng, các nhạc cụ dân tộc dựa trên chất liệu, âm điệu của Huế, Giáo sư nghĩ gì về thể loại này khi việc phổ biến nó không dễ, lại rất kén khán giả, nhất là ở Huế ?
Lại im lặng. Rồi ông trầm ngâm: “Tỉnh mình còn nghèo và còn có bao nhiêu việc phải làm. Nhưng nếu có điều kiện đầu tư vào để có những tác phẩm dài hơi - tất nhiên là phải có sự đề xuất với những kế hoach, biện pháp cụ thể thì anh em mới viết được. Cũng như nhiều anh chị em khác, bản thân tôi viết với tấm lòng, với những xúc cảm của tâm hồn và không đặt nặng vấn đề này nhưng chúng tôi sẽ vui hơn nếu được quan tâm, động viên...
Không phải là Huế mình thiếu người viết mà điều quan trọng là vấn đề đầu tư như thế nào? Tôi nói điều này với một suy nghĩ và tình cảm rất chân thành và mong muốn Huế  có những tác phẩm mang tính tầm cỡ, không chỉ ở lĩnh vực âm nhạc...”
Thực hiện một tác phẩm giao hưởng phát triển trên nền nhạc cung đình dành cho dàn nhạc dân tộc. Ông nói với tôi rằng, đó là điều mà ông ấp ủ đã lâu và ông sẽ cố gắng hoàn thiện nó trong quãng thời gian sắp tới. Nhưng tôi biết, đó mới chỉ là một trong rất nhiều dự định được nói thành lời. Bàn tay của ông lật từng trang đang viết dở. Không hiểu vì sao tôi lại nghĩ đến những âm thanh sẽ rung ngân và dào dạt chảy...

è Nhạc sĩ  VĨNH PHÚC:  ĐIỀU MÀ TÔI TRĂN TRỞ NHẤT LÀ Ở KHÍ NHẠC
Anh là một người còn trẻ. Lại rất hiền và đẹp trai nữa (nếu được nói thêm). Nhưng bên cạnh rất nhiều những ca khúc về Huế được nhiều người nhớ, nhiều người hát như “Tơ vương”, “Huế gọi tôi về”, “Khúc hò khoan trên sông Hương”...nhạc sĩ Vĩnh Phúc còn nhiều tác phẩm khí nhạc đậm chất Huế và giàu bản sắc được dàn dựng, được giải của Hội Nhạc sĩ Việt Nam như “Dòng sông tơ vương”, “Ký ức Cố đô”, “Một nét xuân” và gần đây nhất là “Tứ bình”. Anh còn tham gia rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu, sưu tầm về nghệ thuật dân gian. Điều làm tôi nhớ nhất ở anh là sự chân tình, nụ cười cởi mở và một niềm hạnh phúc tràn trề khi nói về cô con gái bé bỏng và gia đình nhỏ của họ. Nhưng rồi giọng nói cởi mở ấy chợt có một chút gì đó như thắc thỏm:
“Các nhạc sĩ ở Huế viết về Huế rất nhiều nhưng rồi cũng chìm đi thôi vì thường chỉ được ca sĩ hát, thu đài một lần rồi cũng quên chứ không được in thành băng cát - sét, thành đĩa CD để công chúng có thể sử dụng lâu dài. Có chăng chỉ ở một vài hội diễn quần chúng nào đó...
Tôi vừa có một bài phổ thơ Hồ Thế Hà, bài “Huế gọi tôi về” (
và anh hát Không phải mùa thu vàng/ Không phải mùa phượng cháy/ Nhớ thương sâu thẳm gọi tôi về/ Huế mùa đông...) Bài này cũng dùng chất liệu Huế nhưng sẽ làm cho nó nhạt đi và đưa tiết tấu trẻ trung vào một tý. Bài này tôi đã thực hiện xong (cười với một chút buồn thật nhẹ)  nhưng cũng chưa có điều kiện để phổ biến...
Điều mà tôi trăn trở nhất là ở khí nhạc. Không chỉ ở Huế mà ở cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, việc phổ biến khí nhạc cũng rất hạn chế. Ở Châu Âu thường có những nhà hát dành riêng cho một đối tượng khán giả thích nhạc cổ điển. Tôi nghĩ, dù thế nào đi nữa thì khí nhạc cũng có đối tượng riêng của mình. Tôi cũng nghĩ phát triển nền âm nhạc của Việt mà chỉ áp đặt âm nhạc Tây phương vào không thôi là không đúng. Nhưng chúng tôi chưa khi nào thôi nghĩ đến việc Huế sẽ có một dàn nhạc giao hưởng, dàn nhạc dân tộc riêng của mình...
Năm nay tôi đang dự định viết một giao hưởng gồm 4 chương và đặt cho nó một cái tên rất phổ biến là “Huế xưa và nay”. Đây cũng là kế hoạch nằm trong chương trình học cao học của tôi sẽ kết thúc vào năm 2002. Quan điểm của tôi khi thực hiện tác phẩm này dùng dàn nhạc phương Tây nhưng viết cho âm nhạc dân tộc, cho nhạc cung đình Huế. Đây là một tác phẩm mang tính sáng tạo và thử nghiệm”.

è Nhạc sĩ VIỆT ĐỨC:  HUẾ - NGUỒN CẢM HỨNG SÂU ĐẬM VÀ MÃNH LIỆT
Tôi đã gặp anh trong rất nhiều cương vị khác nhau. Có lúc là một biên tập viên chương trình âm nhạc, văn hóa nghệ thuật của HTV, người dẫn chương trình một đêm nhạc, phát thanh viên cho một phim tài liệu, một phóng sự, một giảng viên khoa Lý luận sáng tác Trường Đại học Nghệ thuật Huế và gần đây nhất là ở cương vị giám đốc Nhà hát cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế). Nhưng tôi vẫn muốn gọi anh là Việt Đức - nhạc sĩ của những bản tình ca thấm đẫm chất Huế trong Huế nhịp phách tiền, Hương Huế, Màu Huế, Tìm em trong nét Huế...
Vậy mà, khi có một đề nghị, anh chỉ nói đơn giản:
“Tôi nghĩ Huế luôn là mảnh đất hết sức màu mỡ, một vùng nguyên liệu để các nhạc sĩ sáng tác và khai thác. Chính vì vậy mà trước 1975 đã có rất nhiều tình khúc hay về Huế và có những tình khúc đã đi theo cùng năm tháng, ví dụ “Đêm tàn Bến Ngư”, “Tiếng xưa”, “Mưa trên phố Huế”, “Tình ca xứ Huế”... và sau 1975 cũng có rất nhiều nhạc sĩ trong cả nước viết về Huế , kể cả những người đã ra nước ngoài  như “Rất Huế” của Võ Tá Hân, “Huế thương” của An Thuyên, “Dòng sông ai đã đặt tên” của Trần Hữu Pháp, “Tình yêu gửi Huế” của Trương Tuyết Mai...và còn rất nhiều ca khúc, tình khúc khác chưa được vang lên trên sóng phát thanh, truyền hình cũng như đang còn nằm trong ngăn kéo... Là một người gắn bó với Huế gần 20 năm và cũng rất yêu âm nhạc Huế cũng như vùng đất này, tôi nghĩ rằng, Huế luôn mới, đặc biệt là đối với âm nhạc và thơ ca...
Tôi nghĩ rằng, các nhạc sĩ Huế ở đây đều có thể làm được một CD riêng hoặc chí ít là một đêm “tác giả, tác phẩm”, nhưng họ lại đang chịu rất nhiều thiệt thòi khi không thể thực hiện được một điều gì vì không có điều kiện, không có môi trường...
Khi thực hiện chuyên mục “Tình khúc Huế” trên báo Thừa Thiên Huế (mà tôi cộng tác được hai năm), thì tôi  nghĩ cũng vẫn một đề tài về Huế thôi mà sao mỗi bài là một màu sắc khác nhau, một ý tưởng khác nhau, một cái gì đó thật mơ mộng và có đến ngàn triệu lần huyền diệu trong cái mơ mộng đó. Chính vì vậy mà tôi nghĩ rằng, “Tình khúc Huế” sẽ còn nhiều, và điều đó chính là nhờ các nhạc sĩ vẫn viết về Huế với một sự thôi thúc mãnh liệt...”


HẠNH NHI
(nguồn: TCSH số 144 - 02 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TÔ HOÀNGBạn chắc không thể không biết đến đến hai tên tuổi này: Brigitte Bardot và Francoise Sagan. Vẫn mãi còn đó những hình tượng khó quên mà Brigitte Bardot dành cho màn ảnh, những trang sách khó quên mà Francoise Sagan dành cho văn học. Hai người sinh ra cùng thời, nhưng với tháng Chín năm 2004 này nếu chúng ta chúc mừng Brigitte tròn 70 tuổi, thì lại đau đớn, nuối tiếc vĩnh biệt Francoise Sagan ra đi ở tuổi 69...

  • Cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao luôn là những bí ẩn đối với hậu thế. Ai sẽ là người dựng lên được một Văn Cao - một trong những tượng đài của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, nhưng cũng là một con người của cuộc đời thực với những vui buồn, đớn đau, hạnh phúc...?

  • NGUYỄN KHẮC PHÊLần này, tác giả bộ trường thiên tiểu thuyết viết về thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ "Sông Côn mùa lũ" (SCML) trở lại thăm nơi vua Quang Trung lên ngôi khi Huế vừa sang thu. Nước sông Hương do những trận mưa đầu mùa trên đại ngàn cuốn đất bùn con đường lớn Trường Sơn vừa xẻ rộng tràn về, không còn trong xanh như dịp ông về thăm Huế mùa hè hai năm trước, nhưng Cố đô qua hai kỳ Festival, nhiều khu phố được tôn tạo, khang trang hơn nhiều. (*)

  • VĂN THAOTháng 10-1944, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác bài hát Tiến quân ca trên một căn gác nhỏ tại số nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền. Căn gác này cũng là nơi Văn Cao đã sống và hoạt động cách mạng từ năm 1944 đến ngày toàn quốc kháng chiến 22-12-1946. Đội danh dự Việt Minh do Văn Cao phụ trách cũng từ đây toả đi làm nhiệm vụ. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như các đồng chí Vũ Quý, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Thành Lê... cũng đã thường xuyên dùng địa điểm này để hoạt động trong những năm đầu cách mạng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của Văn Cao như: Bài thơ Chiếc xe gác qua phường Dạ Lạc; các ca khúc Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam đã ra đời tại đây.

  • VĨNH NGUYÊNHội VHNT Thừa Thiên Huế chủ trương đưa văn nghệ sĩ về bám sát thực tế địa phương, vùng sâu vùng xa, nên những năm gần đây đã liên tục mở trại sáng tác ở các huyện trong tỉnh. Các năm trước là Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ và năm 2004 này là Phú Lộc.

  • PHAN THÀNH TRUNGMột ngày đẹp trời. Lễ mừng thọ cụ Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi được tổ chức vui vẻ, trân trọng tại Chòi ngắm sóng Hồ Tây, đúng vào ngày kỷ niệm Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 1992. Với danh nghĩa là em kết nghĩa của cụ Đang, Phùng Cung và Phùng Quán đã đứng ra tổ chức lễ thọ này. Hai nhà thơ vốn quen tính vui đùa dí dỏm đã gọi hóm là “Mừng sống dai”...

  • “Cụ Hồ Chí Minh được nhân dân rất quý mến. Tên cụ có nghĩa là “sáng suốt”. Cụ là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà chiến lược Cách mạng, một người yêu nước nồng nàn. Cụ đã nêu gương chính nghĩa và đạo đức cho thế hệ thanh niên noi theo” (Nhà báo Mỹ - Starôbin)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊNếu không có nghị lực hơn người, nhà giáo ưu tú - nhà nghiên cứu Văn Tâm đã bước sang thế giới khác từ 7- 8 năm trước rồi, sau cơn tai biến mạch máu não “thập tử nhất sinh”. Nhờ kiên trì tập luyện và đủ thứ thuốc men, từ bên “cửa tử”, dần dần anh đã “phục sinh” và với cây gậy ngắn để có thể tự đi lại trong nhà khi cần lục tìm tư liệu, cây bút nghiên cứu phê bình cẩn trọng mà không thiếu sự sắc sảo Văn Tâm đã cống hiến cho nền văn học chúng ta những tác phẩm dày dặn và thật sự có chất lượng: “Đoàn Phú Tứ - con người và tác phẩm” (1995, tái bản 2002), “Vườn khuya một mình” (2001), “Tản Đà khối mâu thuẫn lớn” (2003 - Tái bản, bổ sung). Một số bài nghiên cứu gần đây của anh về nhà văn Phùng Quán và nhà thơ Bằng Việt đăng trên “Sông Hương” cũng rất công phu, đồng thời vẫn thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận vẻ đẹp của văn chương.

  •        (Trích) Lê Mỹ Ý: Thưa ông, đã từng là "Người đi tìm mặt " trong thơ, đến bây giờ ông đã tìm được khuôn mặt của mình chưa?Hoàng Hưng: Tôi thấy rằng cái mặt của tôi, bản thân cái mặt đó nó cũng không phải là một cái mặt và cũng không phải là bất biến qua thời gian, ngay cả trong từng lúc nó cũng không chỉ là một cái mặt mà nó có đến vài cái mặt. Qua thời gian lại càng có sự diễn biến. Việc đi tìm cái mặt của bản thân thực ra có những người không bao giờ thấy cả, tức là không biết mình như thế nào.

  • Tháng 4 năm 1988, khi đang chữa bệnh ở chùa Pháp Hoa (Đồng Nai), trong một bức thư gửi bạn, nhà văn Nguyễn Minh Châu tâm sự rằng ông vẫn thèm viết tiếp một bài về vấn đề “Nhà văn và sự nghiệp dân chủ hóa đất nước” Nhưng rồi bệnh ngày càng nặng khiến ông cho đến khi qua đời đã không thực hiện xong dự định. Tuy vậy đồng nghiệp và bạn đọc vẫn may mắn được biết ý kiến căn bản của ông về vấn đề này.

  • VÕ THỊ QUỲNHĐến Hội Văn nghệ một chiều xuân Giáp Thân, tết còn đỏ hạt dưa, còn thắm mai vàng, còn hồng hoa đào và còn lủng lẳng tròn trịa những quả quất trĩu cành - chúng tôi tưởng nhớ anh - nhà thơ luôn dịu dàng, luôn hiền hoà: XUÂN HOÀNG. Bao kỷ niệm một thời nhà thơ sống gắn bó sáng tạo với Bình Trị Thiên, với Huế lại ùa về trong lòng những người đến thắp hương kính viếng hương hồn anh - chiều nay...

  • VÕ QUÊNhững ngày đầu xuân Giáp Thân, giới văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế vô cùng thương tiếc khi nghe tin nhà thơ Xuân Hoàng đã từ trần vào ngày mồng 3 Tết (24.1.2004) tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đi của nhà thơ Xuân Hoàng là một tổn thất lớn đối với phong trào văn học của khu vực Bình Trị Thiên ruột thịt và của cả nước.

  • HỒ THẾ HÀ Ngày thơ Việt Nam chính thức được mang tên, đến nay, đã tròn một năm. Một năm là khoảng thời gian rất ngắn, nhưng trong ý nghĩ và dự cảm của mọi người suốt dòng chảy văn hoá, để thi ca trở thành hiện thực như hôm nay là một quá trình trải nghiệm của lịch sử và truyền thống lâu dài của dân tộc Việt Nam-một dân tộc yêu thi ca, có tiềm năng, trữ lượng và những giá trị thi ca không bao giờ vơi cạn.

  • PV: Là một nhà văn nổi tiếng với những tập truyện ngắn Người sông Hương, Làng thức... và các tiểu thuyết Ngoại ô, Dòng sông phẳng lặng (3 tập), Phía ấy là chân trời... những đứa con tinh thần của anh ra đời gần như tập trung liên tục trong khoảng hơn mười năm (trước và sau 1975). Trừ một số bài viết ngắn đăng ở báo và tạp chí, nếu tôi không nhầm thì, tác phẩm gần đây nhất của anh, tiểu thuyết Phía ấy là chân trời, hình như xuất bản từ năm 1988? Tại sao anh "dừng lại" đột ngột và lâu như vậy?Tô Nhuận Vỹ (TNV): Với lý do gì đi nữa thì việc "tịt đẻ" lâu như vậy cũng là chuyện chẳng hay gì đối với một nhà văn. Trong thời gian tôi "tạm dừng" đó, nhiều tác giả bạn bè tôi đã lao động miệt mài, "đẻ" hàng chục "đứa con tinh thần" rồi đó.

  • NGUYỄN ĐÌNH SÁNGNăm 1975, lần đầu tiên tôi gặp nhạc sỹ Trần Hoàn tại Hà Nội. Lúc đó, tôi đang an dưỡng tại Ban thống nhất Trung ương và có ý định xin về Huế công tác. Nhà thơ Cù Huy Cận Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin lúc bấy giờ đã bảo tôi đến gặp nhạc sỹ Trần Hoàn để trình bày nguyện vọng. Anh tiếp tôi với một ngôn ngữ hết sức dân dã, mang đậm chất miền trung. Anh hỏi: “Mi quê mô?” Tôi thưa cùng anh: “Em người Quảng Trị.” Anh hỏi tiếp: “Rứa mi học cái chi?” Tôi thưa: “Em học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội.” Anh nheo mắt cười và trả lời: “Đồng ý! Lên Bộ Văn hoá làm quyết định rồi về công tác. Trong miềng chừ nhiều việc lắm...”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOTôi biết nhạc sĩ Trần Hoàn vĩnh biệt cõi trần vào lúc 5 giờ 6 phút ngày 23 tháng 11 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, nhờ cú điện thoại của một nhà báo gọi đến đặt bài. Đã mấy hôm nay biết ông hôn mê sâu, khó qua khỏi mệnh trời, nhưng khi nghe tin ông qua đời, tôi vẫn chưa tin là ông đã mất.

  • NGUYỄN TUYẾN TRUNGLâu rồi tôi mới có dịp đến thăm nhạc sĩ Mai Xuân Hoà và cô giáo Nguyễn Thị Hồng - hai vợ chồng đều đã nghỉ hưu, vẫn ở tại số nhà 71 đường Bến Nghé thành phố Huế.

  • HỮU THUTrong suốt ba nhiệm kỳ đảm đương cương vị Bí thư Tỉnh uỷ, với anh chị em làm báo, chú Vũ Thắng thường dành cho những ưu ái, đó là có thể gặp gỡ vào bất cứ lúc nào, dù ở cơ quan hay nhà riêng. Do vậy mà ngôi nhà cũ ở đường Mai Thúc Loan quá đỗi thân thiết với nhiều người làm báo, trong đó có tôi.

  • VÕ QUANG YẾNỞ Pháp ngưòi ta thường bảo một con chim én không đủ để báo mùa xuân. Tôi thì tin một nữ sĩ có thể chiếu sáng một chiều thu lá vàng mưa bay nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể là nữ sĩ ấy. Chị là thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, ái nữ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị.

  • NGUYỄN HUY THẮNGNhững ngày đầu tháng 12-1954, người dân Hà Nội và khắp các vùng xung quanh nô nức kéo đến Nhà hát Nhân dân xem “văn công”. Văn công là từ bấy giờ dùng để chỉ những buổi biểu diễn văn nghệ trên sân khấu nói chung. Nhưng đợt “văn công” cuối năm 54 ấy mang một tính chất đặc biệt, vì là một đại hội có quy mô lớn (Đại hội Văn công toàn quốc), từ kháng chiến về, lần đầu tiên ra mắt công chúng Thủ đô vừa thoát khỏi ách tạm chiếm.