Hội Văn nghệ kháng chiến Thừa Thiên

09:36 26/10/2020

Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (18/9/1945 - 18/9/2020)

DƯƠNG PHƯỚC THU

Tạp chí văn chương Quốc Kêu xuất bản tháng 5 năm 1948 ở Thừa Thiên

Sau ngày Huế vỡ mặt trận, đầu tháng 3 năm 1947, tất cả các cơ quan đoàn thể cách mạng của tỉnh Thừa Thiên được lệnh phải rút dần lên vùng rừng núi xây dựng căn cứ, lập chiến khu kháng chiến. Trước sức tấn công dữ dội, càn quét khốc liệt của thực dân Pháp, để bảo toàn lực lượng, trong quá trình rút lui, nhiều tổ chức đoàn thể, cơ quan hành chính cách mạng buộc phải chia nhỏ hoặc tạm thời giải thể. Trong bối cảnh ấy, Liên đoàn Văn hóa Cứu quốc Thừa Thiên (tiền thân của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế ngày nay) được thành lập từ ngày 18/9/1945 và chỉ mới hoạt động được hơn một năm cũng đành phải giải thể, chuyển một số bộ phận cần thiết sang Ty Thông tin. Trước tình thế chiến tranh ác liệt ngày càng lan rộng, nhiều văn nghệ sĩ vẫn ở lại Thừa Thiên gác tạm bút để làm giao liên hoặc trực tiếp cầm súng chống Pháp, và cũng có nhiều văn nghệ sĩ được lệnh sơ tán ra vùng Thanh Nghệ Tĩnh. Chỉ một thời gian, số văn nghệ sĩ ở vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh nhanh chóng tập hợp lại để thành lập một tổ chức mới: Hội Văn nghệ kháng chiến khu IV.

Do yêu cầu của cách mạng, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 3 năm 1948, Ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ kháng chiến khu IV do các nhà văn Đặng Thai Mai, Nguyễn Xuân Sanh, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Đức Quýnh cùng phụ trách đã tiến hành tổ chức Hội nghị lần thứ I - do tính chất và nội dung quan trọng của Hội nghị này được xem như Đại hội. Ngoài số đại biểu chính thức, Hội nghị được đón các vị đại diện cho các cơ quan chính quyền và đoàn thể như: cụ Hồ Tùng Mậu, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính khu IV; cụ Nguyễn Đình Ngân, Giám đốc Viện Văn hóa Trung Bộ; cụ Tôn Quang Phiệt, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội; cụ Võ Liêm Sơn, Chủ tịch Hội Liên Việt khu IV; cụ Trần Đình Đàn, Giám đốc Sở Bình dân học vụ Trung Bộ; ông Trung đoàn trưởng Hùng Sơn thay mặt bộ đội, v.v1

Hội nghị đã bầu một Ban Giám đốc, ra bản Tuyên ngôn, thành lập Đoàn Văn nghệ kháng chiến khu IV. Ban Giám đốc (tương tự như Ban chấp hành ngày nay) gồm: Bí thư đoàn có 3 vị: Đặng Thai Mai, Nguyễn Xuân Sanh, Trương Tửu và 4 Ủy viên: Đào Duy Anh phụ trách sưu tập tài liệu; Lưu Quý Kỳ, phụ trách xuất bản ấn loát; Nguyễn Lương Ngọc, phụ trách tài chính, phát hành; Nguyễn Đức Quýnh phụ trách kiểm tra, tuyên truyền.

Hội nghị thống nhất mời một Ban Cố vấn gồm: Về hội họa - Nguyễn Văn Tý; về âm nhạc - Lê Yến; về kịch nghệ - Nguyễn Tuân.

Đại diện Đoàn Văn nghệ khu IV ở các tỉnh: Nghệ An - Nguyễn Đức Thuyết; Hà Tĩnh - Bùi Hiển; Quảng Bình - Dương Tử Giang; Quảng Trị - Vĩnh Mai; Thừa Thiên - Lưu Trọng Lư.

Đoàn Văn nghệ kháng chiến khu IV bắt đầu hoạt động từ ngày 20 tháng 3 năm 1948. Chi nhánh của Đoàn ở các tỉnh có nhiệm vụ tổ chức những “cuộc gặp bạn”, thành lập đội nhóm ở cơ sở, động viên văn nghệ sĩ, báo chí đẩy mạnh sáng tác nhiều tác phẩm mới, tuyên truyền phục vụ kháng chiến.

Tháng 5 năm 1948, Hội Văn nghệ khu IV xuất bản tạp chí Sáng Tạo, số 1 cũng là số đặc biệt in toàn bộ nội dung về Hội nghị Văn nghệ kháng chiến lần thứ I, do Đào Duy Anh phụ trách, Nguyễn Xuân Sanh làm Thư ký tòa soạn.

Tại Thừa Thiên, suốt gần hai năm, từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 8 năm 1948, trên danh nghĩa Hội Văn nghệ không tồn tại. Lực lượng văn nghệ sĩ các ngành: thơ ca, nhạc họa, nhiếp ảnh, vũ kịch, tuyên truyền… được bố trí sang hoạt động dưới sự quản lý “lỏng lẻo” của Ty Thông tin Tuyên truyền.

Bước qua năm 1949, tình hình chiến trường Thừa Thiên có nhiều thay đổi, các lực lượng vũ trang cách mạng không ngừng lớn mạnh, đánh thắng nhiều trận lớn gây tổn thất cho địch, buộc chúng phải co cụm, đồn trú chủ yếu quanh thị xã Thuận Hóa. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và của Tỉnh ủy Thừa Thiên thông qua Đề án Dân vận2, các tổ chức đoàn thể cách mạng cấp tỉnh và huyện ở Thừa Thiên dần dần được thành lập trở lại.

Phong trào văn hóa, bình dân học vụ ở vùng chiến khu từng bước phát triển. Phong trào văn nghệ gây dựng sôi nổi bằng những hình thức ra báo tường, báo tay, hò hát, ca dao, diễn kịch, các buổi nói chuyện văn thơ, cử cán bộ đi về đồng bằng, xâm nhập vào vùng nông thôn làm cho đời sống tinh thần của nhân dân vùng địch tạm chiếm tin tưởng vào kháng chiến, hướng về cách mạng. Trước nhu cầu khẩn thiết phải tổ chức, tập hợp giới văn nghệ sĩ thành một lực lượng mạnh của cách mạng, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thừa Thiên quyết định phải thành lập Hội Văn nghệ.

Trong nhiều văn bản của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thừa Thiên gửi Ủy ban kháng chiến Liên khu IV, báo cáo tình hình tỉnh Thừa Thiên từ ngày 1/1 đến 31/10/1949, cho biết vào tháng 8 năm 1949, “Hội Văn nghệ kháng chiến Thừa Thiên cũng mới thành lập ở tỉnh và các huyện đều có Ban trị sự, đã tổ chức được nhiều cuộc nói chuyện và ra bích báo như ở Quảng Điền, Phú Lộc3.

Hội Văn nghệ kháng chiến tỉnh Thừa Thiên được thành lập tháng 8 năm 1949 tại chiến khu Khe Rệ, Hương Trà, kế tục vai trò của Liên đoàn Văn hóa Cứu quốc trước đó do tình hình chiến tranh phải giải thể. Vì tính chất hoạt động văn nghệ kháng chiến, Hội Văn nghệ cấp tỉnh cũng tổ chức thành Đoàn Văn nghệ kháng chiến. Dưới Hội cấp tỉnh, cả sáu huyện (trừ thị xã Thuận Hóa) đều có Ban Trị sự4 hoạt động theo mô hình Đoàn Văn nghệ kháng chiến khu IV.

Kể từ tháng 3 năm 1948 đến hết năm 1950, ở Thừa Thiên có hai tổ chức văn nghệ cùng hoạt động: Chi nhánh Đoàn Văn nghệ kháng chiến khu IV do Lưu Trọng Lư phụ trách một thời gian và Đoàn Văn nghệ kháng chiến tỉnh Thừa Thiên.

Để có tài liệu tuyên truyền ở nội thành và chuẩn bị cho Hội Văn nghệ kháng chiến thành lập, từ tháng 5 năm 1948, những người hoạt động văn nghệ bí mật đã cho xuất bản tạp chí văn chương Quốc Kêu, mỗi tháng ra một kỳ do nhà thơ Kim Quân làm Chủ bút, ông Hà Văn Tự làm Chủ nhiệm. Tên tạp chí ẩn dụ tiếng kêu của loài chim quốc thay cho tiếng kêu của người dân mất nước, mất tự do trong vùng địch tạm chiếm. Về sau Quốc Kêu chuyển lên chiến khu ra được trên 10 số, phát hành về đồng bằng, chuyển vào nội thành thị xã. Nội dung kêu gọi nhân dân một lòng hướng về kháng chiến, về cách mạng giải phóng dân tộc.

Đối với cấp huyện, Hội Văn nghệ kháng chiến Quảng Điền ra báo tay Hồn Quê; Hội Văn nghệ kháng chiến Phú Lộc ra báo tay có tên Mầm Non5, in thơ văn, hò vè đưa vào phục vụ nhân dân vùng tạm chiếm.

Hội Văn nghệ kháng chiến, thông qua lực lượng văn nghệ sĩ đã đóng góp vai trò quan trọng của mình bằng hình thức sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân kháng chiến kiến quốc.

Đánh giá về phần văn nghệ giai đoạn này, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên, họp tháng

5 năm 1950 đã khẳng định: “Nhân dân đã ham thích văn nghệ. Nền văn nghệ tuyên truyền cũng đã có đà, đang lên cao nhưng tổ chức hướng dẫn còn thiếu, chưa làm cho nó phát triển mạnh mẽ kết quả hơn”…

Kể từ đây, Hội Văn nghệ hay Đoàn Văn nghệ kháng chiến Thừa Thiên bước sang một giai đoạn mới, sáng tác phục vụ kháng chiến kiến quốc theo chủ trương mới: “Tích cực chuyển mạnh sang tổng phản công”, “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng thực dân Pháp”…


D.P.T
(SHSDB38/09-2020)

--------------
1. Tạp chí Sáng Tạo, số 1 ra tháng 5/1948.
2. Xem thêm Đề án Dân vận Hội nghị Tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên tháng 4/1949.
3. Phong tài liệu tỉnh Thừa Thiên trước 1954, tại kho Trung tâm lữu trữ VP Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.
4. Báo cáo của Ủy ban KCHC tỉnh Thừa Thiên, TL đã dẫn, tr. 21.
5. Báo cáo của Ủy ban KCHC tỉnh Thừa Thiên, TL đã dẫn, tr. 47.

 

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Chiều 15-4-89, 14 giờ. Phòng họp của Hội VHNT Bình Trị Thiên đã chật hết chỗ, nhiều người ngồi lên bậc cửa sổ.

  • HỒ VĨNH

    Nhà báo Nguyễn Cửu Thạnh sinh ngày 15/6/1905 tại Phú Hội, thành phố Huế. Thuở thiếu thời ông là người ngay thẳng, vui tính, thích văn chương nghệ thuật; ông bước vào nghề báo từ năm 1929 và tham gia hoạt động tích cực trong phong trào Mặt trận Dân chủ tại Huế và hoạt động báo chí do Xứ ủy Trung kỳ chỉ đạo.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ

    Trong lịch sử xây dựng tổ chức văn nghệ trên đất Cố đô Huế 70 năm qua, nơi ghi dấu nhiều sự kiện, nhiều kỷ niệm nhất hẳn là ngôi nhà 26 Lê Lợi, bên bờ nam sông Hương.

  • Đó là đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điếu văn linh mục Phạm Bá Trực.

  • Từ Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn, cụ Bùi Bằng Đoàn đã vượt qua những định kiến của thời cuộc, của chế độ cũ - mới để tham gia chính quyền cách mạng.

  • HOÀNG VŨ THUẬT
                    Bút ký

    Hồi ấy tôi cũng là ông giáo làng, sáng đi tối về. Chiến tranh như cái máy ủi đã san phẳng bất cứ thứ gì dựng lên trên mặt đất.

  • Văn Cao là một trong những nhạc sĩ thuộc lớp tiền bối của nền tân nhạc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt và hoà trộn với dòng chảy lịch sử của dân tộc. Nhiều tác phẩm của ông đã trở thành di sản âm nhạc quý báu của nước nhà. Trong đó, có tác phẩm Tiến quân ca - Quốc ca Việt Nam – mà ông là tác giả.

  • PHAN QUANG
                Hồi ký

    Vua Hàm Nghi ghé làng tôi. Vua nghỉ lại ở nhà tôi. Điều đó xảy ra một trăm năm về trước. Và nhà ấy là nhà của ông nội tôi.

  • Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Ngân Giang viết như một dòng sông tuôn chảy điều hòa. Bà là một hiện tượng trên thi đàn Việt Nam: người làm thơ liên tục dài năm nhất (từ 1922 tới khi bà qua đời- 2002), có số lượng thơ thuộc loại nhiều nhất (hơn 5.000 bài) có nhiều bài được truyền tụng (như Trưng nữ vương, Xuân chiến địa...)

  • KỶ NIỆM 68 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ (27/7/1949 - 2015)

    PHẠM HỮU THU 

    Trước khi ông Lê Sáu, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế qua đời, tôi may mắn được ông kể cho nghe nhiều chuyện, phần lớn là những ân tình mà đồng bào, đồng chí đã dành cho cách mạng trong những năm ác liệt của chiến tranh, nhất là những tấm gương lặng lẽ hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

  • PHAN NAM SINH

    Thầy tôi mất trưa hôm 16/1/1959 tại số nhà 73 phố Thuốc Bắc - Hà Nội. Sau khi cùng các anh chị tôi lo xong đám tang cho ông, mẹ tôi thu dọn tất cả số sách báo, sổ tay ghi chép, di cảo... của ông để lại vào trong hai chiếc va li loại lớn được ông mang về từ lần đi Trung Quốc dự lễ tưởng niệm 20 năm ngày mất của Lỗ Tấn.

  • Nhiều người Huế ngày trước thuờng ngâm nga câu hát: “ Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi/ Cô đi về đâu tan buổi học rồi?/ Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao/ Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba / Cô về Vĩ Dạ hay ngược Kim Luông/… Tôi mơ một bóng khi về đơn côi/ Áo dài dáng đẹp tóc còn buông lơi/ Ghi một kỷ niệm cuộc đời trong tôi”.

  • BÙI KIM CHI 

    Vào Thành nội, hai con đường nhỏ hai bên hông trường trung học Hàm Nghi có lá phượng bay, có vòm nhãn che đường làm nền cho ngôi trường uy nghi, bề thế nằm ở giữa. Trước cổng trường có con đường nhỏ chạy ngang qua với hai hàng mù u lấp lánh nắng vàng tươi chụm đầu vào nhau nghe và thủ thỉ chuyện học trò.

  • THÁI KIM LAN

    Từ xa nhận được hung tin Thầy nhập viện trong tình trạng nguy cập, tôi nôn nóng muốn về, hi vọng được gặp lại Thầy.

  • HƯỚNG ĐẾN KỶ NIỆM 70 NĂM HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ

    LÊ TRỌNG SÂM

  • 90 NĂM BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM(21/6/1925 - 2015)

    THANH NGỌC

    Sự hình thành và phát triển của Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) Thừa Thiên Huế kể từ khi ra đời đến nay đã gắn bó rất chặt với đời sống báo chí. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi những mầm xanh của VHNT rất cần được gieo trồng trên cánh đồng báo chí. Điều khác nữa, Huế - vùng đất từng là “thủ đô văn hóa” của cả nước, nơi báo chí phát triển cực thịnh mấy chục năm từ trước 1945 đến 1975, các nhà văn hoạt động mạnh mẽ trên lĩnh vực báo chí là lẽ đương nhiên.

  • TRANG ĐOAN

    “Một tiếng lôi đình kinh vũ trụ
    Tấm gương trung nghĩa động thần minh.”[1]

     

  • Nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối 19/5 kênh VTV1 đã trình chiếu bộ phim tài liệu: Hồ Chí Minh - Bài ca Tự do. Có thể khẳng định: đây là một trong những bộ phim tài liệu đặc sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà tôi đã từng được xem.

  • NSND Trà Giang chia sẻ ký ức và cảm xúc về bức ảnh được chụp cùng Bác Hồ năm 1962.

  • Tháng 3-4/1975 Phó Cục trưởng Cục Quân nhu Từ Giấy và con trai Từ Đễ cùng hướng tới Sài Gòn bằng con đường khác nhau: người cha đi theo đường mòn Hồ Chí Minh, người con đi bằng máy bay.