Hoa bên trời

16:19 11/02/2009
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

Hoa păng-xê

Trước hết tôi phải nói về bông hoa phù dung, mà tôi đã gặp bên một đường đồi ở Đà Lạt trước ngày tôi bỏ phố lên rừng. Thú thật là từ trước đến nay, tôi không ngờ có một loài hoa oái oăm đến thế: màu trắng buổi sáng, thì tưởng như không có vật gì ở trên đời trắng hơn, màu hồng vào buổi trưa lại quyến rũ như màu má giai nhân; và màu tím vào buổi chiều luôn luôn khiến ta đau xót, như một niềm thương tiếc khôn nguôi. Cứ ba màu như thế nối tiếp nhau, và trải qua chỉ trong một ngày. Hoa phù dung biểu lộ với tôi tấm lòng ham thích cuộc sống của nó, mặt khác, hình như nó đã phải sống hụt một đời hoa. Thậm chí, có khi ngồi buồn, tôi nghĩ rằng trong thế giới này nếu có một vật gì có vận tốc nhanh nhất thì vật ấy chính là cuộc đời của hoa phù dung. Thấy đóa hoa trắng muốt từ vườn nhà ai đổ nghiêng ra bên đường quá đẹp, tôi muốn hái về làm quà tặng cho cô bạn gái, nhưng chợt nhớ ra tôi còn bận chút việc ở phố, bèn tự nhủ đợi lúc đi phố về hẵn hái. Trưa hôm ấy, tôi gặp việc bất ngờ không trở về lối vườn cũ như đã hẹn. Mãi đến lúc chiều xế, tôi mới trở lại, với quyết tâm hái cho được bông hoa trắng gặp bên đường hồi sáng về tặng cô bạn gái nhân ngày sinh nhật. Nào ngờ tìm mãi, chỉ thấy một bông hoa tím bầm héo rũ trên cành, tôi cứ nghĩ là mình đã gặp một bông hoa khác. Sau này tôi mới hay rằng chính nó là bông hoa trắng hồi sáng, và nó tên là hoa phù dung. Từ đó mỗi lần nghe nhắc đến hoa phù dung, tôi lại thấy một cảm giác rờn rợn như đối với một số phận đầy bi thảm. Như thể rằng nó không phải là một loài thực vật, mà là một thiếu nữ.

Một thứ hoa khác mà tôi không thể không nhắc đến mỗi lần nói về hoa, là hoa ngũ sắc. Nó như một thứ quà tặng mà thiên nhiên dành cho tuổi thơ của tôi, hay nói cách khác, chính là nhờ hoa ngũ sắc mà tuổi thơ đầy ràng buộc trong sự giáo dục nghiêm khắc của cha tôi, tôi vẫn cảm thấy tuổi nhỏ của tôi có đôi phần hoang dại. Hoa ngũ sắc mọc hoang bên đường đi, mỗi đóa hoa chỉ lớn bằng đồng xu, với những cánh hoa nhỏ xíu có năm màu đỏ, gạch, vàng, trắng, xanh; trái kết thành chùm khi chín màu đen sẫm, có vị ngọt. Tôi có cái thú mỗi khi đi học về, thường tha thẩn bên những trái chín hoặc hút chất mật ngọt cuối những cánh hoa. Trước khi lên rừng, hình ảnh thân yêu của thành phố hiện ra đầy tâm trí tôi. Lúc tôi thong thả bước qua cầu Trường Tiền là hình ảnh của những bông hoa ngũ sắc, mọc hồn nhiên trên nền đổ nát của những cung điện hoang phế. Chúng sặc sỡ bên đường như một bầy trẻ con đang ríu rít chào tôi. Trong một nỗi lưu luyến như tuồng không phải đối với những bông hoa, tôi thầm thì với những bông ngũ sắc: "Tạm biệt nhé! Tạm biệt tuổi thơ của ta!".
Hai loài hoa nói trên tuy không thuộc về thế giới khói lửa của tôi nhưng chúng đã giữ một vai trò quan trọng trong tâm hồn tôi, và thường xuyên có mặt giữa những tổ hợp hoa đã cấu trúc nên thế giới tình cảm của tôi trong chiến tranh; vả lại tôi cũng e rằng tôi không còn dịp nào khác để nói về chúng.

Thời kỳ ở rừng, sáu tháng đầu, tôi vẫn được hưởng tiêu chuẩn "khách mời" của thành phố Huế. Có một đêm tôi theo cơ quan tản ra một địa điểm xa khỏi nơi đóng trụ sở để đề phòng địch mở cuộc càn quét. Địa điểm ấy là một cánh rừng thưa thuộc vùng giáp ranh, mặt đất phẳng khá rộng và mọc đầy một giống hoa địa lan lạ, trước nay tôi chưa hề thấy. Hoa gồm có một cọng dài, trên đầu nở hai tầng hoa màu khác nhau: tầng trên các cánh hoa có màu trắng, tầng dưới màu vàng cháy. Em trai tôi đi hái chừng 5 cọng hoa cắm vào một ống giang có đuôi được vạt nhọn để cắm xuống đất, mang đến đặt cạnh võng tôi. Đó là bình hoa đầu tiên em tôi tặng tôi ở Trường sơn, khi tôi đi xa chiếc bàn viết "mộng dưới hoa" của tôi ở thành phố. Sáng hôm sau, tôi thức dậy trong tiếng chim rừng và tiếng suối reo. Tôi xiết bao ngạc nhiên khi thấy cành địa lan gần tôi đã thay đổi màu từ bao giờ. Màu vàng cháy phía dưới đã dâng cao lên ngọn, và tầng hoa trắng phía trên bị thu hẹp lại. Nhìn thật kỹ, tôi chợt phát hiện rằng cành lan mà lúc đầu tôi tưởng rằng có hai màu khác nhau, hoá ra chỉ có một màu trắng, và khi càng về già, những cánh hoa trắng đều ngả sang màu vàng cháy. Tôi cảm ơn em trai tôi đã mang tặng tôi chút dư vang thân thiết của thành phố trong những ngày tôi đi "đánh bạn với lau lách" ở rừng Trường Sơn. Tôi còn phải sống nhiều năm với tình bạn ấy và sau này tôi nghiệm ra rằng đấy là những năm tháng mang tất cả ý nghĩa của cuộc đời tôi. Những tháng năm ấy giống như ý niệm hạt nhân của nguyên tử, mang toàn bộ trọng lượng của đời tôi và nếu như loại trừ những tháng năm ấy ra khỏi đời mình thì mọi biến cố còn lại của tôi sau này sẽ trở nên hụt hẫng mất trọng lượng như những vật thể ở ngoài không gian.

Tôi xin nói tiếp về một loài hoa khác.
Một hôm, tôi đi lạc vào một cánh rừng rộng đầy những cây mây song. Tôi nằm áp mặt xuống đất, dòm nghiêng dưới chân những bụi mây, cố tìm dấu vết của những con heo rừng thường ẩn nấp trong đó. Ở một bụi cây, tôi tình cờ phát hiện một loại cây chi mà lá phiến tròn cuống dài trông như bụi rau má; biết đâu nếu quả là rau má thì tốt quá; những năm này chúng tôi đang đói. Tôi nhổ một bụi cây nhỏ và lùi ra khỏi gốc mây, mân mê nhìn kỹ. Dưới chân những cuống lá, có một đám hoa vàng chói; hình như những chiếc lá cố tình vươn lên cao để giấu kín hoa. A, đúng là hoa păng-xê, nhưng ở đây hoa không có màu tím than mà trở nên vàng chói; tuy nhiên trông nó vẫn tinh khiết và cao sang lạ lùng. Hoa păng-xê có tên trong danh sách những loài hoa quý mà những người yêu nhau thường tặng cho nhau để thay lời nhắn nhủ: "Đừng để ai biết chúng mình yêu nhau" . Ở giai đoạn bắt đầu, người ta thường có thói quen giấu kín người khác về tình yêu của mình; có lẽ vì vậy mà người ta gọi tâm hồn con người là một "khu vườn bí mật". Nhiều cô gái ở thành phố vẫn thích ghim một biểu tượng hoa păng-xê trước ngực áo; để hé mở một chút về "khu vườn bí mật" của mình, như vậy, trông lại càng quyến rũ.

Tôi nhớ hoạ sĩ Đinh Cường có vẽ tặng tôi bức sơn dầu "Bản giao hưởng bỏ dở" trong đó vẽ một lọ hoa păng-xê đặt trên một chiếc dương cầm với chiếc ghế ngồi bỏ trống. Có một dạo tôi rất mê hoa păng-xê. Cô em gái của tôi bèn nhổ trộm cây hoa ấy trong vườn hoa của bà hiệu trưởng định mang về tặng tôi. Chẳng may sự việc bị phát giác và cô bé tội nghiệp suýt bị đưa ra toà án về tội ăn cắp. Hoa păng-xê đã để lại một kỷ niệm cay đắng như thế trong tâm hồn tôi, nên tôi chợt vui mừng vô kể khi gặp lại nó giữa chốn hoang vu này. Dù nó không phải màu tím nhưng tôi cứ tin rằng nó là hoa păng -
xê thứ thiệt; biết đâu hoa păng-xê cũng có một màu khác, giống như kỷ niệm có nhiều màu. Tôi nghĩ rằng nhiều thứ hoa thường thấy đều là hoa trang trí nội thất, trong khi păng-xê lại là hoa trang trí tâm hồn. Tôi yêu hoa păng-xê vì nó là dấu hiệu của nội tâm thầm kín, nó mang trả cho tôi những ngày rong chơi tha hồ khi còn ở thành phố. Tôi tình cờ phát hiện ra nó ở một cánh rừng hoang dại mà tôi chỉ đi qua có một lần, đưa nó ra ánh sáng từ một mặt đất ẩm ướt, dưới chân tối mờ và gai góc của một bụi mây song. Tôi ao ước một ngày chấm dứt chiến cuộc để tôi đi lang thang trên những nẻo đường rụng đầy lá vàng tươi, hoặc ngẩn ngơ đứng nhìn giòng sông mượt mà trôi đi với những con đò áo trắng, và tôi sẽ hoàn toàn hạnh phúc trong thành phố của tôi, với một biểu tượng của hoa păng-xê trên ngực. Mặt khác, tôi biết rằng tôi còn phải đánh bạn với lau lách trong nhiều năm; vật mà tôi luôn có bên mình, chính là khẩu súng, không phải là hoa, và còn lâu mới đến hoa păng-xê. Và đến bao giờ thì những bạn bè tri kỷ của tôi hiện ở phố biết được rằng chính tôi đã khám phá ra một loài hoa păng-xê màu vàng từ trong lòng một cánh rừng Trường Sơn? Ngày đó, thì chắc tôi đã già. Lau lách trên núi cũng già. Nhưng hoa păng-xê thì mãi mãi vẫn giữ riêng một điều gì thầm kín.

Chiến tranh càng kéo dài, những kháng chiến quân thành phố càng bị đẩy dần lên cao trên Trường Sơn; ở đó là rừng già, và hoa dại càng trở nên hiếm hoi. Thỉnh thoảng, tôi lại gặp một cây tùng độc lập, với những con đại bàng viễn du ghé lại ăn trái tùng, hoặc những đêm ngủ rừng, thức giấc tôi nghe cả tiếng đười ươi hú...
Tôi rất ít gặp hoa nhưng âm thầm trong lòng, tôi vẫn nhớ chúng. Cơ quan di chuyển nhiều nơi, tôi vẫn lích kích mang theo ba lô một mảnh gỗ mục có bám mấy sợi rễ phong lan, đem về treo lủng lẳng ở chỗ làm việc. Cái giống phong lan thật lạ đời, sống không cần đất và nước, thường thì trông xấu xí, cục mịch và im lìm đến độ tưởng rằng nó đã chết. Nhưng cứ đến mùa thì nó lại bất ngờ ra hoa, hoa đẹp và kỳ lạ không thể tưởng. Cành phong lan của tôi cũng thế. Một mùa xuân, nó đã nở ra cho tôi hai giò hoa đầy những hoa vàng với những chấm tím. Chính nhờ có nó mà tôi biết rằng mùa xuân đã về, vì theo thói quen, tôi làm việc không hề nhìn đến quyển lịch. Nó khiêm tốn và kiên cố như một chân lý, cứ đúng lúc lại xuất hiện.

Những lần công tác, tôi thường men theo giòng sông Hương chảy trên rừng. Lần ấy có Khoa cùng đi với tôi. Chúng tôi đi dạo dọc theo bờ sông Hương đúc bằng một dải đá liền xa đến mút mắt, lô nhô những hòn đá nhoi cao hơn như hình những nhà sư ngồi thiền định bên sông, cạnh những ục nước mà khi thủy triều rút xuống, còn để lại ít nước và những con cá sao chạy loăng quăng từ ục này sang ục khác. Trình thường đi công tác ghé qua đây, dùng súng AK bắn thẳng vào những ục đá lớn để vớt những con cá sao nổi lềnh bềnh đem về nấu canh với lá giang. Ở những ục đá nhỏ hơn mà nước sông đã kịp khô đi trong ngày, tôi tìm thấy một cây gì không biết, lớn bằng que tăm với ba sợi rễ bám vào mặt đá, mỗi cây nhỏ xíu ấy đều đội một đóa hoa nhỏ và đỏ thắm trên đầu. Nhìn kỹ nhiều bông hoa chung quanh, tôi hiểu ra mỗi cây này chỉ sống và nở hoa trong một ngày rồi chết, cả hoa và cây đều cùng chết một lần. Tôi chỉ cho Khoa xem hiện tượng ấy, nói với Khoa rằng cây hoa này giống như con người, sống để dâng hiến cho cuộc đời một trái tim đỏ thắm, rồi im lặng chết. Hãy học bài học của bông hoa này, sống để hoàn thành hành động dâng hiến trái tim mình cho Tổ quốc, một lần thôi. Khoa chia tay tôi lội qua sông một mình, chiếc gùi mang nặng trên lưng. Tôi nhìn theo Khoa cho đến lúc cái bóng nhỏ của Khoa lần khuất trong rừng già, thầm nghĩ rằng đã hết những ngày vui vẻ trên nương rẫy, chuyến về vùng sâu lần này của Khoa là hành động nở hoa của cây cỏ dại.

Ở một quãng nào đó của sông Hương trên rừng, chúng tôi đi len lỏi trong vài tiếng đồng hồ liền giữa một loài cây dại có lá và hoa rất đẹp: lá thuôn thả hình con mắt lá răm, mặt lá bóng láng phản chiếu ánh mặt trời và hoa có năm cánh xòe ra, màu hồng thắm đẹp và nhiều giống như hoa phượng. Chúng tôi quen gọi là cây rì rì, tên Cà Tu của nó là Arui, cũng thường dùng để đặt cho những cô gái. Cây rì rì mọc sát bờ nước, và thường lan ra ôm choàng kín những vầng đá giữa giòng sông. Lần ấy chúng tôi đi công tác về ngang qua bãi rì rì bên sông, bèn dừng lại tắm sông. Tôi bơi ra xa, níu cho kỳ được một cây rì rì đứng an nhiên trên một tảng đá giữa lòng sông. Giữa lúc ấy thì trực thăng Mỹ chợt đến. Tôi chẳng biết chạy đi đâu bèn đứng im, cầm một cành hoa rì rì đỏ che trên đầu. Bạn bè tôi đều lo cho tôi, nhưng chỉ thấy tôi vẫn tiếp tục cười nói với họ, với cành hoa đỏ trên tay. Trực thăng đi qua, khẩu đại liên ở cửa máy bay chỉ cách đầu tôi một quãng ngắn. Nhưng hình như tên xạ thủ súng máy mãi chăm chú nhìn vào ven sông nên chẳng nhìn thấy tôi đứng dưới máy bay. Máy bay đi qua, tôi đứng ngật ngưỡng trên tảng đá, nhìn bao quát cả tầm mắt một dải bờ sông, hoa rì rì nở thắm cả dặm dài, giống như hoa phượng trên những đường phố. Ít ai ngờ rằng trong chiến tranh, có một lần tôi đã sững sờ đứng ngắm những bông hoa dại này.

Tôi không thể nào không nhắc đến loài hoa núi ấy mà KanLen đã hái tặng tôi lúc chia tay. Thú thật rằng đến bây giờ tôi vẫn không biết tên nó là gì, và có lẽ cả KanLen cũng không biết tên; mãi mãi nó là một bông hoa rừng vô danh. Nó lớn bằng một đóa hoa hồng, có nhiều cánh, màu xanh nước biển (suốt một thời gian dài ở Huế tôi chưa hề gặp một loài hoa nào có màu xanh cả, ngoại trừ những bông hoa cỏ, màu xanh da trời). KanLen đã hái nó từ một bụi bờ nào đó đưa cho tôi, và nói bằng giọng huyền thoại: "một nghìn năm hoa này mới nở một lần".

Cuối ngày làm việc, tôi ra thung lũng chuyện trò với KonLài. Như thường lệ, ông cùng cô con gái KanLen của ông ngồi chơi trong một chiếc nốn rộng bên bờ suối Tà Lơng của thôn A Dài. Bãi cỏ ở nơi đây rộng ngút ngàn, chạy dài suốt thung lũng, thỉnh thoảng điểm những cây ổi đầy những trái chín. Ông KonLài có vẻ là một nhà bảo vệ văn hóa Kà Tu bằng cách đi đâu cũng lăn theo một chiếc nốn thay thế giường chiếu, và dùng một chiếc ống vố nặn bằng đất sét nung với cái đuôi mây dài và đánh lửa bằng đá. Ông có một bộ dụng cụ đánh lửa rất đặc biệt. Ông dùng một lưỡi dao nặng bằng sắt quẹt mạnh vào một hòn đá rắn; tia lửa bắn vào một nhúm bùi nhùi kèm theo; tiếp theo, ông thổi mạnh vào nhúm bùi nhùi làm lửa bùng lên thành ngọn cháy lan sang một đoạn dây thừng làm bằng sợi đoác ngâm bùn và châm thuốc bằng sợi dây thừng ấy.

KanLen hôm nay diện một chiếc áo sơ mi màu đen có hoa văn trắng, và một chiếc váy màu xanh; ý chừng hai cha con sang dự hội làng ở thôn A Dài này. Trông cô thật trẻ trung và đầy sức sống. Tôi thì theo cơ quan qua nhận một tấm rẫy cũ do đồng bào ở thôn A Dài tặng. Ngồi nói chuyện gẫu với già KonLài một chốc, KanLen đưa mắt ra hiệu bảo tôi vào rừng. Chúng tôi đến một bãi cỏ rộng với nền đất ẩm mọc đầy một loài hoa cỏ dại, gần giống như hoa tường lan ở Huế; màu trắng ngà và có năm cánh. Bãi đất này chúng tôi rất thích ngồi chơi với nhau mỗi lần có việc rẫy phải qua A Dài. Tôi vừa được cơ quan gọi về làm hết mọi việc thay thế cho anh em trong tòa soạn triển khai xuống đồng bằng phát động phong trào nhân dịp địch đang hoang mang sau chiến dịch Nam Lào. Trước mắt tôi, đám hoa cỏ trắng ríu rít trong gió núi, gợi cho tôi những bông hoa ngũ sắc ngày xưa. Tôi đùa KanLen rằng tôi sắp phải về vùng sâu công tác và phải xa nàng ít lâu. KanLen rơm rớm nước mắt vì sợ tôi sẽ chết. Thời buổi ấy vùng sâu đầy ắp bọn bình định nông thôn. KanLen bảo tôi, giọng thật tội nghiệp:
- Nếu anh hy sinh, em sẽ dành cho anh một loài hoa khác để cắm trên mộ liệt sĩ hoặc trên một mô đất nào đó ở nghĩa trang xã. Còn nếu anh vẫn sống, lại đi yêu người khác thì em cầu nguyện cho những bông hoa trắng này chết đi, và em sẽ chẳng bao giờ trở lại đây nữa.
         Huế ngày 28 - 12 -2004
               H.P.N.T

(nguồn: TCSH số 192 - 02 - 2005)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HOÀNG LONG
           Tùy bút

    Nhắc đến Nhật Bản là người ta nhớ ngay đến một đất nước vô cùng độc đáo về văn hóa và sáng tạo, dung hòa được những điều mâu thuẫn cùng cực và tư phản nhau.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
                    Bút ký  

    Trong những giấc mơ buổi giao mùa, tôi bồng bềnh trôi trên những đám mây trắng bay qua con đèo quanh co, khúc khuỷu. Một bên là núi rừng xanh thẫm, một bên đại dương mênh mông không bến bờ.

  • Kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sĩ 27 - 7  

    DO YÊN

  • NGUYÊN HƯƠNG
                Tạp bút

    Bóng đêm như một ẩn dụ về tri kỷ. Chỉ cần im lặng thấu hiểu mà không đòi hỏi được nghe lời thề thốt thanh minh.

  • BỬU Ý

    Suốt trên ba mươi năm hiện diện, Tạp chí Sông Hương hiển nhiên xác lập được sự trưởng thành của mình bên cạnh những tập san, tạp chí uy tín nhất của cả nước.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ
                Tản văn  

    Hà Nội bây giờ, chẳng ai dám quả quyết là đã quan sát, tìm hiểu và có thể bình phẩm một cách đầy đủ. Đơn giản, chỉ vì Thủ đô hôm nay quá… mênh mông.

  • NGUYỄN VĂN TOAN
                            Bút ký

    Cái cảm giác một lần nghe tên mình vọng lại từ trập trùng núi rừng xanh thẳm chẳng dễ gì quên được, nhất là với người sinh ra từ nơi chốn ấy.

  • NGUYÊN HƯƠNG

    Có những ngày tháng đi qua đã để lại nỗi trống vắng hoang tàn cho con người và tạo vật. Và đôi khi ta thấy tiếc nhớ những ngày tháng ấy như tiếc một món vật cổ điển đã mất đi, dẫu biết rằng theo nhịp tuần hoàn mỗi năm, ngày tháng ấy còn quay trở lại.

  • THÁI KIM LAN

    "Từ đó trong vườn khuya
    Ôi áo xưa em là
    Một chút mây phù du“

  • VŨ DY    
         Tùy bút  

    Cuối năm, đó là khoảng thời gian người ta nhiều xúc cảm nhất. Buổi sáng, ngồi nhà không yên, lấy xe chạy lòng vòng thị trấn coi không khí chuẩn bị đón tết của bàn dân thiên hạ.

  • THÁI KIM LAN  
           Tùy bút  

    Cây hải đường ở vườn bà nội tôi thuở ấy đứng trước bình phong nhà Từ đường họ ở đồi Hà Khê. Không biết nó đã ở đó bao lâu, lớn khôn ra làm sao, trong rét mướt mùa đông và nắng nồng mùa hè có than vãn vật vả như con người?

  • NGUYÊN HƯƠNG
                Tùy bút

    Ta đã từng dựa vào những đêm mưa như một chút ân huệ cuối cùng của đời sống. Nơi đó có dấu chân của những kẻ đi hoang đốt cuộc đời mình trong bóng tối và cũng có thể là nơi những tên trộm lấy đi một vài thứ không thuộc về mình. Rồi một ngày kia dấu chân tan vào mưa, như suối tan ra giữa muôn trùng đá sỏi.

  • LINH THIỆN

    Đã gần 30 năm, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Huế, tôi được phân công về dạy học ở tỉnh Minh Hải1 - mảnh đất tận cùng của Tổ quốc.

  • PHÙ SINH

    Trước khi viết về con hến, thiết nghĩ cũng nên tào lao mấy chuyện về mấy loài nhuyễn thể dưới đáy sông.

  • NGUYỄN VĂN UÔNG
                      Tùy bút

    Chuyện làng thì nói mãi vẫn có người thích nghe. Thơ nhạc cũng không ít lời ca ngợi.

  • PHI TÂN
       Tùy bút   

    Sông Ô Lâu chảy qua làng tôi là đoạn cuối trước khi đổ ra Cửa Lác để hòa vào phá “mẹ” Tam Giang.

  • TRẦN BẢO ĐỊNH

    1. Mấy ai sinh ra và lớn lên mà không có quê hương? Quê hương đó, có thể là phố phường, là nông thôn đồng bái! Mỗi nơi ở mỗi người, đều có một kỷ niệm đầu đời chẳng thể quên.

  • ĐỖ XUÂN CẨM

    Trong hàng trăm loài cây xanh đô thị, có lẽ cây Hoa sữa là cây gây nhiều ấn tượng cho nhiều người nhất.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

    Ông Giám đốc Viện Nghiên cứu Du lịch lấy từ trong cặp ra một cái kính đeo mắt hơi lạ, mắt kính đen kịt như mực, bấm nút nghe có tiếng rè rè như máy ảnh, bảo tôi mang thử.

  • bút ký của Lê Vũ Trường Giang

    Nhìn trên bản đồ, vùng bờ biển của Huế là một dải đất mỏng như lưỡi liềm, những đường cong với nhiều bãi tắm đẹp thu hút du khách cùng những làng nghề chế biến muối và nước mắm nổi tiếng.