Hai mươi năm sau

08:51 20/01/2022


O’HENRY

Ảnh: internet

Có nhiều nhà văn viết nhiều thể loại khác nhau, nhưng O’Henry thì trước sau chỉ là truyện ngắn. Thời gian ông viết khỏe nhất là giai đoạn từ 1902, khi ông chuyển về sống tại thành phố New York. Trong hơn một năm ông viết mỗi ngày một truyện cho tờ New York World Sunday Magazine. Trên 300 truyện ngắn đã ra đời trong thời gian này. Có hai điều ghi nhận khi đọc O’Henry: Ông thường đưa vào trong truyện những chi tiết nhỏ, tưởng chừng như không quan trọng, thậm chí là dư thừa, nhưng khi đọc đến cuối truyện mới thấy ý nghĩa và giá trị của chi tiết đó. Điều thứ hai là hầu hết truyện của O’Henry đều có những kết cục bất ngờ, khéo léo. Độc giả dù tinh ý và thành thạo đến mấy cũng ít khi đoán được hồi kết.

                                                     Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu


 

Hai mươi năm sau   

                                Truyện ngắn   

Người cảnh sát đi tuần ngược lên đại lộ một cách oai nghiêm. Vẻ oai nghiêm cố hữu chứ không phải để phô trương vì chẳng mấy ai chứng kiến. Lúc này mới chỉ gần mười giờ đêm, nhưng những cơn gió lạnh kèm hơi mưa làm cho đường phố vắng hẳn người.

Thử đẩy mấy cánh cửa, tay xoay chiếc dùi cui bằng những động tác phức tạp và điệu nghệ, thỉnh thoảng quay người đưa mắt cảnh giác nhìn xuống khu phố yên tĩnh, viên cảnh sát là hình ảnh đẹp đẽ của người bảo vệ an ninh.

Khu vực này người ta thường đi ngủ sớm. Thỉnh thoảng thấy có ánh đèn từ một tiệm bán thuốc xì gà hoặc từ một quầy bán thức ăn phục vụ suốt đêm, còn phần lớn những nơi buôn bán đã đóng cửa từ lâu.

Khi đi được nửa đường một dãy nhà, viên cảnh sát bỗng đi chậm lại. Ở ô cửa một cửa hàng bán đồ sắt tối thui có một người đàn ông đứng dựa vào đấy, miệng ngậm điếu xì gà chưa đốt.

Khi viên cảnh sát đến sát bên, người đàn ông vội vàng lên tiếng:

- “Không có gì đâu ông cảnh sát”, y nói, giọng chắc nịch, “chỉ là tôi đang chờ một người bạn. Cuộc hẹn từ hai mươi năm trước. Ông nghe có vẻ buồn cười phải không? Vậy để tôi giải thích để ông thấy không có gì khuất tất. Cách đây cũng gần khoảng hai mươi năm, ngay chỗ này có một tiệm ăn tên là Big Joe Brady”.

- “Người ta đã phá tiệm đó cách đây năm năm rồi”, viên cảnh sát nói.

Người đàn ông đứng ở ô cửa bật que diêm châm điếu xì gà. Ngọn lửa soi rõ một khuôn mặt tái lợt, quai hàm vuông, cặp mắt sắc sảo, có cái sẹo trắng nhỏ gần chân mày phải. Cái kẹp cà vạt nạm một viên kim cương to tướng thật kỳ quặc.

- “Tối nay là hai mươi năm rồi”, người đàn ông nói, “tôi ăn tối ở tiệm Big Joe Brady này với Jimmy Wells, thằng bạn thân nhất của tôi, một tay tuyệt nhất trần đời. Hắn và tôi cùng lớn lên ở New York, như hai anh em ruột. Lúc đó tôi 18 tuổi, và hắn hai mươi. Sáng hôm sau tôi phải đi miền Tây để kiếm sống. Không thể nào kéo Jimmy ra khỏi đất New York, bởi hắn nghĩ không đâu hơn được nơi này. Rồi đêm đó chúng tôi đã giao ước với nhau là sẽ gặp lại tại nơi này đúng hai mươi năm sau, đúng ngày này, giờ này, dù cho hoàn cảnh sinh sống như thế nào, dù cho đường sá xa xôi cách trở ra sao. Chúng tôi tin rằng trong vòng hai mươi năm, số phận mỗi đứa đã an bài, cơ đồ cũng đã ổn định, dù là gì chăng nữa.”

- “Nghe thú vị đấy nhỉ”, viên cảnh sát nói. “Tuy nhiên, tôi thấy thời gian giữa hai cuộc gặp có hơi lâu. Anh không có tin tức gì của bạn từ lúc ra đi sao?”

- “Có chớ. Chúng tôi có liên lạc một thời gian”, người kia nói, “nhưng một hai năm sau thì bặt tin nhau. Ông cũng thấy đó, miền Tây là nơi có quá nhiều hứa hẹn, còn tôi phải bươn chãi kiếm sống. Nhưng tôi biết Jimmy sẽ gặp tôi ở đây nếu hắn còn sống, vì hắn là thằng bạn chân thật và trung thành nhất trên đời. Hắn sẽ không bao giờ quên. Tôi vượt cả ngàn cây số để tới đây đêm nay và cũng bõ công nếu bạn tôi cũng tới.”

Người đứng chờ rút trong túi ra chiếc đồng hồ rất sang, vỏ nạm hột xoàn.

- “Mười giờ kém ba phút rồi!”, hắn nói to. “Hồi ấy, lúc chúng tôi chia tay ở quán này, chính xác là mười giờ.”

- “Anh làm ăn khấm khá ở miền Tây chứ?” viên cảnh sát hỏi.

- “Còn phải nói! Tôi hy vọng Jimmy được một nửa như thế. Hắn vẫn thuộc loại chậm chạp, tuy vậy vẫn là bạn tốt của tôi. Tôi đã phải đánh vật với nhiều tay sừng sỏ nhất mới kiếm được chút đỉnh bây giờ đây chứ! Ở New York con người thường ù lì. Có đến miền Tây mới sắc sảo được.”

Viên cảnh sát xoay xoay cái dùi cui và bước tới vài bước.

- “Tôi đi đây. Mong là bạn anh sẽ đến. Nếu anh ta không đến vào đúng mười giờ anh có bỏ đi không?”

- “Ồ không, người kia nói. Ít nhất tôi cũng đợi hắn nửa giờ. Nếu Jimmy còn sống, hắn sẽ đến đây trong khoảng thời gian đó. Xin chào ông cảnh sát.”

- “Chào anh!”, viên cảnh sát nói và tiếp tục cuộc tuần tra, đẩy thử cửa mỗi nhà khi đi ngang qua.

Lúc này trời đổ cơn mưa bụi lạnh lẽo và những làn gió ngập ngừng đã nổi lên thành từng cơn. Một vài khách bộ hành còn quanh quẩn trong khu phố vội rảo bước, âm thầm lặng lẽ, cổ áo kéo cao, tay đút vào túi. Và ở cửa tiệm bán đồ sắt, người đàn ông đã vượt qua cả ngàn cây số để giữ đúng một lời hẹn vu vơ đến mức vô lý với người bạn thời trẻ, vẫn đứng hút xì gà chờ đợi.

Được chừng hai mươi phút thì một người cao lớn mặc áo khoác dài, cổ áo dựng đứng tận mang tai, từ phía bên kia đường vội vã băng qua. Anh ta chạy thẳng đến chỗ người đàn ông đứng chờ.

- “Cậu đấy hả, Bob?” Anh ta hỏi, nghi hoặc.

- “Ôi, cậu đấy phải không, Jimmy Wells?”, người đàn ông đứng ở cửa kêu lên.

- “Trời đất ơi!”, người mới tới reo lên và nắm chặt cả hai bàn tay người kia. “Đúng là Bob đây rồi. Tớ chắc chắn sẽ gặp cậu ở đây nếu cậu còn sống. Hưm hưm..., hai mươi năm quả là dài. Bob này, cái tiệm cũ mất rồi, tớ ước chi nó vẫn còn đó để tớ với cậu còn ăn tối một bữa nữa với nhau. Đất miền Tây đãi cậu ra sao hả bạn hiền?”

- Tuyệt! Miền Tây đã cho tớ những gì tớ mong muốn. Cậu thay đổi nhiều đấy, Jimmy. Tớ không nghĩ cậu lại cao thêm lên đến năm sáu phân.(1)

- Ừ, sau năm hai mươi tuổi tớ có cao thêm một chút.

- Ở New York cậu làm ăn khá chứ, Jimmy?

- Tàm tạm thôi. Tớ làm ở một công sở của thành phố. Đi thôi, Bob, tụi mình sẽ tới một chỗ tớ quen, rồi cùng hàn huyên chuyện ngày xưa.

Hai người khoác tay nhau đi ngược đường phố. Người từ miền Tây tới, do thành công nên tỏ ra tự cao, bắt đầu kể qua quá trình làm ăn của mình. Còn người kia, thân hình chìm trong chiếc áo khoác, chăm chú lắng nghe.

Ở góc đường có một nhà thuốc, đèn điện sáng trưng. Khi họ bước tới chỗ ánh sáng chói lòa ấy, cả hai người cùng lúc quay lại nhìn chằm chằm vào mặt nhau. Người từ miền Tây đến bỗng dừng lại và rút tay ra.

- “Anh đâu phải là Jimmy Wells!”, hắn cáu kỉnh nói. “Hai mươi năm dài thật nhưng cũng chưa đủ để thay đổi mũi của một con người, từ mũi cao đến mũi tẹt như thế kia được.

- “Đôi khi thời gian ấy cũng đủ để biến một người chân thực thành kẻ bất lương!”, người cao lớn nói. “Anh đã trong tình trạng bị bắt từ 10 phút rồi, Bob “lành” ạ. Chicago nghĩ là có thể anh sẽ qua chỗ chúng tôi nên đã điện báo cho chúng tôi là họ muốn tán gẫu với anh một chút. Yên mà đi thôi chứ? Vậy là biết điều đó. Bây giờ, trước khi về đồn, đây là mấy chữ mà người ta nhờ tôi trao tận tay anh. Anh có thể đọc ngay ở đây, chỗ cửa sổ này. Cảnh sát tuần tra Wells gởi cho anh đó.”

Người từ miền Tây đến mở miếng giấy nhỏ người kia đưa. Khi bắt đầu đọc, tay hắn vẫn vững như thường, nhưng khi đọc xong thì hơi run run. Mảnh giấy ghi ngắn gọn thế này:

“Bob. Tớ đã đến chỗ hẹn đúng giờ. Khi cậu bật diêm hút thuốc, tớ đã nhận ra khuôn mặt người đang bị truy nã ở Chicago. Làm sao tớ lại có thể tự mình làm việc này nên đành phải nhờ một nhân viên mặc thường phục thực hiện đó Bob à. Jimmy.”  

(Dịch từ nguyên tác tiếng Anh - After twenty years - O’ Henry
Nguồn: http://www.newagepublishers.com/samplechapter/000558.pdf)
(TCSH394/12-2021)

--------------------------------
(1) Nguyên tác: by two or three inches. 1 inch = 2,54 cm  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.

  • Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.

  • Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

  • LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.

  • LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.

  • Nhự Chí Quyên là nhà văn ngoại sáu mươi, từng có tác phẩm những năm 1950. Truyện ngắn Thỏa nguyện (Như nguyện) của ông ca ngợi tấm lòng thương con của một bà mẹ công nhân, được coi là đặc sắc thời ấy.