O’HENRY
Ảnh: internet
Có nhiều nhà văn viết nhiều thể loại khác nhau, nhưng O’Henry thì trước sau chỉ là truyện ngắn. Thời gian ông viết khỏe nhất là giai đoạn từ 1902, khi ông chuyển về sống tại thành phố New York. Trong hơn một năm ông viết mỗi ngày một truyện cho tờ New York World Sunday Magazine. Trên 300 truyện ngắn đã ra đời trong thời gian này. Có hai điều ghi nhận khi đọc O’Henry: Ông thường đưa vào trong truyện những chi tiết nhỏ, tưởng chừng như không quan trọng, thậm chí là dư thừa, nhưng khi đọc đến cuối truyện mới thấy ý nghĩa và giá trị của chi tiết đó. Điều thứ hai là hầu hết truyện của O’Henry đều có những kết cục bất ngờ, khéo léo. Độc giả dù tinh ý và thành thạo đến mấy cũng ít khi đoán được hồi kết. |
Hai mươi năm sau
Truyện ngắn
Người cảnh sát đi tuần ngược lên đại lộ một cách oai nghiêm. Vẻ oai nghiêm cố hữu chứ không phải để phô trương vì chẳng mấy ai chứng kiến. Lúc này mới chỉ gần mười giờ đêm, nhưng những cơn gió lạnh kèm hơi mưa làm cho đường phố vắng hẳn người.
Thử đẩy mấy cánh cửa, tay xoay chiếc dùi cui bằng những động tác phức tạp và điệu nghệ, thỉnh thoảng quay người đưa mắt cảnh giác nhìn xuống khu phố yên tĩnh, viên cảnh sát là hình ảnh đẹp đẽ của người bảo vệ an ninh.
Khu vực này người ta thường đi ngủ sớm. Thỉnh thoảng thấy có ánh đèn từ một tiệm bán thuốc xì gà hoặc từ một quầy bán thức ăn phục vụ suốt đêm, còn phần lớn những nơi buôn bán đã đóng cửa từ lâu.
Khi đi được nửa đường một dãy nhà, viên cảnh sát bỗng đi chậm lại. Ở ô cửa một cửa hàng bán đồ sắt tối thui có một người đàn ông đứng dựa vào đấy, miệng ngậm điếu xì gà chưa đốt.
Khi viên cảnh sát đến sát bên, người đàn ông vội vàng lên tiếng:
- “Không có gì đâu ông cảnh sát”, y nói, giọng chắc nịch, “chỉ là tôi đang chờ một người bạn. Cuộc hẹn từ hai mươi năm trước. Ông nghe có vẻ buồn cười phải không? Vậy để tôi giải thích để ông thấy không có gì khuất tất. Cách đây cũng gần khoảng hai mươi năm, ngay chỗ này có một tiệm ăn tên là Big Joe Brady”.
- “Người ta đã phá tiệm đó cách đây năm năm rồi”, viên cảnh sát nói.
Người đàn ông đứng ở ô cửa bật que diêm châm điếu xì gà. Ngọn lửa soi rõ một khuôn mặt tái lợt, quai hàm vuông, cặp mắt sắc sảo, có cái sẹo trắng nhỏ gần chân mày phải. Cái kẹp cà vạt nạm một viên kim cương to tướng thật kỳ quặc.
- “Tối nay là hai mươi năm rồi”, người đàn ông nói, “tôi ăn tối ở tiệm Big Joe Brady này với Jimmy Wells, thằng bạn thân nhất của tôi, một tay tuyệt nhất trần đời. Hắn và tôi cùng lớn lên ở New York, như hai anh em ruột. Lúc đó tôi 18 tuổi, và hắn hai mươi. Sáng hôm sau tôi phải đi miền Tây để kiếm sống. Không thể nào kéo Jimmy ra khỏi đất New York, bởi hắn nghĩ không đâu hơn được nơi này. Rồi đêm đó chúng tôi đã giao ước với nhau là sẽ gặp lại tại nơi này đúng hai mươi năm sau, đúng ngày này, giờ này, dù cho hoàn cảnh sinh sống như thế nào, dù cho đường sá xa xôi cách trở ra sao. Chúng tôi tin rằng trong vòng hai mươi năm, số phận mỗi đứa đã an bài, cơ đồ cũng đã ổn định, dù là gì chăng nữa.”
- “Nghe thú vị đấy nhỉ”, viên cảnh sát nói. “Tuy nhiên, tôi thấy thời gian giữa hai cuộc gặp có hơi lâu. Anh không có tin tức gì của bạn từ lúc ra đi sao?”
- “Có chớ. Chúng tôi có liên lạc một thời gian”, người kia nói, “nhưng một hai năm sau thì bặt tin nhau. Ông cũng thấy đó, miền Tây là nơi có quá nhiều hứa hẹn, còn tôi phải bươn chãi kiếm sống. Nhưng tôi biết Jimmy sẽ gặp tôi ở đây nếu hắn còn sống, vì hắn là thằng bạn chân thật và trung thành nhất trên đời. Hắn sẽ không bao giờ quên. Tôi vượt cả ngàn cây số để tới đây đêm nay và cũng bõ công nếu bạn tôi cũng tới.”
Người đứng chờ rút trong túi ra chiếc đồng hồ rất sang, vỏ nạm hột xoàn.
- “Mười giờ kém ba phút rồi!”, hắn nói to. “Hồi ấy, lúc chúng tôi chia tay ở quán này, chính xác là mười giờ.”
- “Anh làm ăn khấm khá ở miền Tây chứ?” viên cảnh sát hỏi.
- “Còn phải nói! Tôi hy vọng Jimmy được một nửa như thế. Hắn vẫn thuộc loại chậm chạp, tuy vậy vẫn là bạn tốt của tôi. Tôi đã phải đánh vật với nhiều tay sừng sỏ nhất mới kiếm được chút đỉnh bây giờ đây chứ! Ở New York con người thường ù lì. Có đến miền Tây mới sắc sảo được.”
Viên cảnh sát xoay xoay cái dùi cui và bước tới vài bước.
- “Tôi đi đây. Mong là bạn anh sẽ đến. Nếu anh ta không đến vào đúng mười giờ anh có bỏ đi không?”
- “Ồ không, người kia nói. Ít nhất tôi cũng đợi hắn nửa giờ. Nếu Jimmy còn sống, hắn sẽ đến đây trong khoảng thời gian đó. Xin chào ông cảnh sát.”
- “Chào anh!”, viên cảnh sát nói và tiếp tục cuộc tuần tra, đẩy thử cửa mỗi nhà khi đi ngang qua.
Lúc này trời đổ cơn mưa bụi lạnh lẽo và những làn gió ngập ngừng đã nổi lên thành từng cơn. Một vài khách bộ hành còn quanh quẩn trong khu phố vội rảo bước, âm thầm lặng lẽ, cổ áo kéo cao, tay đút vào túi. Và ở cửa tiệm bán đồ sắt, người đàn ông đã vượt qua cả ngàn cây số để giữ đúng một lời hẹn vu vơ đến mức vô lý với người bạn thời trẻ, vẫn đứng hút xì gà chờ đợi.
Được chừng hai mươi phút thì một người cao lớn mặc áo khoác dài, cổ áo dựng đứng tận mang tai, từ phía bên kia đường vội vã băng qua. Anh ta chạy thẳng đến chỗ người đàn ông đứng chờ.
- “Cậu đấy hả, Bob?” Anh ta hỏi, nghi hoặc.
- “Ôi, cậu đấy phải không, Jimmy Wells?”, người đàn ông đứng ở cửa kêu lên.
- “Trời đất ơi!”, người mới tới reo lên và nắm chặt cả hai bàn tay người kia. “Đúng là Bob đây rồi. Tớ chắc chắn sẽ gặp cậu ở đây nếu cậu còn sống. Hưm hưm..., hai mươi năm quả là dài. Bob này, cái tiệm cũ mất rồi, tớ ước chi nó vẫn còn đó để tớ với cậu còn ăn tối một bữa nữa với nhau. Đất miền Tây đãi cậu ra sao hả bạn hiền?”
- Tuyệt! Miền Tây đã cho tớ những gì tớ mong muốn. Cậu thay đổi nhiều đấy, Jimmy. Tớ không nghĩ cậu lại cao thêm lên đến năm sáu phân.(1)
- Ừ, sau năm hai mươi tuổi tớ có cao thêm một chút.
- Ở New York cậu làm ăn khá chứ, Jimmy?
- Tàm tạm thôi. Tớ làm ở một công sở của thành phố. Đi thôi, Bob, tụi mình sẽ tới một chỗ tớ quen, rồi cùng hàn huyên chuyện ngày xưa.
Hai người khoác tay nhau đi ngược đường phố. Người từ miền Tây tới, do thành công nên tỏ ra tự cao, bắt đầu kể qua quá trình làm ăn của mình. Còn người kia, thân hình chìm trong chiếc áo khoác, chăm chú lắng nghe.
Ở góc đường có một nhà thuốc, đèn điện sáng trưng. Khi họ bước tới chỗ ánh sáng chói lòa ấy, cả hai người cùng lúc quay lại nhìn chằm chằm vào mặt nhau. Người từ miền Tây đến bỗng dừng lại và rút tay ra.
- “Anh đâu phải là Jimmy Wells!”, hắn cáu kỉnh nói. “Hai mươi năm dài thật nhưng cũng chưa đủ để thay đổi mũi của một con người, từ mũi cao đến mũi tẹt như thế kia được.
- “Đôi khi thời gian ấy cũng đủ để biến một người chân thực thành kẻ bất lương!”, người cao lớn nói. “Anh đã trong tình trạng bị bắt từ 10 phút rồi, Bob “lành” ạ. Chicago nghĩ là có thể anh sẽ qua chỗ chúng tôi nên đã điện báo cho chúng tôi là họ muốn tán gẫu với anh một chút. Yên mà đi thôi chứ? Vậy là biết điều đó. Bây giờ, trước khi về đồn, đây là mấy chữ mà người ta nhờ tôi trao tận tay anh. Anh có thể đọc ngay ở đây, chỗ cửa sổ này. Cảnh sát tuần tra Wells gởi cho anh đó.”
Người từ miền Tây đến mở miếng giấy nhỏ người kia đưa. Khi bắt đầu đọc, tay hắn vẫn vững như thường, nhưng khi đọc xong thì hơi run run. Mảnh giấy ghi ngắn gọn thế này:
“Bob. Tớ đã đến chỗ hẹn đúng giờ. Khi cậu bật diêm hút thuốc, tớ đã nhận ra khuôn mặt người đang bị truy nã ở Chicago. Làm sao tớ lại có thể tự mình làm việc này nên đành phải nhờ một nhân viên mặc thường phục thực hiện đó Bob à. Jimmy.”
(Dịch từ nguyên tác tiếng Anh - After twenty years - O’ Henry
Nguồn: http://www.newagepublishers.com/samplechapter/000558.pdf)
(TCSH394/12-2021)
--------------------------------
(1) Nguyên tác: by two or three inches. 1 inch = 2,54 cm
OTTO STEIGER (THỤY SĨ)Ai cũng biết rằng cái tên Ruđenxơ tượng trưng cho sức mạnh và lòng dũng cảm, vậy mà nhân vật của chúng ta lại là một người nhút nhát. Có thể nói là từ lúc lọt lòng: mặc cho bác sĩ hầm hừ doạ nạt và bà đỡ cố công thúc đẩy, mãi ông chẳng chịu ra cho. Điều này để lại dấu vết trên diện mạo của ông. Khi rốt cuộc ông cũng được sinh ra và nhìn thấy thế gian buồn khổ này, trông ông xấu xí quá lắm, còn cái đầu thì rõ là chiếc bắp cải chứ không ngoa.
SLAWOMIR MROZEKSlawomir Mrozek sinh ngày 26 tháng 6 năm 1930, là nhà văn, kịch tác gia và hoạ sĩ tranh biếm hoạ nổi tiếng của Ba Lan. Năm 1953 tập truyện ngắn đầu tay của ông ra đời và bốn năm sau đó tập truyện Con voi được nhận giải thưởng của Tạp chí văn hoá.
ERNEST HEMINGWAYKhông ai có thể chỉ cho mọi người biết mình là thế nào rõ rệt hơn chính tôi làm việc đó. Không ai có thể giấu mình khỏi anh em đồng loại, bởi vì mỗi hành vi của con người, mỗi hành động của sáng tạo đều nói về tác giả của nó. Tôi kể hết cho mọi người biết mọi điều về tôi trong các cuốn sách của mình.
ANDRA NEYBURGA ()LGT: Nữ nhà văn Andra Neyburga sinh năm 1957. Tốt nghiệp Viện Hàn lâm Nghệ thuật Quốc gia Latvia, là người sáng lập tạp chí tiên phong của giới trẻ Latvia Mạch nguồn, chuyên viên tư vấn của Hội Nhà văn Latvia, phụ trách Hội tác giả trẻ (1987-1989). Tác phẩm của cô đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Châu Âu như Đức, Anh, Pháp, Nga...
ENYO IOGY TESHANSKY ()(Truyện cổ - có thể cho cả người lớn đọc)Mơ thường trái hẳn với thực, chẳng phải vậy sao? Trong mơ những mong ước thiêng liêng nhất của chúng ta đều được thực hiện. Khi ta mơ thấy được vàng ấy là khi trong đời ta không một xu dính túi. Nói gọn lại, tương tự như ví dụ này, bạn có thể dễ dàng hình dung tình hình chính trị và xã hội của Xứ Mơ là thế nào.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)Tôi ngồi trong quán cà phê, cũ, vắng, và đang uống cốc nước chè của mình, bỗng tôi thấy có một vật mà ta có thể gọi là người tí hon đang đi ngang qua mặt bàn.
Mẹ tôi làm nghề phù thủy. Bà có thể chế thứ thuốc nước để làm sáng mắt hay để làm nóng dạ con. Bà biết cách thụt rửa âm đạo để có con trai như ý muốn hay chế một liều thuốc độc để tẩy những đứa trẻ không được mong muốn sinh ra. Ngoại trừ những lúc cấp bách, bà tự hái thuốc và lấy những phần thân thể động vật, tôi không được phép giúp bà.
LGT: Tác giả có cách dẫn dắt truyện bất ngờ, lôi cuốn nhờ chọn lựa một chi tiết vừa là nhan đề hay: “Cánh cửa sổ mở”. Từ đó trộn lẫn thực tại với ảo giác qua lời “bịa như thật” với lôgích tưởng tượng tuyệt vời. Điểm đặc sắc là cách xây dựng cấu trúc nhân vật theo kiểu thôi miên nạn nhân bị suy nhược thần kinh của một cô gái tinh nghịch có trí tưởng tượng bịa chuyện lạ kỳ.Chính việc lựa chọn điểm nhìn trần thật bên trong của nhân vật Framton dọc suốt 2/3 truyện với sự ngây thơ dễ tin của anh tạo nên một kết thúc bất ngờ hài hước. BỬU NAM giới thiệu
(tiếp theo phần 1)
Hanan Al Shaykh sinh ra trong một gia đình theo đạo Hồi ở Libăng. Bà lớn lên ở Beirut và sau đó học tại Cairo; là một phóng viên có tiếng ở Beirut và Cairo . Bà lấy chồng là một kỹ sư người Libăng theo đạo Thiên chúa giáo và có hai con. Từ năm 1982 do nội chiến nên họ chuyển tới sống ở London . Bà đã viết ba tiểu thuyết được hoan nghênh nồng nhiệt, Câu chuyện của Zahra, Những người đàn bà của cát và Myrrh. Truyện Myrrh đã được thời báo Publisher's Weekly chọn là một trong số 50 cuốn sách hay nhất năm 1992, và gần đây nhất bà xuất bản cuốn Những nữ học giả ở Beirut . Bà còn là tác giả của một số tập truyện ngắn.
- Coi nào, tạm biệt Jerry! Chăm sóc tốt bà chủ nhé. Phải vâng lời, đừng sủa bậy, đừng có hơi một tí là cáu nghe chưa. Tao sẽ báo cho mày khi nào tao về và mày phải chịu trách nhiệm cái nhà này khi tao vắng mặt đó.
Maisa thích những cái cây đó dù cô không biết chúng tên gì và cũng không tính xem chúng có bao nhiêu nữa. Các thân cây quyện vào nhau rồi lại tách ra, tán lá xoè xuống trải rộng trên mặt đất, những cái lá hình nón xào xạc trong cơn gió chiều.
LTS: Jhumpa Lahiri, sinh ở London trong một gia đình người Belgali (Ấn Độ), lớn lên ở đảo Rhode, hiện sống tại New York . Truyện “Người dịch bệnh” được rút từ tập truyện ngắn Interpreter of Maladies là tác phẩm đầu tay của cô, đã được giải Pulitzer 2000 cho thể loại truyện hư cấu, giải của báo New Yorker cho sách đầu tay hay nhất. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu.
1Anh trở về nhà dọc theo con phố của một thành phố nhỏ ở Czech, nơi anh đã mấy năm sống bình lặng, quen chịu những người hàng xóm hay chuyện và cảnh tục tằn đơn điệu tại công sở - anh bước đi không để ý gì xung quanh (như người ta đi trên con đường đã qua lại trăm lần) và suýt nữa thì ngang qua chị mà không biết.
“Chính anh đã cho em biết tình yêu là gì”. Herman Hesse
Ở miền Nam Thái Bình Dương xa xôi kia có hai hòn đảo nằm cạnh nhau tên là Nurabandi và Kiniwata.
Một truyện ngắn của nhà văn Mỹ, đoạt giải Nobel đầu tiên của nền văn học này vào năm 1930, nhà văn Sinclair Lewis, với truyện “Ông trẻ Axelbrod vào Đại học” do dịch giả và nhà nghiên cứu văn học Phan Quang Định dịch. Các bạn sẽ thưởng thức tài năng viết truyện ngắn của nhà văn này, bên cạnh tài năng viết tiểu thuyết của ông.