Góc nhỏ miền cực lạc

16:06 03/09/2008
NGUYỄN HỮU THÔNGĐã từ lâu lắm, chúng tôi mới có dịp gặp gỡ đông đủ như thế này. Nhận ra nhau rồi mới giật thót mình nhìn lại; ai cũng tưởng chỉ mới hôm qua, và cái khoảng mơ hồ dẫn đến hôm nay, sao đã làm tóc mọi người bạc đi nhiều thế.

Cả bọn rủ nhau lang thang trên lối dẫn của những gì đã thành hoài niệm. Và trong lúc này, vườn chùa chính là địa chỉ níu mọi người lại với nhau nhanh nhất.
Nhóm chúng tôi có hai tăng sĩ, ngày xưa cùng học chung với nhau ở giảng đường Văn khoa. Chốn thiền môn, nơi các vị này an trú, chính là điểm hẹn cho mọi người những ngày nghỉ học, những buổi đẹp trời có nắng nhẹ, mưa thưa.
Ngôi chùa, vườn chùa, sự luân chuyển vô hình của không khí cửa thiền mà chúng tôi hít thở một thời, đã tạo cho từng người những chiêm nghiệm, thói quen, xu hướng rất gần gũi nhau. Từ đó, chúng tôi đã vụng dại "hóa thạch" những ghi nhận về nó trong tuổi hoa niên của mình, thành thứ chuẩn mực không một lời bảo chứng.
Hôm nay, tất cả cùng nhau trở lại chốn cũ, trong cơn mưa bụi hiếm hoi của những ngày cuối xuân. Lối mòn cỏ dại và những mái ngói rêu phong thấp thoáng dưới hàng lão mai không còn nữa. Mọi người âm thầm nhận ra, bây giờ không gian tự viện đã đổi thay: khang trang, lộng lẫy, sang trọng và quý tộc hơn nhiều. Nhưng, trong lời tán thán, từng vị lại muốn tiễn đưa nhóm từ: êm đềm, giản dị, nhẹ nhàng, thanh thoát vào trong nốt nháy. Những dấu lặng của sự cảm hoài trong khúc nhạc thời gian...
Chúng tôi biết tội của mình, vì vòng quay của sự phát triển bao giờ cũng lăn về phía trước. Quy luật lịch sử là vùng chứa cho những đổi thay, thích ứng và thỏa mãn yêu cầu không ngừng khác và mới đang hàng ngày hàng giờ đặt ra. Cho nên, tại sao lại phải yêu và bám lấy những nét rêu phong, những kiến trúc bình dị, khiêm tốn, ẩn hiện thấp thoáng trong rừng cây?. Tại sao lại phải xem sự đạm bạc, giản dị từ cách phục sức, phương tiện sống, tiện nghi sinh hoạt thể hiện qua đồ dùng, cách trang trí, thiết trí của những con người thoát tục đang hiện diện ở đó là ấn tượng đẹp đẽ, thanh cao làm chúng tôi ngưỡng vọng?. Tại sao lại cảm thấy nhói đau một cách vô lý và vô nghĩa khi thấy những giống cây xưa, những bồn cảnh cũ, những đôn chậu, hòn non mà dấu thời gian đã hằn lên từng gốc, cành, góc, cạnh, không còn nữa?.
Chàng tăng sĩ trẻ tuổi ngày nào bất chợt cảm khái kể cho chúng tôi nghe về tuổi thơ của mình với đám chúng điệu cùng lứa, hoang nghịch và đáo để một cách dễ thương, qua những giây phút ngoài phận sự:
Thuở ấy, họ thường lang thang trên những lối mòn của núi đồi thoai thoải lắm lùm bụi liền sát nhau. Đầu không tóc mà trời nắng chang chang vẫn không cản được bước chân tìm thế giới tuổi thơ qua những chùm trái dại: Trên cao, trái "cơm nguội" vàng hình vỏ đậu đang "mở nắp" để lộ ra mấy hạt đỏ nhỏ xíu. Một chút nữa thôi, trong tầm tay với, chú bé sẽ túm được phút giây nhâm nhi, thưởng thức cảm giác beo béo, chan chát, bùi bùi. Và bên tê, một nải bò bò cũng vàng không kém, vàng hơn cả áo trên dậu phơi sau chùa. Màu vàng của nải chuối cúng ngày 16, 17, hay mồng 2, mồng 3 hàng tháng đã ngậy lên chất ngọt tuổi chín. Nhìn ra một nải chín, một buồng hườm; thôi thì cứ hái, đặt lẫn lộn với nhau vào chiếc túi nâu bạc trên áo.
Cây trái lùm bụi gây cho chú tiểu sự chú ý nhiều nhất ở sắc đen tím của trái mócsim chín. Hấp dẫn, ngọt ngào do có thể ăn được nhiều, nhưng hậu quả tai hại từ chúng, là để lộ trên khóe môi và hàm răng trắng một thứ mực xanh (tố cáo thời gian lêu lổng ngoài khuôn viên tự viện) và không thể nóng lòng tẩy được dấu tích này trong khoảnh khắc.
Cũng với màu tím đen, nhưng khó kiếm hơn là trái muồng. Gặp được chúng là cả một kho dự trữ đồ ăn dặm cho nhiều người và nhiều ngày hơn.
Sắc đen thường là biểu tượng của bóng tối, sự nghiêm nghị, thiên về chất ẩn lặng, nhưng, sao màu đen của trái chín lại rộn ràng và háo hức đến thế!...
Ăn đỡ buồn những lúc "thu hoạch" kém là trái chuồn chuồn, mảng cồn, ngũ sắc. Chuồn chuồn kết thành chùm, được bọc ngoài một màng trong như thủy tinh, đưa vào mồm chưa kịp nhận ra chút vỡ dòn của lớp vỏ bọc, thì lại gặp thoáng qua vị ngây ngây, ngọt ngọt của hạt trái; nói chung là chẳng kịp thưởng thức được gì rõ ràng thì chúng đã tiêu biến đâu mất.
Trái ngũ sắc, mãng cồn chín, màu sắc không kém phần hấp dẫn, nhưng chỉ là thứ "ăn độn" trong rừng trái dại, cực chẳng đã khi thất thu. Chúng là loại lượm lặt, hái ngậm, giết thời gian, rồi phun hạt vào nhau cho đỡ buồn. Tuy nhiên, không vì thế mà những chùm trái đen thẫm với tuổi chín tới của mãng cồn, ngũ sắc... từ chối đi vào giấc ngủ trưa chập chờn của chú tiểu trên thềm rêu bên hiên chùa.
Đẹp nhất vẫn là trái mâm xôi, đúng như mâm xôi gấc, bằng "phép mầu" được thu nhỏ bằng lóng tay cái, óng ả và ngời lên trong đám lá xanh đầy gai nhọn. Quả chín ngọt lịm từng hạt nhỏ, luôn muốn vỡ òa rồi lăn tăn như có ga trong lưỡi. Trái hườm chưa tròn màu, cũng có cái thú dòn chua, xen chút chan chát. Và "thực khách"mỗi khi ăn xong, nướu và lưỡi phải cọ nhẹ vào nhau một lúc mới trở lại cảm giác bình thường.
Chịu khó tọc mạch, vén lá quan sát trong đám bụi thấp, mới có thú khám phám những trái cam rượu nhỏ như hạt bắp, nhưng tròn trĩnh một màu vàng cam mọng nước, ẩn lắng bên trong sắc hồng mật ngọt. Vỏ và nước những trái hoà tan vào miệng như giọt coctail có lẫn xác, ngây nồng xông lên tận mũi. Người ta đặt cho nó cái tên cam rượu là có lý.
Trong họ sim móc thì cây mua cũng cho trái từ những đóa hoa tím mà nhiều người thành phố nhầm với hoa sim. Cánh hoa mua to, rực rỡ, mong manh; nhụy vàng và ngắn hơn sim. Sự hiển lộ này hình như không được người ở đây yêu chiều bằng hoa sim tím nhạt, lạnh và ít phô trương hơn. Các chú bé thì đứng về phe sim, bởi trái chín ngon hơn hẳn trái mua, gần như sim nhưng khi tới tuổi thì nứt ra, khô khốc và chỉ được chú ý "săn sóc" khi những chùm sim cạnh đó đang còn xanh.
Rừng quả dại của núi đồi không chỉ là trái, mà còn là hoa, cành, lá... Chất mật ngọt của những ống hoa trang, ngũ sắc... được túm lại thành từng nhúm từ những ngón tay xinh, lật ngược chúng đưa vào miệng, hút sâu; mật hoa hòa tan trong lưỡi ngây ngây, ngọt ngọt. Cảm giác ấy có lẽ cũng đã từng có trong vòi ngậm của bướm ong; và phải chăng vì thế, nhóm côn trùng này bao giờ cũng lăng xăng, hào hứng, chập chờn trước những khóm hoa.
Đọt mâm xôi, đọt cây đầu tôm tước vỏ để ăn lõi, cũng là thú nhâm nhi của những chú điệu nhỏ trên quãng đường khám phá trái chín vườn đồi...

Chúng tôi, không ai bảo ai cũng dừng lại ở một khoảng rào dậu hiếm hoi, vì một lý do nào đó mà la thành với hai mái giả và những chiếc thạch đăng chưa với tới.
Ở đấy, còn trơ lại một gốc cây mốc đen do đã bị chặt từ lâu.
Người tăng sĩ trong nhóm - chú điệu nhỏ ngày nào, dừng lại bên gốc cây, ánh mắt trở nên tinh nghịch, vỗ vai thách đố chúng tôi:
- Các bạn biết đây là gốc cây chi không?
Ai trong nhóm cũng nhớ ra, nhưng tất cả tỏ vẻ như đang lục tìm ký ức, giả đò bới tung những hoài niệm, trong lúc chúng vốn xếp đặt một cách ngăn nắp trong khoảng riêng của mỗi người. Vờ quên bởi một điều giản dị là không ai muốn cắt dòng chảy đang êm đềm trôi trong lòng vị hào bằng hữu.
- Đây là gốc cây bứa!
Chúng tôi cùng vờ à lên một tiếng, mở đầu cơ hội để cùng nhau nhắc đến bao nhiêu kỷ niệm: lá bứa non để nhai chơi, lá bứa xanh non trong rổ rau sống với lá móc tím và các loại rau mùi. Vị chua và chát của những chiếc lá bứa trong nỗi nhớ, làm xót mí mắt và đầu lưỡi của mỗi chúng tôi như muốn tê lại.
Vị tăng sĩ tiếp tục:
- Ngày trước, mỗi buổi trưa trốn ngủ, leo lên cây bứa, nghe tiếng thầy gọi là lại niệm Phật. Cũng không hiểu là tại sao nữa?
Trái bứa đối với trẻ thơ là món quà lớn, bởi trông chúng "oai" và hoàn chỉnh hơn đám trái dại ngoài vườn đồi nhiều. Một loại "măng cụt" (giáng châu) của riêng chúng tôi. Bởi cấu trúc giữa hai trái chẳng khác gì nhau, có chăng là màu vàng của bứa từ vỏ đến múi chua, nhựa và rát hơn.
Đong đưa trên cây bứa (chúng rất khó leo vì cành thường mọc dày và chìa ngang), phóng tầm mắt về phía làng xa, nơi có khoảng đất chăn thả và những đám cỏ xanh mượt, nhìn lũ trẻ cùng trang lứa đá bóng, thả diều... Khoảnh khắc ấy đối với tôi, chính là góc nhỏ miền cực lạc thấp thoáng trong trang kinh những lúc nguyện cầu.
Cây chay, bứa, me, bần quân... là "đám bạn" thân thiết, gắn các chú điệu nhỏ vào tuổi thơ ngà ngọc một cách êm ái như bao cậu bé khác, bởi mọi người mặc nhiên thừa nhận chúng như những món quà tặng của thiên nhiên, được phép nhận mà không cần phải xin ai. Ngược lại, những cây trái thuần dưỡng trong vườn ít gắn bó hơn, do chúng đòi hỏi một chiều chăm sóc tưới tẩm, và sau đó là ngoài tầm quyết định của mình.
Khu vườn xưa bây giờ trở nên tươm tất từ lối đi cho đến cây trồng. Mọi cái đều sạch đẹp và quý phái hẳn ra. Thiên nhiên hoang dã đã lùi vào đằng sau bức thành xây. Tôi rất mừng với nét phong quang, hưng thịnh, nhưng cũng nhoi nhói như vừa tiếp một nhát chém âm thầm của thời gian, xóa sạch tuổi thơ diễm tuyệt của mình, mà ở phương xa, ngay trong cả giấc mơ, tôi cũng thường gặp nó.
Mọi người trong chúng tôi đều gặp nhau trong tâm trạng ấy, nhưng không một ai nói ra.
Chàng tăng sĩ tìm đến một bóng mát cạnh bảo tháp ngài khai sơn và gọi mọi người lại.
Ở đây không có ai ngoài chúng tôi, những người một thời là chứng nhân cùng với những nỗi buồn vui và sự thay đổi này.
Một chú tiểu mang ra khay trà đặt giữa thảm cỏ, mà ngày xưa, nơi đây là chiếc bồn gạch trồng cây dạ hợp có cánh hoa màu xanh lá chuối non. (Loài hoa lạ của vườn chùa mà chúng tôi thường hay hái trộm để tặng bạn gái.)
Mọi người nhấp một ngụm trà và tâm sự lại theo đó trào dâng.
- Các bạn biết không?- Vị tăng sĩ lại tiếp tục: - Ngày xưa vì một phần chùa nghèo, một phần do ý thích của thầy, bọn tui mỗi sớm sau khi công phu, thường hay dạo quanh đồi hái những cành hoa dại: sim, mua, lan đất, dã quỳ... kết thành bó mang về. Trên hiên chùa với thau nước giếng trong vắt, bổn sư với chiếc áo nâu mỏng sờn vai... an lạc, thong thả ngồi tỉa cành, rửa lá, cắm những cành hoa dại vào bình cổ ngắm nghía thật vừa ý và ra hiệu cho chúng tôi mang lên cúng Phật.
Ngày ấy chùa nhỏ nên tượng Phật và độc bình cũng nhỏ. Những cành hoa dại cũng vừa tầm cân xứng. Dâng cúng chút hương hoa của thiên nhiên hoang dã và tấm lòng thành lên Đức Thế Tôn sao trong lòng tôi thấy ấm áp lạ thường.
Ngôi điện Phật bằng gỗ nhỏ nhắn, thấp tối, nhưng tôi không hề thấy âm u lạnh lẽo, không hề thấy bị tù túng và chật chội và nhất là không hề vướng một chút so bì nào về mặt tiện nghi.
Hình tượng Đức Phật gần với tôi hơn, không có trong tôi khoảng cách giữa một đối tượng đầy quyền năng, khiến mình cảm thấy nhỏ nhoi cần sự che chở, mà tràn ngập hình ảnh dịu dàng, thân thiện, từ bi của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni. người thầy luôn thấu hiểu và tha thứ những sự vụng dại mê lầm của mình. Và hình như Đức Phật là vị giáo chủ (nên xem như thế) duy nhất, cho mọi người biết rằng, họ có thể ngồi tòa sen với ngài, khi đi đúng con đường ngài đã qua.
Vừa rồi, khi đảnh lễ Ngài trong ngôi chùa mới lộng lẫy, khang trang, tôi thấy cả vòm điện Phật lồng lộng bởi khoảng rộng và chiều cao, khiến một âm khẽ cũng dội tiếng ngân. Tượng Đức Bổn Sư ngày trước vì kích cỡ không còn phù hợp, nên đã được tôn trí trong tủ kính đặt ở phía sau.
Tôi tự vấn và đảnh lễ:"Bạch Đức Thế Tôn! hình như con có chút gì đó xao động trong khung cảnh này. Con biết mọi cái thuộc về hình tướng, nhất nhất có thể thay đổi, tượng Phật hay điện Phật cũng đều như thế cả, nhưng con vẫn là kẻ u muội, chấp nhất và chưa tìm được sự phẳng lặng trong lòng mình lúc này.
Một anh bạn trong nhóm chúng tôi lúc này mới lên tiếng:
- Cả đến thầy còn như vậy huống chi tụi này! Hình như giữ được cái thần khiếm tốn, không thiên về sự phô diễn công trình do con người làm được, nó mới giữ được cái phép sống hòa với thiên nhiên. Cái phép sống mà ý tưởng cải tạo, chinh phục, chế ngự tự nhiên sẽ không có trong ấy. Ngay cả cung điện của thiên tử Việt hình như cũng không thoát ra khỏi tư tưởng này.
Những dạng kiến trúc từ chối cảnh quan và cây xanh hoặc chỉ manh nha thể hiện điều đó, đều làm cho chúng xa lạ với chính chúng và với mọi người.
Ở đây không có ai ngoài chúng bạn thân, nên tôi cũng mạnh miệng nói càn:
- Kiến trúc tôn giáo cũng là một công trình văn hóa, cho nên, nó cũng không thể tách khỏi những sắc thái văn hóa được hình thành từ những đặc thù của một vùng đất. Ngoài mẫu số chung trên nền văn hóa Việt , còn có những nét riêng của vùng miền. Việc bảo tồn những đặc thù đó không những là bày tỏ sự tôn trọng truyền thống mà còn góp phần khẳng định những biến điệu đầy ấn tượng làm nên sự phong phú cho văn hóa dân tộc.
- Ông quan niệm thế nào về sự giao lưu, và đa dạng trong văn hóa mà nói nhiều thế!
- Phạm vi cũng như quá trình giao lưu văn hóa nhân loại dù không muốn chúng vẫn cứ diễn ra. Vấn đề là việc tiếp thu phải như thế nào để khỏi làm sứt mẻ những định hình đã được trải nghiệm từ nhiều thế hệ. Cho nên, thành tựu kế thừa, gạn lọc, tiếp biến văn hóa thường diễn ra dựa trên bản lĩnh của kẻ "phát" lẫn "nhận" qua những biểu hiện của sự ứng xử?!
- Chuyện chi mà ông lại nhắc đến kiến trúc Huế có vẻ trầm trọng như thế.
- Nơi còn cố giữ trên vật liệu kiến trúc mới, hình dáng và cấu trúc cổ truyền hiện nay, chính là các cơ sở phong tục, tín ngưỡng như đình, miếu, nhà thờ họ phái, chùa chiền. Và trong tổng thể cảnh quan ấy, kiến trúc Huế đã tạo được những nét riêng được khẳng định, đó là sự mảnh dẻ, tinh tế, tìm được sự hòa diệu tuyệt vời vào thiên nhiên.
- Thì kiến trúc ở các miền khác của Việt cũng vậy thôi chứ có chi khác.
- Tại răng tui gọi kiến trúc Huế là mảnh dẻ, tinh tế và duyên dáng - bởi khung sườn, cột kèo của ngôi nhà Huế thường nhỏ nhắn. Ông cứ xem điện Thái Hòa, cung điện lớn vào bậc nhất của triều Nguyễn, cột cũng không to hơn cột đình, cột chùa phía Bắc.
Chính vì cột nhà Huế nhỏ và thanh tú, cho nên cần đến ấn tượng hài hòa về mặt hình khối là mái phải mỏng. Đường nóc cũng như như đầu mái nhà Huế từ đó chỉ trang trí những dạng kiểu thức như dấu nhấn vút nhẹ, vừa đủ tạo cảm giác "trở mình", xóa đi những đường ngay số thẳng đến nghiêm nghị của mái, mà người thợ Huế gọi là mỏ neo, mỏ cu, guộc mây, mụt mây...
Khác với Huế, kiến trúc đất Bắc có xu hướng giải quyết vì kèo và cột chịu lực bằng những dạng cấu kiện chắc, to, khỏe, bụ bẫm với những mảnh khắc sâu, nét chạm dứt khoát. Cho nên, phần mái phối hợp tương ứng qua những giải pháp kỹ thuật khôn khéo, đã khiến chúng trông thật dày dặn; tạo cho người đứng trước nó một sự quân bình dễ chịu về cảm giác hình khối.
Tuy nhiên, tổng thể ấy lẽ ra sẽ gây nên ấn tượng lún thấp và thô nặng, thì người thiết kế đã tài tình giải quyết đầu mái thành những đường đao, vút lượn cao lên như những chiếc cánh, nâng toàn bộ hình khối nhẹ hẫng và sinh động hẳn ra. Chính hình ảnh đó đã tạo nên những ấn tượng sâu sắc khi chúng ta tiếp xúc với kiến trúc Đàng Ngoài.
Mọi người nghe "ông cụ" thao thao bất tuyệt, cho đến khi có người cắt ngang.
- Phân tích "mệt mỏi" như rứa, ý ông muốn nói cái chi?
- Đơn giản thôi, trong lối xử lý thanh tú bằng cột mảnh - mái nhẹ của Huế, thì những loại đầu đao vút cao lên như kiến trúc phía Bắc, sẽ tạo cho chúng ta cảm giác bộ mái không muốn sống chung với khung sườn và bứt khỏi cột để bay lên. Và rõ ràng, nếu như đã muốn ly dị thì làm răng có thể trở thành một mái ấm. Tội chi phải làm cho nó mất quân bình. Tội chi phải xoá đi phong cách truyền thống Huế, và tội chi phải tìm cách xử lý mơ hồ không từ sự ứng xử bởi tình huống cụ thể nào như rứa.
- Thôi! Thôi! Tui biết ông có nhiều điều còn muốn nói nữa, nhưng ông quên chúng ta chỉ có một ngày ngắn ngủi cạnh nhau?
Cả nhóm kết thúc tuần trà và cùng nhau vào thăm Dì, bà vãi già một thời đã cho chúng tôi những đọi tương béo ngậy với những củ kiệu và ớt chỉ thiên trôi bềnh bồng trong ấy để chấm rau khoai, dưa lan, đọt bí, đọt su su...
Bà Dì không còn đi lại được nữa, mắt đục trắng và đầu không còn tóc. Những ngày tháng còn lại của Dì thật mong manh. Con người ấy, theo chúng tôi, đã chứng kiến và chia sẻ trọn vẹn những thăng trầm, thịnh, suy của một góc nhân sinh.
Và bây giờ trong cõi tĩnh mịch yên ắng này, chẳng rõ bà Dì có biết ngoài kia đang có những đổi thay gì không trong cảnh sắc của đất trời, cây cỏ, khuôn viên, cảnh vật, kiến trúc và lòng người?!
N.H.T

(nguồn: TCSH số 163 - 09 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)

  • PHAN TÂM        (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.

  • LTS: Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số trang trong cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và hai bài viết liên quan đến cuốn sách