Góc nhỏ miền cực lạc

16:06 03/09/2008
NGUYỄN HỮU THÔNGĐã từ lâu lắm, chúng tôi mới có dịp gặp gỡ đông đủ như thế này. Nhận ra nhau rồi mới giật thót mình nhìn lại; ai cũng tưởng chỉ mới hôm qua, và cái khoảng mơ hồ dẫn đến hôm nay, sao đã làm tóc mọi người bạc đi nhiều thế.

Cả bọn rủ nhau lang thang trên lối dẫn của những gì đã thành hoài niệm. Và trong lúc này, vườn chùa chính là địa chỉ níu mọi người lại với nhau nhanh nhất.
Nhóm chúng tôi có hai tăng sĩ, ngày xưa cùng học chung với nhau ở giảng đường Văn khoa. Chốn thiền môn, nơi các vị này an trú, chính là điểm hẹn cho mọi người những ngày nghỉ học, những buổi đẹp trời có nắng nhẹ, mưa thưa.
Ngôi chùa, vườn chùa, sự luân chuyển vô hình của không khí cửa thiền mà chúng tôi hít thở một thời, đã tạo cho từng người những chiêm nghiệm, thói quen, xu hướng rất gần gũi nhau. Từ đó, chúng tôi đã vụng dại "hóa thạch" những ghi nhận về nó trong tuổi hoa niên của mình, thành thứ chuẩn mực không một lời bảo chứng.
Hôm nay, tất cả cùng nhau trở lại chốn cũ, trong cơn mưa bụi hiếm hoi của những ngày cuối xuân. Lối mòn cỏ dại và những mái ngói rêu phong thấp thoáng dưới hàng lão mai không còn nữa. Mọi người âm thầm nhận ra, bây giờ không gian tự viện đã đổi thay: khang trang, lộng lẫy, sang trọng và quý tộc hơn nhiều. Nhưng, trong lời tán thán, từng vị lại muốn tiễn đưa nhóm từ: êm đềm, giản dị, nhẹ nhàng, thanh thoát vào trong nốt nháy. Những dấu lặng của sự cảm hoài trong khúc nhạc thời gian...
Chúng tôi biết tội của mình, vì vòng quay của sự phát triển bao giờ cũng lăn về phía trước. Quy luật lịch sử là vùng chứa cho những đổi thay, thích ứng và thỏa mãn yêu cầu không ngừng khác và mới đang hàng ngày hàng giờ đặt ra. Cho nên, tại sao lại phải yêu và bám lấy những nét rêu phong, những kiến trúc bình dị, khiêm tốn, ẩn hiện thấp thoáng trong rừng cây?. Tại sao lại phải xem sự đạm bạc, giản dị từ cách phục sức, phương tiện sống, tiện nghi sinh hoạt thể hiện qua đồ dùng, cách trang trí, thiết trí của những con người thoát tục đang hiện diện ở đó là ấn tượng đẹp đẽ, thanh cao làm chúng tôi ngưỡng vọng?. Tại sao lại cảm thấy nhói đau một cách vô lý và vô nghĩa khi thấy những giống cây xưa, những bồn cảnh cũ, những đôn chậu, hòn non mà dấu thời gian đã hằn lên từng gốc, cành, góc, cạnh, không còn nữa?.
Chàng tăng sĩ trẻ tuổi ngày nào bất chợt cảm khái kể cho chúng tôi nghe về tuổi thơ của mình với đám chúng điệu cùng lứa, hoang nghịch và đáo để một cách dễ thương, qua những giây phút ngoài phận sự:
Thuở ấy, họ thường lang thang trên những lối mòn của núi đồi thoai thoải lắm lùm bụi liền sát nhau. Đầu không tóc mà trời nắng chang chang vẫn không cản được bước chân tìm thế giới tuổi thơ qua những chùm trái dại: Trên cao, trái "cơm nguội" vàng hình vỏ đậu đang "mở nắp" để lộ ra mấy hạt đỏ nhỏ xíu. Một chút nữa thôi, trong tầm tay với, chú bé sẽ túm được phút giây nhâm nhi, thưởng thức cảm giác beo béo, chan chát, bùi bùi. Và bên tê, một nải bò bò cũng vàng không kém, vàng hơn cả áo trên dậu phơi sau chùa. Màu vàng của nải chuối cúng ngày 16, 17, hay mồng 2, mồng 3 hàng tháng đã ngậy lên chất ngọt tuổi chín. Nhìn ra một nải chín, một buồng hườm; thôi thì cứ hái, đặt lẫn lộn với nhau vào chiếc túi nâu bạc trên áo.
Cây trái lùm bụi gây cho chú tiểu sự chú ý nhiều nhất ở sắc đen tím của trái mócsim chín. Hấp dẫn, ngọt ngào do có thể ăn được nhiều, nhưng hậu quả tai hại từ chúng, là để lộ trên khóe môi và hàm răng trắng một thứ mực xanh (tố cáo thời gian lêu lổng ngoài khuôn viên tự viện) và không thể nóng lòng tẩy được dấu tích này trong khoảnh khắc.
Cũng với màu tím đen, nhưng khó kiếm hơn là trái muồng. Gặp được chúng là cả một kho dự trữ đồ ăn dặm cho nhiều người và nhiều ngày hơn.
Sắc đen thường là biểu tượng của bóng tối, sự nghiêm nghị, thiên về chất ẩn lặng, nhưng, sao màu đen của trái chín lại rộn ràng và háo hức đến thế!...
Ăn đỡ buồn những lúc "thu hoạch" kém là trái chuồn chuồn, mảng cồn, ngũ sắc. Chuồn chuồn kết thành chùm, được bọc ngoài một màng trong như thủy tinh, đưa vào mồm chưa kịp nhận ra chút vỡ dòn của lớp vỏ bọc, thì lại gặp thoáng qua vị ngây ngây, ngọt ngọt của hạt trái; nói chung là chẳng kịp thưởng thức được gì rõ ràng thì chúng đã tiêu biến đâu mất.
Trái ngũ sắc, mãng cồn chín, màu sắc không kém phần hấp dẫn, nhưng chỉ là thứ "ăn độn" trong rừng trái dại, cực chẳng đã khi thất thu. Chúng là loại lượm lặt, hái ngậm, giết thời gian, rồi phun hạt vào nhau cho đỡ buồn. Tuy nhiên, không vì thế mà những chùm trái đen thẫm với tuổi chín tới của mãng cồn, ngũ sắc... từ chối đi vào giấc ngủ trưa chập chờn của chú tiểu trên thềm rêu bên hiên chùa.
Đẹp nhất vẫn là trái mâm xôi, đúng như mâm xôi gấc, bằng "phép mầu" được thu nhỏ bằng lóng tay cái, óng ả và ngời lên trong đám lá xanh đầy gai nhọn. Quả chín ngọt lịm từng hạt nhỏ, luôn muốn vỡ òa rồi lăn tăn như có ga trong lưỡi. Trái hườm chưa tròn màu, cũng có cái thú dòn chua, xen chút chan chát. Và "thực khách"mỗi khi ăn xong, nướu và lưỡi phải cọ nhẹ vào nhau một lúc mới trở lại cảm giác bình thường.
Chịu khó tọc mạch, vén lá quan sát trong đám bụi thấp, mới có thú khám phám những trái cam rượu nhỏ như hạt bắp, nhưng tròn trĩnh một màu vàng cam mọng nước, ẩn lắng bên trong sắc hồng mật ngọt. Vỏ và nước những trái hoà tan vào miệng như giọt coctail có lẫn xác, ngây nồng xông lên tận mũi. Người ta đặt cho nó cái tên cam rượu là có lý.
Trong họ sim móc thì cây mua cũng cho trái từ những đóa hoa tím mà nhiều người thành phố nhầm với hoa sim. Cánh hoa mua to, rực rỡ, mong manh; nhụy vàng và ngắn hơn sim. Sự hiển lộ này hình như không được người ở đây yêu chiều bằng hoa sim tím nhạt, lạnh và ít phô trương hơn. Các chú bé thì đứng về phe sim, bởi trái chín ngon hơn hẳn trái mua, gần như sim nhưng khi tới tuổi thì nứt ra, khô khốc và chỉ được chú ý "săn sóc" khi những chùm sim cạnh đó đang còn xanh.
Rừng quả dại của núi đồi không chỉ là trái, mà còn là hoa, cành, lá... Chất mật ngọt của những ống hoa trang, ngũ sắc... được túm lại thành từng nhúm từ những ngón tay xinh, lật ngược chúng đưa vào miệng, hút sâu; mật hoa hòa tan trong lưỡi ngây ngây, ngọt ngọt. Cảm giác ấy có lẽ cũng đã từng có trong vòi ngậm của bướm ong; và phải chăng vì thế, nhóm côn trùng này bao giờ cũng lăng xăng, hào hứng, chập chờn trước những khóm hoa.
Đọt mâm xôi, đọt cây đầu tôm tước vỏ để ăn lõi, cũng là thú nhâm nhi của những chú điệu nhỏ trên quãng đường khám phá trái chín vườn đồi...

Chúng tôi, không ai bảo ai cũng dừng lại ở một khoảng rào dậu hiếm hoi, vì một lý do nào đó mà la thành với hai mái giả và những chiếc thạch đăng chưa với tới.
Ở đấy, còn trơ lại một gốc cây mốc đen do đã bị chặt từ lâu.
Người tăng sĩ trong nhóm - chú điệu nhỏ ngày nào, dừng lại bên gốc cây, ánh mắt trở nên tinh nghịch, vỗ vai thách đố chúng tôi:
- Các bạn biết đây là gốc cây chi không?
Ai trong nhóm cũng nhớ ra, nhưng tất cả tỏ vẻ như đang lục tìm ký ức, giả đò bới tung những hoài niệm, trong lúc chúng vốn xếp đặt một cách ngăn nắp trong khoảng riêng của mỗi người. Vờ quên bởi một điều giản dị là không ai muốn cắt dòng chảy đang êm đềm trôi trong lòng vị hào bằng hữu.
- Đây là gốc cây bứa!
Chúng tôi cùng vờ à lên một tiếng, mở đầu cơ hội để cùng nhau nhắc đến bao nhiêu kỷ niệm: lá bứa non để nhai chơi, lá bứa xanh non trong rổ rau sống với lá móc tím và các loại rau mùi. Vị chua và chát của những chiếc lá bứa trong nỗi nhớ, làm xót mí mắt và đầu lưỡi của mỗi chúng tôi như muốn tê lại.
Vị tăng sĩ tiếp tục:
- Ngày trước, mỗi buổi trưa trốn ngủ, leo lên cây bứa, nghe tiếng thầy gọi là lại niệm Phật. Cũng không hiểu là tại sao nữa?
Trái bứa đối với trẻ thơ là món quà lớn, bởi trông chúng "oai" và hoàn chỉnh hơn đám trái dại ngoài vườn đồi nhiều. Một loại "măng cụt" (giáng châu) của riêng chúng tôi. Bởi cấu trúc giữa hai trái chẳng khác gì nhau, có chăng là màu vàng của bứa từ vỏ đến múi chua, nhựa và rát hơn.
Đong đưa trên cây bứa (chúng rất khó leo vì cành thường mọc dày và chìa ngang), phóng tầm mắt về phía làng xa, nơi có khoảng đất chăn thả và những đám cỏ xanh mượt, nhìn lũ trẻ cùng trang lứa đá bóng, thả diều... Khoảnh khắc ấy đối với tôi, chính là góc nhỏ miền cực lạc thấp thoáng trong trang kinh những lúc nguyện cầu.
Cây chay, bứa, me, bần quân... là "đám bạn" thân thiết, gắn các chú điệu nhỏ vào tuổi thơ ngà ngọc một cách êm ái như bao cậu bé khác, bởi mọi người mặc nhiên thừa nhận chúng như những món quà tặng của thiên nhiên, được phép nhận mà không cần phải xin ai. Ngược lại, những cây trái thuần dưỡng trong vườn ít gắn bó hơn, do chúng đòi hỏi một chiều chăm sóc tưới tẩm, và sau đó là ngoài tầm quyết định của mình.
Khu vườn xưa bây giờ trở nên tươm tất từ lối đi cho đến cây trồng. Mọi cái đều sạch đẹp và quý phái hẳn ra. Thiên nhiên hoang dã đã lùi vào đằng sau bức thành xây. Tôi rất mừng với nét phong quang, hưng thịnh, nhưng cũng nhoi nhói như vừa tiếp một nhát chém âm thầm của thời gian, xóa sạch tuổi thơ diễm tuyệt của mình, mà ở phương xa, ngay trong cả giấc mơ, tôi cũng thường gặp nó.
Mọi người trong chúng tôi đều gặp nhau trong tâm trạng ấy, nhưng không một ai nói ra.
Chàng tăng sĩ tìm đến một bóng mát cạnh bảo tháp ngài khai sơn và gọi mọi người lại.
Ở đây không có ai ngoài chúng tôi, những người một thời là chứng nhân cùng với những nỗi buồn vui và sự thay đổi này.
Một chú tiểu mang ra khay trà đặt giữa thảm cỏ, mà ngày xưa, nơi đây là chiếc bồn gạch trồng cây dạ hợp có cánh hoa màu xanh lá chuối non. (Loài hoa lạ của vườn chùa mà chúng tôi thường hay hái trộm để tặng bạn gái.)
Mọi người nhấp một ngụm trà và tâm sự lại theo đó trào dâng.
- Các bạn biết không?- Vị tăng sĩ lại tiếp tục: - Ngày xưa vì một phần chùa nghèo, một phần do ý thích của thầy, bọn tui mỗi sớm sau khi công phu, thường hay dạo quanh đồi hái những cành hoa dại: sim, mua, lan đất, dã quỳ... kết thành bó mang về. Trên hiên chùa với thau nước giếng trong vắt, bổn sư với chiếc áo nâu mỏng sờn vai... an lạc, thong thả ngồi tỉa cành, rửa lá, cắm những cành hoa dại vào bình cổ ngắm nghía thật vừa ý và ra hiệu cho chúng tôi mang lên cúng Phật.
Ngày ấy chùa nhỏ nên tượng Phật và độc bình cũng nhỏ. Những cành hoa dại cũng vừa tầm cân xứng. Dâng cúng chút hương hoa của thiên nhiên hoang dã và tấm lòng thành lên Đức Thế Tôn sao trong lòng tôi thấy ấm áp lạ thường.
Ngôi điện Phật bằng gỗ nhỏ nhắn, thấp tối, nhưng tôi không hề thấy âm u lạnh lẽo, không hề thấy bị tù túng và chật chội và nhất là không hề vướng một chút so bì nào về mặt tiện nghi.
Hình tượng Đức Phật gần với tôi hơn, không có trong tôi khoảng cách giữa một đối tượng đầy quyền năng, khiến mình cảm thấy nhỏ nhoi cần sự che chở, mà tràn ngập hình ảnh dịu dàng, thân thiện, từ bi của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni. người thầy luôn thấu hiểu và tha thứ những sự vụng dại mê lầm của mình. Và hình như Đức Phật là vị giáo chủ (nên xem như thế) duy nhất, cho mọi người biết rằng, họ có thể ngồi tòa sen với ngài, khi đi đúng con đường ngài đã qua.
Vừa rồi, khi đảnh lễ Ngài trong ngôi chùa mới lộng lẫy, khang trang, tôi thấy cả vòm điện Phật lồng lộng bởi khoảng rộng và chiều cao, khiến một âm khẽ cũng dội tiếng ngân. Tượng Đức Bổn Sư ngày trước vì kích cỡ không còn phù hợp, nên đã được tôn trí trong tủ kính đặt ở phía sau.
Tôi tự vấn và đảnh lễ:"Bạch Đức Thế Tôn! hình như con có chút gì đó xao động trong khung cảnh này. Con biết mọi cái thuộc về hình tướng, nhất nhất có thể thay đổi, tượng Phật hay điện Phật cũng đều như thế cả, nhưng con vẫn là kẻ u muội, chấp nhất và chưa tìm được sự phẳng lặng trong lòng mình lúc này.
Một anh bạn trong nhóm chúng tôi lúc này mới lên tiếng:
- Cả đến thầy còn như vậy huống chi tụi này! Hình như giữ được cái thần khiếm tốn, không thiên về sự phô diễn công trình do con người làm được, nó mới giữ được cái phép sống hòa với thiên nhiên. Cái phép sống mà ý tưởng cải tạo, chinh phục, chế ngự tự nhiên sẽ không có trong ấy. Ngay cả cung điện của thiên tử Việt hình như cũng không thoát ra khỏi tư tưởng này.
Những dạng kiến trúc từ chối cảnh quan và cây xanh hoặc chỉ manh nha thể hiện điều đó, đều làm cho chúng xa lạ với chính chúng và với mọi người.
Ở đây không có ai ngoài chúng bạn thân, nên tôi cũng mạnh miệng nói càn:
- Kiến trúc tôn giáo cũng là một công trình văn hóa, cho nên, nó cũng không thể tách khỏi những sắc thái văn hóa được hình thành từ những đặc thù của một vùng đất. Ngoài mẫu số chung trên nền văn hóa Việt , còn có những nét riêng của vùng miền. Việc bảo tồn những đặc thù đó không những là bày tỏ sự tôn trọng truyền thống mà còn góp phần khẳng định những biến điệu đầy ấn tượng làm nên sự phong phú cho văn hóa dân tộc.
- Ông quan niệm thế nào về sự giao lưu, và đa dạng trong văn hóa mà nói nhiều thế!
- Phạm vi cũng như quá trình giao lưu văn hóa nhân loại dù không muốn chúng vẫn cứ diễn ra. Vấn đề là việc tiếp thu phải như thế nào để khỏi làm sứt mẻ những định hình đã được trải nghiệm từ nhiều thế hệ. Cho nên, thành tựu kế thừa, gạn lọc, tiếp biến văn hóa thường diễn ra dựa trên bản lĩnh của kẻ "phát" lẫn "nhận" qua những biểu hiện của sự ứng xử?!
- Chuyện chi mà ông lại nhắc đến kiến trúc Huế có vẻ trầm trọng như thế.
- Nơi còn cố giữ trên vật liệu kiến trúc mới, hình dáng và cấu trúc cổ truyền hiện nay, chính là các cơ sở phong tục, tín ngưỡng như đình, miếu, nhà thờ họ phái, chùa chiền. Và trong tổng thể cảnh quan ấy, kiến trúc Huế đã tạo được những nét riêng được khẳng định, đó là sự mảnh dẻ, tinh tế, tìm được sự hòa diệu tuyệt vời vào thiên nhiên.
- Thì kiến trúc ở các miền khác của Việt cũng vậy thôi chứ có chi khác.
- Tại răng tui gọi kiến trúc Huế là mảnh dẻ, tinh tế và duyên dáng - bởi khung sườn, cột kèo của ngôi nhà Huế thường nhỏ nhắn. Ông cứ xem điện Thái Hòa, cung điện lớn vào bậc nhất của triều Nguyễn, cột cũng không to hơn cột đình, cột chùa phía Bắc.
Chính vì cột nhà Huế nhỏ và thanh tú, cho nên cần đến ấn tượng hài hòa về mặt hình khối là mái phải mỏng. Đường nóc cũng như như đầu mái nhà Huế từ đó chỉ trang trí những dạng kiểu thức như dấu nhấn vút nhẹ, vừa đủ tạo cảm giác "trở mình", xóa đi những đường ngay số thẳng đến nghiêm nghị của mái, mà người thợ Huế gọi là mỏ neo, mỏ cu, guộc mây, mụt mây...
Khác với Huế, kiến trúc đất Bắc có xu hướng giải quyết vì kèo và cột chịu lực bằng những dạng cấu kiện chắc, to, khỏe, bụ bẫm với những mảnh khắc sâu, nét chạm dứt khoát. Cho nên, phần mái phối hợp tương ứng qua những giải pháp kỹ thuật khôn khéo, đã khiến chúng trông thật dày dặn; tạo cho người đứng trước nó một sự quân bình dễ chịu về cảm giác hình khối.
Tuy nhiên, tổng thể ấy lẽ ra sẽ gây nên ấn tượng lún thấp và thô nặng, thì người thiết kế đã tài tình giải quyết đầu mái thành những đường đao, vút lượn cao lên như những chiếc cánh, nâng toàn bộ hình khối nhẹ hẫng và sinh động hẳn ra. Chính hình ảnh đó đã tạo nên những ấn tượng sâu sắc khi chúng ta tiếp xúc với kiến trúc Đàng Ngoài.
Mọi người nghe "ông cụ" thao thao bất tuyệt, cho đến khi có người cắt ngang.
- Phân tích "mệt mỏi" như rứa, ý ông muốn nói cái chi?
- Đơn giản thôi, trong lối xử lý thanh tú bằng cột mảnh - mái nhẹ của Huế, thì những loại đầu đao vút cao lên như kiến trúc phía Bắc, sẽ tạo cho chúng ta cảm giác bộ mái không muốn sống chung với khung sườn và bứt khỏi cột để bay lên. Và rõ ràng, nếu như đã muốn ly dị thì làm răng có thể trở thành một mái ấm. Tội chi phải làm cho nó mất quân bình. Tội chi phải xoá đi phong cách truyền thống Huế, và tội chi phải tìm cách xử lý mơ hồ không từ sự ứng xử bởi tình huống cụ thể nào như rứa.
- Thôi! Thôi! Tui biết ông có nhiều điều còn muốn nói nữa, nhưng ông quên chúng ta chỉ có một ngày ngắn ngủi cạnh nhau?
Cả nhóm kết thúc tuần trà và cùng nhau vào thăm Dì, bà vãi già một thời đã cho chúng tôi những đọi tương béo ngậy với những củ kiệu và ớt chỉ thiên trôi bềnh bồng trong ấy để chấm rau khoai, dưa lan, đọt bí, đọt su su...
Bà Dì không còn đi lại được nữa, mắt đục trắng và đầu không còn tóc. Những ngày tháng còn lại của Dì thật mong manh. Con người ấy, theo chúng tôi, đã chứng kiến và chia sẻ trọn vẹn những thăng trầm, thịnh, suy của một góc nhân sinh.
Và bây giờ trong cõi tĩnh mịch yên ắng này, chẳng rõ bà Dì có biết ngoài kia đang có những đổi thay gì không trong cảnh sắc của đất trời, cây cỏ, khuôn viên, cảnh vật, kiến trúc và lòng người?!
N.H.T

(nguồn: TCSH số 163 - 09 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.