GRAHAM GREEN
Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.
Minh Họa: Phạm Đại
Tuy vậy ta vẫn ấp ủ một nỗi mong ước muốn tâm sự với một ai đó - có thể là một kẻ không quen giữa phố - Athur Burton mang trong lòng nỗi bí mật của mình - từ phòng ăn đến nhà bếp rồi lại từ nhà bếp ra đến phòng ăn, hoàn toàn giống như bao năm nay anh mang dọn những món ăn và chuyển những đề nghị của khách hàng tại một quán ăn ở Kensington, quán ông August. Quán không có vẻ gì là Pháp ngoài cái tên và bản thực đơn: thực đơn giới thiệu những món ăn Anh mang tên Pháp và cứ mỗi món lại có lời giải thích dài dòng bằng tiếng Anh.
Tối thiểu hai lần mỗi tuần, có một cặp vợ chồng người Mỹ đặt riêng một bàn ăn nhỏ ở góc quán, cạnh cửa sổ. Người chồng chừng 60 tuổi, vợ thì gần 50, một cặp vợ chồng hạnh phúc.
Có những hạng khách mà ngay lần đầu tiên gặp gỡ người ta đã có thiện cảm. Họ tham khảo ý kiến Athur Burton trước khi đặt món ăn và kế đó ngợi khen anh về cách góp ý chọn lựa của anh. Ngay cả việc chọn rượu, họ cũng hoàn toàn giao phó cho anh, và kể từ lúc đến quán lần thứ hai, còn hỏi han anh những chuyện đời tư nho nhỏ, như thể Athur cũng là một khách ăn mà họ mong biết rõ.
- Anh làm việc tại quán này đã lâu rồi chứ?" Ông Hogminster hỏi (Một cái tên đặc biệt mà Athur Burton đã khám phá được lúc cái ông người Mỹ này gọi điện thoại để giữ bàn trước).
- Chừng hai mươi năm. Hồi tôi mới đến làm, quán này không phải thế. Hồi đó gọi là quán Quee’s.
- Thế thì trước kia tốt hơn nhỉ?
Athur Burton cố gắng giữ trung thực.
- Tôi không cho rằng tốt hơn. Chỉ giản dị hơn thôi. Nhưng thị hiếu thì không biến đổi.
- Ông chủ của anh là người Pháp chứ?
- Thưa ông không, nhưng tôi chắc rằng ông đã du lịch nhiều ở Pháp.
- Chúng tôi rất mãn nguyện khi có sự giúp đỡ của anh. Chúng tôi không biết hết mọi chữ Pháp trên thực đơn.
- Nhưng thưa ông, đã có lời giải thích bằng tiếng Anh.
- Tôi tin rằng người ta cũng không hiểu cái tiếng Anh ấy nốt. Ngày mai thế nào chúng tôi cũng trở lại đấy nếu anh có thể dành riêng cũng cái bàn này cho chúng tôi, Athur ạ, đúng không nhỉ? Dường như tôi nghe ông chủ anh gọi anh như thế?
- Rất đúng, thưa ông. Tôi sẽ chú ý để dành riêng cho ông bà chỗ này.
- Và những lời góp ý của anh nữa, Athur. Bà Hogminster nói.
Anh lấy làm xúc động vì cách gọi anh bằng tên riêng và việc bà Hogminster mỉm cười với anh hết sức thân thiện. Anh chưa hề tưởng đến điều như thế trong suốt bao nhiêu năm phục vụ.
Athur vốn có thói quen kín đáo quan sát khách hàng chỉ vì để anh vẫn còn tiếp tục yêu thích nghề nghiệp bởi lẽ từ nay anh không thể đổi nghề được nữa. Anh cảm thấy già nua, chẳng có gì kích thích anh đổi thay. Anh biết giờ đây đã quá muộn "Nỗi nghiệt ngã của cái chết" đã chạm tới anh.
Thường khi vào buổi tối, lúc trở về nhà - nếu có thể gọi là nhà - một căn phòng có đồ đạc và một vòi nước tắm chung - anh lại hồi tưởng một số khách hàng. Những cặp vợ chồng ăn trưa với nhau dường như với vẻ lạnh nhạt và chực đợi khách mới xuất hiện với một vẻ khao khát nào đấy, lúc họ có điều buộc phải trao đổi với nhau. Những cặp tình nhân mới kết không thèm để ý gì đến mọi sự trên đời. Đôi khi lại là một thiếu phụ trẻ, đã có chồng (anh luôn luôn liếc nhìn bàn tay trái của họ) vẻ ưu tư, có một gã đàn ông nhiều tuổi hơn nàng đi kèm. Nàng nói nhỏ giọng hoặc im bặt lúc có người ngồi vào bàn kế bên - mà Athur Burton mong sao có thể để trống được, để cặp kia có thể giải quyết vấn đề riêng tư được thoải mái.
Đêm ấy lúc trở về nhà Athur nghĩ ngợi đến ông bà Hogminster. Anh tiếc đã không nói được nhiều hơn với họ. Anh cảm thấy rằng có thể tin cậy được họ cũng như mọi kẻ xa lạ gặp gỡ giữa phố. Ít ra anh cũng có thể nói bóng gió về nỗi nghiệt ngã day dứt ấy mà lâu nay vẫn chia cách anh với ông giám đốc, với ông đầu bếp, với những người phục vụ và với những tay rửa bát - Không gì hết ngoài một lời bóng gió, hẳn nhiên, vì anh chẳng muốn làm phiền ai.
Hôm sau, họ đến muộn nửa giờ. Ông giám đốc muốn dành bàn ấy cho khách khác cũng muốn ngồi nơi ấy. Ông bảo:
- Họ sẽ không đến đâu. Dẫu sao, họ cũng có thể chọn ba bàn còn lại.
- Nhưng họ lại ưa ngồi nơi đây và tôi đã hứa để dành cho họ - Athur bảo và còn nói thêm "Những người ấy rất tử tế".
Suýt nữa anh buộc phải thuận theo ý ông chủ nếu cặp Hogminster không đến kịp thời.
- Tôi rất lấy làm tiếc, Athur ạ, chúng tôi đến muộn quá. Anh xúc động rằng bà Hogminster vẫn còn nhớ tên riêng của anh.
- Nhằm vào ngày bán hàng đại hạ giá. Chúng tôi bị mê hoặc.
- "Bà ấy" bị mê hoặc, ông Hogminster chữa lại.
- Ô, ngày mai rồi đến lượt ông đấy thôi.
- Có những quán ăn gần những gian hàng bán đồ nam giới hơn đấy. Athur giải thích - Tôi có thể giới thiệu cho ông bà một quán đàng phố Jermyn.
- Ồ, nhưng chúng tôi lại thích quán bà Augustine này.
- "Quán ông Auguste" - Ông Hogminster chữa lại.
- Vả lại có anh góp ý cho chúng tôi rất tốt nữa, anh Athur ạ. Chúng tôi khỏi phải nghĩ ngợi gì cả.
Kẻ mang trong lòng một niềm bí mật là một người rất cô độc. Đối với Athur, có thể vén lên đầu chỉ một góc màn bí mật cũng đủ là một niềm yên ủi nhẹ lòng rồi.
- "Tôi rất tiếc, thưa bà, nhưng ngày mai tôi không còn làm việc ở đây nữa. Dẫu sao, tôi chắc rằng ông giám đốc...
- Không còn làm việc đây nữa? Tai họa chưa! Mà tại sao thế?
- Tôi phải vào bệnh viện.
- Athur, tôi hết sức buồn. Nhưng vì sao thế? Có điều gì quan trọng lắm sao?
- Thưa bà, để tổng kết về sức khỏe.
- Như thế là khôn đấy - ông Hogminster bảo. Tôi rất nhất trí với việc khám tổng kết.
- Ông ấy đã khám đến bốn hoặc sáu lần gì rồi đấy. Bà vợ nói thêm - Tôi cho rằng ông ấy ưa ý chuyện khám bệnh lắm, còn tôi, việc ấy luôn luôn làm tôi lo lắng. Tại sao người ta muốn khám anh vậy?
- Họ đã làm xét nghiệm rồi. Đến nay họ phải cho tôi biết kết quả.
- Ồ, tôi chắc mọi việc sẽ tốt đẹp thôi, anh Athur.
- Thưa bà, tôi mãn nguyện rằng quán này đã làm quý vị vừa ý.
- Rất thỏa mãn. Và chính chúng tôi phải mang ơn anh về điều này.
- Tôi rất tiếc phải nói lời từ giã với ông bà. Athur Burton nói một cách thành thực.
- Ồ, không, chưa đâu. Thứ năm này chúng tôi sẽ trở lại. Chúng tôi sẽ nghe theo lời khuyên của anh và ngày mai chúng tôi sẽ dùng bữa tại quán gần gian hàng bán đồ nam giới, nhưng chúng tôi sẽ đến ăn bữa cuối cũng tại quán bà Augustine nầy.
- Tại "quán ông Auguste" - ông Hogminster chữa lại thêm một lần nữa, nhưng bà vợ lại chẳng để ý.
- Chúng tôi đáp máy bay đi New York vào thứ sáu này nhưng chúng tôi sẽ gặp lại anh vào thứ năm để nghe anh báo tình hình sức khỏe của anh. Tôi chắc sẽ tốt đẹp. Tôi cầu phúc cho anh, nhưng quả tình, thâm tâm tôi không lấy làm lo lắng gì cả.
- Cứ mỗi sáu tháng tôi lại đi khám tổng quát - ông Hogminster nhấn mạnh - Kết quả luôn luôn hoàn hảo.
- Thưa bà, bà có cần món gì đặc biệt vào thứ năm này không? Tôi có thể đề nghị với ông giám đốc...
- Không, không, chúng tôi sẽ dùng những món mà anh đề nghị với chúng tôi. Thứ năm nhé. Chúc may mắn, anh Athur.
***
Athur hiểu rằng chẳng ích gì mà hy vọng. Anh đã biết rõ điều ấy ngay cả trước khi xét nghiệm, bằng vào cái giọng lấp lững của bác sĩ. Anh tự hỏi liệu một người ngồi ở băng ghế bị cáo có thể đoán trước được những lời tuyên án trước lúc hội đồng thẩm phán rút lui để nghị án? Vào thuở hãy còn án tử hình - liệu nỗi hổ thẹn có lan tràn từ cả nhóm đến tư tưởng phán quyết mà bản án sắp công bố chăng? Tuy vậy, Athur cảm thấy một nỗi khinh khoái vì cuối cùng anh đã thú nhận được một nửa phần cái tội nghiệt ngã của anh với bà Hogminster và bà đã không xem nhẹ. Như anh vẫn yên trí, và không kể những ba hoa lạc quan về thuốc men mà thiên hạ không quên vây bọc anh, nếu lời tuyên án là cái chết, thì bà Hogminster liệu có sẽ là người không quen gặp gỡ giữa phố mà anh có thể thổ lộ mọi điều không? Họ sẽ không gặp lại nhau nữa. Thứ sáu này, bà sẽ đi New York. Họ cũng không có bạn bè quen chung để qua đó bà có thể biết được nỗi oan nghiệt của anh. Anh cảm thấy dậy lên trong lòng một nỗi trìu mến đối với bà.
Đêm ấy, Athur Burton mơ thấy bà Hogminster. Không phải là một giấc mơ tính dục, cũng không phải là giấc mơ tình ái, chỉ thuần túy là một giấc mơ bình thường trong ấy bà đóng một vai trò không quan trọng. Nhưng lúc tỉnh dậy, Athur cảm thấy một cảm giác yên ổn mà anh không hề biết từ mấy tháng nay. Như thể anh đã nói với bà và bà đã chọn đúng lời để bày tỏ thiện cảm với anh. Đôi lời ấy đã giúp Athur có can đảm đối đầu với những kẻ thù của anh đang sắp sửa bóc trần cái sự thật xấu hổ ấy.
Anh bận tâm suốt ngày mặc dù mãi đến 5 giờ chiều mới là giờ hẹn. Lúc anh đến, anh còn phải nán chờ nửa giờ nữa. Bác sĩ giải phẫu mời anh ngồi với vẻ thông cảm long trọng đến nỗi Athur Burton có thể hình dung khá chính xác bản tổng kết sắp đưa ra.
- "Phải giải phẫu khẩn cấp". Vâng, đúng là ung thư, nhưng ông không nên hoảng sợ vì cái tên bệnh. Tôi biết có nhiều trường hợp cũng nghiêm trọng như ông... Chữa kịp thời, có thể có nhiều hy vọng.
- Bác sĩ muốn giải phẫu vào lúc nào?
- Tôi khuyên ông nên nhập viện vào sáng mai và tôi sẽ mổ cho ông vào ngày mốt?
- Liệu tôi có thể nhập viện vào buổi chiều được không?- Ông hiểu cho, tôi có việc bận với người ta vào sáng mai. Anh không nghĩ đến công việc nhưng đến bà Hogminster. Hẳn bà ấy đợi tin anh.
- Tôi dứt khoát muốn rằng ông phải nằm yên trên giường một ngày tròn. Rồi... vào lúc 6 giờ tôi sẽ đến gặp ông với chuyên viên gây mê.
Tối hôm ấy nằm trong giường, Athur Burton tự nhủ các bác sĩ giải phẫu hiển nhiên không phải là những nhà tâm lý chút nào. Họ quá chú ý đến thân xác đến nỗi quên mất vấn đề tinh thần và họ chẳng có chút ý thức về điều mà âm sắc của giọng nói có thể gợi lên. Họ bảo: "Có thể còn nhiều hy vọng" nhưng người bệnh lại nghe: "Có rất ít hy vọng", hoặc "Chẳng có chút hy vọng nào!".
Không phải là anh sợ chết. Chẳng có ai thoát khỏi số phận chung ấy, vả lại con người trên hành tinh không phải bị ngự trị bởi nỗi sợ hãi. Athur Burton chỉ mong chia sẻ sự hiểu biết và niềm bí ẩn của mình với một kẻ không quen, mà họ sẽ không quá xúc động theo kiểu của một người vợ hoặc một đứa con, (Athur không có vợ cũng chẳng có con) mà biết bày tỏ rằng chính họ cũng đắm chìm trong một nỗi niềm bí mật oan nghiệt ấy bằng một lời lẽ nhiệt tình. "Tôi bị lên án".
Bà Hogminster là nhân vật ấy. Anh đã đọc thấy điều đó trong mắt bà. Ngày mai lúc bà hỏi anh về kết quả cuộc xét nghiệm, anh sẽ tìm ra cách để làm cho bà hiểu sự thật - mà không cần đến ngôn ngữ, vì điều ấy sẽ không hội nhập bà Hogminster với nỗi oan khiên của anh. "Bác sĩ bảo anh thế nào Athur? - Bà ta sẽ hỏi như thế. Anh sẽ trả lời ra sao? Không, không cần đến lời nói. Chỉ một cái nhún vai nhẹ cũng đủ diễn tả hết mọi thứ. "Thế là tiêu rồi! Cám ơn đã có nghĩ về tôi". Và cái nhìn mà bà ném trả lại cho anh với cùng một cách kín đáo ấy nói lên rằng bà biết chia sẻ nỗi bí ẩn của anh.
Anh sẽ không dấn bước một mình vào tương lai.
- Không cần giữ bàn nữa, ông giám đốc thông báo - Cặp vợ chồng người Mỹ ấy đã đến đây hôm qua. Và tôi đã tìm cho họ một bàn khác và họ rõ ràng rất ưa ý.
- Họ có đến đây hôm qua à?
- Vâng, quả tình họ có vẻ rất thích nơi này.
- Tôi cho rằng họ đã đi xem đồ bán hạ giá cho nam giới.
- Thế nữa kia, tôi không biết phải nói sao với anh. Nhưng tôi nghĩ dường như anh nói chuyện quá nhiều với khách hàng thì phải. Thường thì họ muốn được yên ổn với nhau.
Ông giám đốc vội bước ra cửa quán để đón ông và bà Hogminster. Họ đi về phía một bàn nhỏ riêng biệt trong góc phòng. Lúc đi ngang qua, bà Hogminster gật đầu chào Athur và mỉm cười với anh. Ngồi ở chỗ mới ấy, họ không thể thấy đường phố được nhưng cũng rất có thể như ông giám đốc đã nhắc nhở anh, họ muốn được yên ổn với nhau - cũng có thể họ muốn được ông giám đốc đích thân phục vụ họ.
Chỉ sau khi họ dùng bữa và trả tiền xong thì bà Hogminster mới gọi anh trong lúc anh đang đi vào bếp:
- Athur, đến đây nói chuyện với chúng tôi một chút.
Anh vui vẻ đến gần, tâm hồn tự dưng khinh khoái.
- Hôm qua chúng tôi đã không gặp anh Athur, nhưng ông giám đốc thật là nhã nhặn. Chúng tôi không muốn làm phiền ông ấy.
- Tôi mong rằng quý vị đã dùng bữa được ngon miệng, thưa bà.
- Ồ, lúc nào ở quán bà Augustine này cũng ngon.
- Ồ, "quán ông Auguste" chứ! Ông Hogminster chữa lại.
- Còn chuyện mua hàng hạ giá, anh có lý hết sức lúc khuyên chúng tôi đến phố Jermyn Street. Chồng tôi đã mua hai bộ pijama và ba..., anh thử tính xem, ba áo sơ mi lận!
- Tất nhiên là chính bà ấy chọn đấy! Ông Hogminster nói.
Athur Burton xin lỗi và đi vào bếp. Vấn đề anh vẫn lo ngại đã không xảy ra, nhưng ý tưởng ấy không làm nỗi niềm bí ẩn nặng trĩu của anh nhẹ bớt chút nào. Anh sẽ không nói gì với ông chủ. Chỉ giản dị, ngày mai anh sẽ không đi làm nữa. Đến một lúc nào đấy, bệnh viện sẽ cho họ biết anh đã chết hoặc đang còn sống.
Anh hết sức hạn chế xuất hiện trong phòng ăn, mặc dù anh rất khổ tâm khi thấy một người phục vụ khác đang săn sóc ông bà Hogminster và trao đổi lời với họ.
Nửa giờ sau, ông giám đốc đến nói chuyện với anh trong bếp. Ông cầm trong tay một lá thư.
- Bà Hogminster yêu cầu tôi đưa cái này lại cho anh. Họ đã ra phi trường rồi.
Athur nhét lá thư vào túi. Anh cảm thấy lòng hết sức nhẹ nhõm. Bà Hogminster có lý thật. Họ không thể nào trao đổi với nhau về bí mật của anh ở bên trong quán ăn trước mắt thiên hạ. Giờ đây, anh sẽ mang theo chứng cớ lân cảm mà bà Hogminster đến tận bệnh viện và anh có thể đọc nó lại vào ngày hôm sau ngay trước khi chuyên viên gây mê đến. Anh không còn cảm thấy cô độc. Ra phố, anh hẳn sẽ cầm tay một phụ nữ không quen. Hẳn nhiên, bà ấy sẽ không bao giờ được nghe trả lời cho câu hỏi: "Bác sĩ đã bảo gì với anh?" nhưng bà ấy đã gởi lại cho anh một lá thư và điều này mới đáng kể.
Trước lúc tắt đèn ở đầu giường trong bệnh viện, anh mở phong thư. Anh hết sức kinh ngạc lúc thấy thoạt tiên rơi ra ba tờ giấy bạc một bảng.
Bà Hogminster đã viết như sau: Athur thân mến, tôi nghĩ rằng phải viết cho anh đôi lời để cám ơn anh trước khi chúng tôi lên máy bay. Chúng tôi hết sức thỏa lòng về những lúc đến quán bà Augustine và chắc chắn một ngày kia chúng tôi sẽ trở lại. Còn về hàng đại hạ giá, chúng tôi đã mua chác cực kỳ thú vị. Anh hết sức có lý về chuyện phố Jermyn Street.
Cuối thư, ký tên Dolly Hogminster.
ĐỖ HỮU THẠNH dịch
(Báo Le Monde Diplomatique tháng 4/1989)
(TCSH49/05&6-1992)
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.
AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.
Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…
Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.
HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.
SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.
KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.
FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.
MIKHAIN SÔLÔKHỐP Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.
KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.
ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.
GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.
GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.
JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.
SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.
DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.
S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.
WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?
SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar trong một gia đình nông dân thuộc tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.