Giấc chiêm bao cuối cùng

10:29 10/04/2009
BÙI MINH QUỐCNgày hôm ấy là một ngày không có gì đặc biệt trong cuộc sống cực nhọc, buồn tẻ của giáo sư Lê Khương- một ông già ngót sáu mươi tuổi mà vẫn sống độc thân. Nhưng rồi có một sự đặc biệt đến với ông vào lúc gần nửa đêm. Sau khi rà sửa lại lần thứ ba mấy chục trang cuối tập bản thảo một công trình mới nhất của mình, giáo sư đặt lưng xuống giường ngủ thiếp đi. Và, như thường lệ, ông bắt đầu thấy chiêm bao.

Số là từ lâu rồi, giáo sư Lê Khương mắc một cái tật, có thể cũng là một thứ bệnh, hễ cứ đặt lưng ngủ là lập tức thấy chiêm bao. Không mấy đêm không thế. Thậm chí cả ban ngày cũng thế. Có khi ông chỉ ngồi dựa vào ghế, chợp mắt ít phút buổi trưa, chiêm bao đã đến liền. Nhưng điều tệ hại là ông chỉ toàn chiêm bao thấy lặp lại những việc trong cuộc sống trần trụi hàng ngày vốn đã làm ông cực kỳ mệt mỏi, chẳng hạn, một vụ cãi lộn vì tem phiếu giữa một bà cụ già với một cô mậu dịch viên có bộ mặt câng câng ở quầy bán thịt. Hoặc một vụ con chửi bố thậm tệ ở căn hộ tầng trên, một vụ giết người man rợ bằng xăng đốt chỉ vì tranh chấp chèn lấn nửa mét ban công ở ngôi nhà bên kia phố. Ông còn chiêm bao thấy lại những cảnh đời trẻ, song không phải những cảnh thơ mộng mà toàn những cảnh căng thẳng tột độ, khi ông là một anh vệ quốc đoàn hoạt động ở vùng sau lưng địch, bị Tây đuổi bắn hụt bao nhiêu lần. Không thiếu gì những cơn chiêm bao thấy mình bị phục kích, bị bom sập hầm, bị khui hầm bí mật, bị bắt trói vào cây cột gỗ trước một hàng lính giương súng nhằm bắn. Bao giờ cũng vậy, khi choàng tỉnh, người ông đẫm mồ hôi. Đưa tay rờ lên vầng trán mồ hôi râm rấp lạnh, ông mới hay rằng mình không chết, chỉ là chuyện trong chiêm bao mà thôi.

Nhiều lúc ông điên tiết trước sự nghiệt ngã của số phận, cứ một mực săn đuổi ông cả tận trong giấc mơ, bằng những cảnh đời dữ dội, rùng rợn và tẻ ngắt. Ông đã đối phó bằng cách làm việc thật nhiều, ngủ thật ít, nhưng chẳng ăn thua. Trong những giấc ngủ ngắn ngủi, tình trạng tệ hại kia vẫn cứ lặp lại. Như sớm nay, khi vừa chợp mắt được mấy giây, ông đã chiêm bao thấy tái diễn cảnh tuần trước được mời đi dự tiệc. Người mời là một cô học trò cũ của ông, hiện đang làm viện trưởng ở một viện lớn. Cô ta vừa được nhận một giải thưởng quốc tế nhờ công trình khoa học thứ bốn mươi mấy gì đó trong đời, bèn mở tiệc mừng. Ông đã hết sức cố từ chối, bởi hơn ai hết ông biết rõ cô học trò của mình. Cô ta chỉ là một kẻ bấæt tài vô đức, chỉ giỏi nịnh trên, đè dưới, dùng quyền thế và thủ đoạn cướp công những nhà khoa học chân chính làm việc dưới quyền, trâng tráo đứng tên chủ biên các công trình mà cô ta không hề góp một chút nhỏ công sức nào. Thế nhưng, ông không sao từ chối được, cô viện trưởng học trò đích thân đi xe Vonga tới nhà chèo kéo đến gần như “áp giải” ông ra xe. Tính cả nể đã đẩy ông vào một cảnh huống khó xử. Tại bữa tiệc sang trọng, ê hề, ngay phút đầu tiên khi mọi người cùng nhau đứng dậy nâng cốc chúc mừng nữ viện trưởng, nhìn vẻ mặt hân hoan vừa chân thành, vừa giả dối của họ, ông bỗng không kìm được cơn buồn nôn và nôn thốc nôn tháo lên bàn tiệc trước sự kinh hoàng của tất cả thực khách - toàn những nhân vật quan trọng, các nhà khoa học, các nhà chính trị. Chính lúc ấy, ông bừng tỉnh, mới vỡ lẽ rằng lại một giấc chiêm bao nhờm tởm nữa hành hạ ông.

Ông gầy rộc đi trông thấy.
Tuy nhiên, số phận dường như cũng không đến nỗi quá tai ác với ông. Lúc gần nữa đêm nay, rà lại xong máy chục trang cuối tập bản thảo, ông ngủ thiếp đi và mơ thấy một giấc mơ khác hẳn. Ông gặp lại người yêu đã chết từ hai mươi năm trước. Nàng bước vào phòng ông, bình thường như vừa đi mua sắm ngoài phố về, ngồi trên chiếc ghế ông vẫn ngồi làm việc, nhìn quanh phòng rồi hỏi:
- Thì ra anh ở đây à? Em đi tìm anh mãi.
Ông bật dậy khỏi giường, chồm tới ôm lấy nàng, nắn tay, nắn chân nàng, véo mạnh vào người nàng khiến nàng phải la lên, và véo mạnh vào chính mình, ông thấy đau rõ rệt.
- Thực em đây ư? Em còn sống ư?-Ông thảng thốt hỏi.
- Anh hỏi gì lạ thế? Em đang sống, như anh thấy đó, anh véo em đau chết khiếp lên được, đồ quỷ ạ...

Ông nhìn nàng, bán tính, bán nghi. Sao nàng vẫn tươi trẻ thế? Vẫn rõ ràng là một cô gái hai mươi bốn tuổi, khi họ chia tay nhau, nàng đi vào chiến trường. Vô lý! Hai mươi năm đã trôi qua kia mà...
Như đoán được ý nghĩ của ông, nàng nhìn lên chỗ ông đặt bàn thờ và bật cười với tấm chân dung mình dựng sau một bình hương nhỏ. Tiếng cười của nàng trong trẻo làm sao. Nàng bẹo má ông:
- Chắc anh đang nghĩ tại sao lại có giấy báo tử gửi về cho bố mẹ em phải không? Dễ hiểu thôi, hoàn toàn là một sự nhầm lẫn thường xảy ra trong chiến tranh. Chúng em bị bom vùi, hàng chục người nát bấy lẫn lộn vào nhau. Riêng em ngoi lên được mà không ai biết, vì lúc ấy mọi người tan tác hết, sợ nó ném bom đợt mới. B52 rải thảm mà. Rồi em lạc đơn vị... Thế đấy...

Ông ôm nàng thật chặt, sao vẫn trẻ thế, y như hai mươi năm trước? Ông thì thầm vào tai nàng. Nàng vẫn không đáp, chỉ bật lên cười vui sung sướng, vẫn cái giọng cười thật trong, thật vô tư. Ông lập tức nhớ lại giây phút đầu tiên ông biết nàng. Tại nơi ở cũ, cửa sổ phòng ông mở ra trông thẳng sang cửa sổ ngôi nhà hàng xóm chỉ cách nhau khoảng bốn, năm mét. Một hôm, ông đang ngồi đọc sách bên cửa, chợt thấy buồn buồn trên đầu, đưa tay rờ thử. Một chiếc phi tiêu gấp bằng giấy vương trong tóc. Ông rời trang sách, ngẩng lên. Cùng lúc đó, từ cửa sổ nhà bên vang lên một chuỗi cười thật trong. Ông còn kịp nhận ra một khuôn mặt thiếu nữ thật xinh tươi trước lúc biến mất sau khung cửa. Khuôn mặt đã biến đi nhưng tiếng cười trong trẻo vẫn chưa dứt... Nàng nghịch ngợm thế đấy. Và như thể có một sự sắp đặt của tạo hoá, cái tính nghịch ngợm ấy khiến hôm sau hai người bắt chuyện được với nhau qua cửa sổ... Nàng là sinh viên năm thứ ba Đại học Y, còn ông khi ấy là cán bộ giảng dạy ở một trường đại học khác.

Ông ghì siết nàng chặt hơn, sợ nàng biến mất. Ông đinh ninh chiến tranh đã cướp nàng đi vĩnh viễn, ngờ đâu...
Hương vị chiếc hôn đầu xa xưa bỗng ôm trùm hai người. Nàng ngồi gọn trong lòng ông nhún nhảy như một đứa trẻ và nhoai người nghịch ngợm các thứ trên bàn.
Nàng lật lật các tờ bản thảo:
- Gì đây anh? Anh mới làm xong à?
- Ừ, mới làm xong. Hoá ra nó được hoàn thành để mừng em trở về, mừng ngày chúng mình sum họp.
Nàng đọc nhan đề tập bản thảo: “Về sự tha hoá bởi quyền lực”. Nàng vò đầu ông:
- Anh ương bướng thế, toàn chui đầu vào những việc chết người.
- Thế còn em thì sao? Ông âu yếm vặn lại nàng.
- Em sao nào?
- Em đi B, đi vào chốn thập tử nhất sinh...
- Có gì đâu, tất cả những người có lương tri bình thường đều làm như em. Em là bác sĩ, mà ở chiến trường bao nhiêu người bị thương, ốm đau!
-Thì anh cũng vậy thôi. Anh là người bắt mạch các căn bệnh xã hội. Biết bao người đang bị quyền lực làm cho tha hoá.
- Cứ viết mãi những đề tài này, không khéo anh bị người ta theo dõi đấy.
- Ôi dào. Thôi dẹp chúng nó lại, chúng mình đi chơi.
Họ sánh bước ra khỏi nhà. Trời cuối thu chớm lạnh nhưng đầy nắng. Ông mặc thêm chiếc áo khoác mỏng, kỷ vật còn sót lại từ thời học đại học ở Matxcơva và thường mặc đi chơi với nàng trước khi nàng đi chiến trường.
Nhiều người trên phố nhìn họ với cặp mắt tò mò đượm chút khó chịu. Một ông già và một cô gái đáng tuổi cha con, khoác tay nhau đi như cặp nhân tình. Nhưng hai người không hề để ý đến điều đó. Họ chỉ biết có nhau.
Đang đi, chợt nàng níu ông lại chỉ tay lên cao:
- Gì vậy em?
- Đám rêu đẹp quá!

Theo tay nàng chỉ, ông nhận ra trên một thân cây cổ thụ sần sùi, một đám rêu còn đẫm hơi ấm của trận mưa đêm qua đang xanh ánh lên trong nắng vàng. Một làn hơi mơ hồ toả nhẹ từ những cánh rêu, có thể thấy được, khiến cái chất nắng thu vàng mơ mơ cứ rung khẽ như cánh bướm non. Giá có thể hôn lên đám rêu kia. Nhưng nó ở quá cao.
Hai người thong thả dạo về phía hồ Tây và tìm thấy chiếc ghế đá quen thuộc ven bờ. Thuở nàng chưa đi chiến trường, họ vẫn thường ngồi bên nhau đến khuya trên chiếc ghế đá này. Chính là ở chiếc ghế đá này đây, một đêm thu, họ đã trao nhau chiếc hôn đầu trong đời.
Vừa toan ngồi xuống ghế thì ông đưa tay cản nàng lại. Nàng đưa mắt nhìn ông dò hỏi. Ông không nói gì, chỉ cúi xuống xem xét kỹ chiếc ghế đá.

Rồi ông đưa nàng ngồi xuống, nhưng nét mặt chưa hết băn khoăn. “Có mùi gì thôi thối. Có lẽ ở dưới gầm ghế”- Ông lẩm bẩm. “Vâng em cũng thấy thế”- Nàng bảo. Ông kéo nàng đứng lên: “Ta sang ghế khác, em”.
Ở chiếc ghế khác, họ vẫn chạm phải cái mùi khó chịu kia. Ông đưa nàng tới một gốc liễu nhưng chỉ được mấy giây, ông lại bảo nàng:
- Em chịu khó đứng đây chờ anh, anh đi đằng này một lát.
Ông bước tới khuất mình sau cái hàng rào ruối cách nàng một quãng xa. Ông ngờ rằng do mình vô ý, cái áo khoác ngoài đã quệt phải một thứ gì đó rất bẩn. Ông cởi áo, ném vào bụi ruối rồi bỏ đi một quãng nữa.
Nhưng ông vẫn không thoát nổi cái mùi hôi thối ấy. Bây giờ thì ông xác định không phải mùi phân mà ông vẫn ngỡ do bọån trẻ con nghịch ngợm thường bôi lên các ghế đá công viên, mà là mùi xác chết. “Ở đâu đây có một xác chết lâu ngày chưa chôn đi được” - Ông lẩm bẩm, định trở lại để báo cho nàng biết cái điều mình vừa phát hiện.

Nhưng ông cứ đi loanh quanh mãi, không tài nào tìm ra lối trở lại với nàng. Càng tìm, ông càng lạc. Và, ông đâm hoảng. Ông cảm thấy rất rõ cái mùi rùng rợn ấy bốc ra từ các gốc cây, các cụm hoa, từ thảm cỏ mịn, từ mặt nước hồ. Ông nhìn kỹ các cặp tình nhân đang qua lại, xem họ có cảm thấy sự rùng rợn ấy như ông không. Song ông chỉ thấy họ đắm đuối ép sát vào nhau, không tỏ một phản ứng gì.
Còn ông càng lúc càng thấy nghẹt thở vì vòng vây vô hình của cái mùi kia. Ông cuống cuồng tìm cách thoát mà không sao thoát nổi để trở lại với nàng. Nàng đã về cùng ông, đang đứng kia đợi ông, trong vầng nắng thu vàng mơ mơ...
Giấc chiêm bao lần này của giáo sư Lê Khương kéo dài triền miên, khác thường, hết đêm rồi ngày, hết ngày lại đêm.
Cứ thế, ông nằm thiêm thiếp trên giường, vật lộn để mong thoát khỏi cái mùi xác chết vây bủa tứ bề mà ông sợ đã nhiễm vào da thịt mình. Cứ thế, cho tới hai mươi sáu năm sau thì ông qua đời.

Ấy vậy mà bọn trẻ con trong khu nhà tập thể lại quả quyết với mọi người rằng, chúng vẫn thấy ông Khương còn sống. Đêm đến là ông lại ra đứng ở cột đèn, dáng lỏng khỏng cao gầy không quần không áo, cúi xuống cào hai ống chân vuốt ngược lên. Bọn trẻ không biết đấy chính là động tác giáo sư Khương ra sức tự lột da mình trong giấc chiêm bao cuối cùng kéo dài hai mươi sáu năm của ông.
B.M.Q

(200/10-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.