Em mười ba tuổi giống ai

09:52 06/03/2018

LÊ KHAI

"Tuổi mười ba" tập thơ của Lê Thị Mây (Nhà xuất bản Thuận Hóa 1990) gợi người đọc nhận ra tính cách của nhà thơ.

Không phải ở thể thơ, vần điệu, ngôn từ mà ở bản chất tâm hồn, niềm cảm xúc cuộc đời và mối quan hệ tình cảm vốn có từ tuổi thơ, rõ nét từ tuổi mười ba. Nguồn cảm xúc ấy không những không bị lãng quên mà còn được hồn thơ nuôi dưỡng và bồi bổ cho nó lớn lên khỏe mạnh, yêu đời với bước phát triển tư duy trí tuệ đáng trân trọng. Hai câu thơ mà Lê Thị Mây ghi phía dưới ảnh mình ở bìa gấp đầu trang sách:

"Em mười ba tuổi giống ai?
Soi gương - mắt mẹ - gặp hai nụ cười"

là tình cảm vốn thông thường của rất nhiều con gái giống mẹ và rất yêu mẹ. Hẳn là từ đáy lòng cảm thương và biết ơn ấy Lê Thị Mây mở đầu cuộc đời thơ của mình? Còn với độc giả như tôi sau khi đọc xong tập thơ "Tuổi mười ba" tôi lại thấy rất giống và đúng lứa tuổi mười ba - Lứa tuổi mà về sinh lý được cha ông xưa ở đôi nơi hay nói: "Nữ thập tam, nam thập lục"(*). Có thể câu ấy mang nội dung bảo vệ cho một tập quán tảo hôn, nghĩa là gái 13, trai 16 tuổi có thể dựng vợ, gả chồng. Song điều chính tôi muốn nói là ở tuổi 13 ấy, người con gái đã có bước phát triển tình cảm ở chiều sâu yêu đời, cuộc sống, thiên nhiên và xã hội chung quanh mình. Cái tuổi biết đắn đo, e thẹn, hấp thụ và rung động với thế giới ngoại cảnh qua nội tâm kín đáo.

"Dẫu vườn non quả khế
Trái tim ngủ chưa yên
Mười ba tuổi biết nhiều
Nhưng mắt còn chưa nói!"
          (Mẹ và con - Trang 6)

Ngay đến chuyện thích và nhớ đôi mắt đẹp của bạn gái cũng lắng đọng hồn nhiên:

"Đôi mắt đen thật đen
Thoáng buồn tôi đã hiểu
Vắng một tháng sao nguôi
Nhớ nhung sao kỳ diệu"
          (Mắt bạn gái - Trang 16)

Đọc suốt tập thơ người đọc dễ thấy tình yêu mẹ, yêu bà tha thiết của nhà thơ gắn với vườn tược, cây rơm, giếng nước, đường làng, hoa cau trổ; đàn gà con chiêm chiếp quanh gà mẹ. Những cánh đồng đang vào vụ cấy, rét và nắng. Những mùa vàng có chim tu hú kêu. Tiếng gió, giọt mưa... đều in dấu tình người, chứa đựng sức sống lao động cần cù và mối quan hệ con người với nhau, với thiên nhiên trong một vùng quê êm đềm sôi động và giàu chất trữ tình.

Đành rằng đã là nhà văn, nhà thơ ai không gắn bó cuộc sống, dòng đời. Nhưng điều tôi muốn nói về tính cách Lê Thị Mây là sự đồng cảm con người từ mẹ mình, bà mình, từ tuổi thiếu thời nơi thôn dã. Đâu dễ gì Lê Thị Mây gieo được những câu thơ:

"Bông lúa nói với vàng tươi
Mô hôi mẹ đẫm, áo trời lên xanh
Tiếng thức khuya, mặt trăng thanh
Lo âu mẹ dấu để giành sau lưng".

Hoặc:

"Mẹ làm cỏ ruộng sấm ra
Để rơi bông gạo tháng ba đỏ đường
Tóc mẹ gội, thả lời hương
Để con chăm luống một vườn sả thơm!"
          (Tiếng một ngày của mẹ - Trang 10)

Chính từ sự đồng cảm sâu sắc với nỗi gian lao, đức tính cần cù giản dị, lòng nhân ái của bà mẹ mình mà Lê Thị Mây nối nhịp đồng cảm với người lao động xung quanh, làm nảy sinh sức sáng tạo của thơ chan hòa nắng, gió, tiếng chim, cây cỏ và tình người, khơi dậy nhiều chất thẩm mĩ. Sự đồng cảm mật thiết ấy có từ thuở nhỏ và hình thành rõ nét từ tuổi mười ba đã cùng Lê Thị Mây theo thời gian lớn dậy. Nhiều bài trong tập thơ này nói rõ điều ấy.

Cái thức, Cái ngủ, Tôi quét, Gánh nước, Gió, Đôi bạn, Cây rơm, Tiếng chim tu hú, Mái vàng... là những bài thơ thực dễ thương, sinh động, giàu chất sáng tạo từ thực tiễn.

"Cây rơm dấu một vầng trăng
Yêu con gà mẹ ủ nằm vào lông
Cánh vàng đưa võng bồng bông"
          (Mái vàng - trang 44)

Ai đã từng hiểu cảnh giáp hạt tháng tám, tháng ba, thấm câu ngạn ngữ dân gian "lúa chín vàng, người vàng con mắt" mới thấu hiểu niềm vui từ trái tim người dân quê khi nghe tiếng chim tu hú gọi mùa:

"Tiếng tu hú đồng làng
Lúa ngậm vào từng hạt
Cơm mẹ đơm đầy bát
Em nâng tràn tiếng chim"
          (Tiếng chim tu hú- trang 39)

Không có sự am hiểu nông thôn tinh tế, với hồn thơ nhạy cảm người bưng bát cơm ngày mùa khó có nổi hình tượng "Em nâng tràn tiếng chim". Câu thơ thanh thoát, giản dị mà toát chiều sâu thấm đậm lòng người, cứ như còn âm vang sau khi đọc. Chắc rằng những bà con nông dân, những người từng yêu và am hiểu nông thôn đọc các bài thơ trên đều phấn chấn, càng yêu thêm quê càng tỏ niềm thông cảm mến yêu Lê Thị Mây. Đấy cũng là một trong những tiêu chuẩn của giá trị nghệ thuật.

Mong cho một hồn thơ lớn lên từ "tuổi mười ba" sống động sức trẻ trung. Tôi nghĩ vậy bởi nhà thơ đang nói, đang nhớ như in và vẫn đang hình dung, so sánh về lứa tuổi mười ba khá sắc sảo:

"Phải cầu đang thuở mười ba
Chắc là đỏng đảnh như là tuổi tôi".
          (Yêu cầu- Trang 21)

Yêu chiếc cầu Tràng Tiền khi Lê Thị Mây vào Huế. Hồi đó là năm 1976 cô Mây cũng đã gấp đôi tuổi mười ba, nhưng cho đến bây giờ cô vẫn nhớ tuổi mười ba của mình để so nó với cầu thì thực thú vị. Có điều hai chữ "đỏng đảnh" mà nhà thơ vận dụng như còn sơ xuất. Bởi qua tập thơ tôi cảm thấy ở tuổi mười ba của Lê Thị Mây tính chất "nhí nhảnh" hồn nhiên rõ hơn là "đỏng đảnh". Nếu chỉ nói riêng dáng cầu đỏng đảnh thì hay đấy!

Còn một điều nữa là đọc thơ Lê Thị Mây đăng đó đây cũng như ở tập này bất giác tôi lại gặp nét cầu kỳ. Dù ý thơ hay nhưng cái cầu kỳ bỗng như chặn ngang cảm hứng:

"Nếu em đặt một chân
Lên nửa hạt cát bỏng"
          (Cát - Trang 49)

Cát nửa hạt này tôi hiểu thâm ý của nhà thơ. Nhưng tôi lại cho rằng cứ đặt chân lên hạt cát cũng đủ rồi, cũng thâm ý rồi, sao lại phải đặt chân lên nửa hạt cát cho nó sinh cầu kỳ. Chất sáng tạo của thơ ca có thể cao xa, phong phú, đa dạng mới lạ. Sức tưởng tượng của những tâm hồn thơ thường cao hơn thực tiễn song có nên thoát ly thực tiễn một cách trực diện vậy không? Cái nửa hạt cát này vấp vào tình trạng ấy. Âu cũng là sự trao đổi với nhà thơ về thiển ý của tôi. Ngoài sự băn khoăn ấy, điều khái quát trong tôi về tập thơ "Tuổi mười ba" là tập thơ hay, có bước nâng cao rõ về chất lượng. Số bài hay khá đồng đều hơn các tập thơ trước. Phải chăng khi tập trung trí tuệ hướng về cơ sở bản chất hồn nhiên vốn sẵn từ đầu thơ Lê Thị Mây đã tránh được những ảnh hưởng pha tạp nên càng rõ tính cách hơn. Đấy chẳng phải là lời bình của tôi mà ở tập "Tuổi mười ba" đang xác nhận điều ấy:

"Cứ như sông vô tình
Bắt nguồn từ lời mẹ
Theo sông ra tới bể
Em hiểu mặn lời ru...".

L.K.
(TCSH44/01-1991)

--------------
(*) Con gái tuổi 13, trai 16 là tuổi thành niên.




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • 1. Kawabata Yasunari (1899 -1972) là một trong những nhà văn làm nên diện mạo của văn học hiện đại Nhật Bản. Ông được trao tặng giải Nobel năm 1968 (ba tác phẩm của Kawabata được giới thiệu với Viện Hoàng gia Thụy Điển để xét tặng giải thưởng là Xứ Tuyết, Ngàn cách hạc và Cố đô).

  • (Thơ Đỗ Quý Bông - Nxb Văn học, 2000)Đỗ Quý Bông chinh phục bạn hữu bằng hai câu lục bát này:Đêm ngâu lành lạnh sang canhTrở mình nghe bưởi động cành gạt mưa.

  • Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.

  • Kỷ niệm 50 năm ngày mất nhà văn Nam Cao (30.11.1951-30.11.2001)

  • Có một con người đang ở vào cái tuổi dường như muốn giũ sạch nợ nần vay trả, trả vay, dường như chẳng bận lòng chút nào bởi những lợi danh ồn ào phiền muộn. Đó là nói theo cái nghĩa nhận dạng thông thường, tưởng như thế, nơi một con người đã qua "bát thập". Nhưng với nhà thơ Trinh Đường, nhìn như thế e tiêu cực, e sẽ làm ông giận dỗi: "Ta có sá gì đi với ở".

  • Nhà thơ Trinh Đường đã từ trần hồi 15g10’ ngày 28.9.2001 tại Hà Nội, thọ 85 tuổi. Lễ an táng nhà thơ đã được tổ chức trọng thể tại quê nhà xã Đại Lộc huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng , theo nguyện vọng của nhà thơ trước khi nhắm mắt.

  • Phan Ngọc, như tôi biết, là người xuất thân trong gia đình Nho giáo, đã từng làm nghề dạy học, từ năm 1958 chuyển sang dịch sách, là người giỏi nhiều ngoại ngữ. Hiện nay, ông đang là chuyên viên cao cấp của Viện Đông Nam Á (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia).

  • Có những con người mà ta chỉ gặp một đôi lần trong đời để rồi mãi nhớ, mãi ám ảnh về họ. Với tôi, nhà văn Trần Dần là người như vậy.

  • Trước tình hình số tập thơ được xuất bản với tốc độ chóng mặt, người ta bỗng nhiên cảm thấy e ngại mỗi khi cầm một tập thơ trên tay. E ngại, không phải vì người ta sợ nhọc sức; mà e ngại vì người ta nghĩ rằng sẽ phải đọc một tập thơ dở! Cảm giác ấy xem ra thật là bất công, nhưng thật tình nó quả là như vậy.

  • Những năm từ 1950 khi học ở trường trung học Khải Định (Quốc học Huế), tôi đã đọc một số bài thơ của Dao Ca đăng trên một số tờ báo như Đời mới, Nhân loại, Mới, Thẩm mỹ...

  • Tôi đến tìm ông vào một buổi sáng đầu đông, trong căn nhà ngập tràn bóng tre và bóng lá. Nếu không quen ắt hẳn tôi đã khá ngỡ ngàng bởi giữa phồn hoa đô hội lại có một khu vườn xanh tươi đến vậy!.

  • LTS: Rạng sáng ngày 11-7-2001, Toà soạn nhận được tin anh Đoàn Thương Hải - hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, sau một cơn đột quỵ, mặc dù đã được gia đình, bạn bè và các thầy thuốc Bệnh viên Trung ương Huế tận tình cứu chữa nhưng không qua khỏi, đã rời bỏ chúng ta an nhiên về bên kia thế giới!Tạp chí Sông Hương - Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế xin có lời chia buồn sâu sắc tới gia quyến nhà văn.Sông Hương số này xin giới thiệu hai bài thơ cuối cùng của anh được rút ra từ tập thơ chép tay lưu giữ tại gia đình.TCSH

  • Thơ Đặng Huy Giang xuất hiện trên thi đàn đã nhiều năm nay; song thật sự gây ấn tượng với bạn đọc phải kể đến một vài chùm thơ mà báo Văn nghệ đăng tải trên trang thơ dự thi 1998 - 2000; đặc biệt sau đó anh cho ra mắt bạn đọc hai tập thơ một lúc: Trên mặt đất và Qua cửa.

  • Có lẽ với phần lớn không gian thơ Phan Trung Thành, làm thơ là trò chuyện ân tình với những bóng dáng cũ, thuộc về quê nhà.

  • Trong bài viết điểm lại văn học năm 2000, sự kiện và bình luận, tôi có nêu hai tác giả trẻ, cùng là nữ, cùng có tác phẩm đáng chú ý trong năm, một người tập truyện, một người tập thơ. Người thơ là Vi Thùy Linh.

  • (Đọc “Gặp lại tuổi hai mươi”(*) của Kiều Anh Hương)Ngay bài thơ in đầu tập “Vùng trời thánh thiện” có hai câu đã làm tôi giật mình, làm tôi choáng ngợp:            “Những lo toan năm tháng đời thường            Như tấm áo chật choàng lên khát vọng”

  • đầu tháng 4 năm ngoái, sau khi tuần báo “Văn nghệ” của Hội Nhà văn Việt Nam đăng truyện ngắn dự thi “Quả đồng chùy tóc bện” của Trần Hạ Tháp - một bút danh “mới toanh” trên văn đàn, tôi ghé tòa soạn “Sông Hương” hỏi nhà văn Hà Khánh Linh:- Chị biết Trần Hạ Tháp là ai không? Tác giả chắc là người Huế...

  • Trương Văn Hiến có sở học phi thường và mang trong người một hoài bão lớn lao: an bang tế thế bình thiên hạ.

  • (Qua “Sau tách cà phê” của Nguyễn Trác, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000.)1- Sau năm năm từ “Chiếc thuyền đêm” (năm 1995), hình như  “đến hẹn lại lên”, nhà thơ Nguyễn Trác lại ra mắt bạn đọc tập “Sau tách cà phê”.

  • Thơ là một bức xúc của tình cảm và tư tưởng con người, buộc con người phải diễn ra bằng ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, đường nét, hình khối. Thơ là đòi hỏi, là nhu cầu của con người, nếu không biểu lộ được ra thì còn bức rứt khổ sở.