Mở đầu chuyến thăm Việt Nam lần thứ 5, Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa - bậc thầy giác ngộ tâm linh quốc tế - vừa có cuộc trò chuyện với các đại diện Hội Nhà văn VN tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chọn và đọc câu hỏi.
Đức Pháp Vương giao lưu tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Ảnh: N.M.Hà
Với tất cả những gì mà Ngài thấu hiểu được qua những gương mặt, ánh mắt đang hướng về Ngài của những người ngồi đây, Ngài có thể nói một điều ngắn gọn về… tương lai của dân tộc này?
Tương lai của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của chúng ta trong đời sống hiện tại. Nói một cách chính xác, sống là một nghệ thuật. Mỗi chúng ta là một kiến trúc sư của đời mình, hoàn toàn làm chủ đời mình. Nếu mỗi người đem hết tâm nguyện, nỗ lực hướng cách sống vào mục tiêu đem đến hạnh phúc, an vui cho mọi người thì sẽ có tương lai tốt đẹp.
Chủ đề của chuyến thăm lần này của Ngài là Yêu thương trong hành động. Xin giải thích thêm về thông điệp này.
Đời sống của chúng ta cần phải được vạch hướng đi đúng đắn bằng chính hành động của chúng ta. Những hành động này không bừa bãi bản năng mà phải dựa trên động cơ tích cực. Cần hiểu biết rằng không chỉ loài người mà rất nhiều loài động vật khác đều có quyền làm chủ thế giới này. Bởi vậy cần hành động một cách hiểu biết, trân trọng quyền làm chủ và bảo vệ sự tồn tại của mọi loài.
Hết lòng bảo vệ thế giới, bảo vệ mọi loài, đó là ý nghĩa “Yêu thương trong hành động”. Yêu thương phải được thể hiện một cách không vị kỷ. Được như vậy mới có thể tồn tại trong một thế giới an bình và hạnh phúc.
Xã hội hiện đại nói nhiều đến “giá trị tâm linh”, vậy “tâm linh” cần được hiểu đúng như thế nào và làm sao để ứng dụng trong đời sống hiện đại?
Cái gọi là “giá trị tâm linh” có rất nhiều cách giải thích. Nhưng với sự hiểu biết của riêng tôi, thì tâm linh là sự hiểu biết, có trí tuệ, nhận thức về nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng một cách đúng đắn, chính xác. Bởi vậy người không có tâm linh là người không hiểu biết về các sự vật hiện tượng trong vũ trụ này. Hiểu được giá trị tâm linh là phát triển sự hiểu biết trọn vẹn, ngọn ngành sự tồn tại của toàn thể vũ trụ.
![]() |
“Tôi là người buồn nhất và cũng không bao giờ biết buồn” (Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa) |
Giá trị tâm linh vô cùng quan trọng trong đời sống hiện đại. Ví dụ nếu chúng ta không hiểu rằng cây cối rất quan trọng vì chúng tạo ra oxy, chúng ta sẽ chặt phá rừng. Không hiểu nước sạch quan trọng thế nào, chúng ta sẽ làm ô nhiễm nguồn nước. Không hiểu mối tương quan giữa thiên nhiên và con người thì sẽ không biết bảo vệ môi trường. Những giáo lý của Đức Phật luôn được gìn giữ và phát triển tại Việt Nam là vì phần nào ta hiểu được giá trị tâm linh.
Ngài luôn quan tâm tới bình đẳng giới, tạo điều kiện cho nữ giới phát huy khả năng vì hạnh phúc của bản thân và cộng đồng. Xin chia sẻ về điều này?
Cuộc đời này còn nhiều khổ đau chỉ bởi sự không ổn định, mất cân bằng. Không biết trân trọng bình đẳng giữa con người với thiên nhiên, kết quả là chúng ta phải chịu nhiều khổ đau vì thiên tai, lũ lụt. Cũng như vậy, chúng ta thường quan niệm sai lầm rằng chỉ nam giới mới quan trọng, mới làm được nhiều việc lớn. Khi biết cân bằng, biết trân trọng lẫn nhau thì xã hội sẽ dần ổn định, khổ đau sẽ dần chấm dứt. Giáo pháp của Đức Thích Ca đã chỉ rõ sự bình đẳng giác ngộ giữa người nam và người nữ. Người nữ có khả năng làm tất cả những gì mà người nam làm được.
Một câu hỏi tôi vừa nhận được qua tin nhắn. Một nhóm những bạn văn đang ngồi ở Huế gửi lời kính chào đến Đức Pháp Vương. Một phần ba trong nhóm khẳng định Đức Pháp Vương không bao giờ buồn. Hai phần ba khẳng định Đức Pháp Vương là một trong những người buồn nhất thế gian vì Ngài là một trong những người thấu hiểu nhất đời sống trên thế gian này. Vậy Ngài có nỗi buồn không, nỗi buồn lớn nhất của Ngài là gì, và làm thế nào để đi qua nỗi buồn?
Tôi nghĩ cả hai đều đúng. Cá nhân tôi không bao giờ buồn. Tôi không quan tâm đến thực phẩm của tôi, tôi cũng chẳng quan tâm đến tương lai của tôi, ngay cả ngày mai tôi cũng không nghĩ đến. Trong lòng tôi chỉ trăn trở nghĩ tới chúng sinh, đặc biệt là tất cả những người vô minh, những người không biết trân trọng giá trị nhân quả. Hôm rồi, tôi đã nhìn thấy từ cửa sổ khách sạn tôi ở một người đánh cá. Ông ấy giăng lưới bắt được con cá, và để nó khỏi giãy giụa, ông ấy nhanh chóng chặt nó thành mấy khúc rồi ném vào khoang.
Lúc đó nỗi buồn sâu thẳm dâng lên trong tôi, tôi đã không thể dừng được dòng nước mắt. Người đánh cá không làm hại gì tôi cả nhưng tôi nhìn thấy và tôi thương xót. Người đánh cá đã không hiểu được quyền bình đẳng giữa họ và con cá, nên đã tạo nên một việc làm trong đạo Phật gọi là ác nghiệp. Theo lời Phật dạy, ác nghiệp này sẽ phải trả gấp trăm, gấp nghìn lần so với cái nhân đã gieo.
Cho nên, tôi cũng là người buồn nhất vì tôi thấy quá nhiều người sống không hiểu biết, quá nhiều người sống vô tình với nỗi khổ đau của người khác, loài khác. Bởi vậy tôi luôn tìm cách đưa giáo pháp của Đức Phật tới tất cả mọi người, để họ có thể ứng dụng cho cuộc sống của họ tốt hơn, hạnh phúc hơn.
Tấm gương trong hành động của Ngài rất gần gũi, cụ thể với những thiện hạnh đời sống như đi bộ, trồng cây, nhặt rác, cứu trợ người bệnh… Xin nói thêm về động cơ thôi thúc Ngài tiến hành các thiện hạnh này?
Đúng như bạn nói, tôi không làm được nhiều mà chỉ cố gắng làm ví dụ, làm tấm gương để mọi người thực hành theo. Đức Phật từng dạy, khi thấy một người làm một việc tốt dù rất nhỏ, cũng nên học tập theo. Trong xã hội hiện tại, mọi người đang dần quên đi sự bình đẳng của môi trường đối với con người, bởi vậy tôi đã cố gắng hết sức để tạo nên những hình ảnh, bài học để nhắc nhở, thôi thúc mọi người quan tâm hơn đến vấn đề này. Ví dụ tôi đã có những hành trình đi bộ hàng 500 cây số. Trong suốt chuyến đi, tôi khuyến khích tăng ni, Phật tử gom nhặt những loại rác không thể tiêu hủy cho các nhà máy tái chế. Số rác gom được rất nhỏ so với số rác mọi người trên thế giới thải ra mỗi ngày.
Tôi đã trồng hàng triệu cây xanh nhưng cũng không là gì cả so với số cây mỗi ngày các vị chặt xuống. Nhưng tôi hy vọng đó là tấm gương để mọi người nhìn vào mà quay trở lại bảo vệ môi trường, bảo vệ Trái Đất cho thế hệ mai sau.
Trước khi Ngài rời Văn Miếu, xin hỏi nếu Ngài muốn viết một dòng bí mật trên tường Văn Miếu thì đó là câu gì?
Bí mật ấy là chúng ta cố gắng phát triển đạo Phật. Các Phật tử cần phải hiểu đạo Phật không phải là một tôn giáo. Đạo Phật không chỉ ở trong chùa, không chỉ dành cho tăng ni, đạo Phật chính là tâm linh, là trọn vẹn sự hiểu biết.
Vậy những người không sát sinh trực tiếp, không ăn chay nhưng nỗ lực làm điều tốt đẹp cho xã hội, nên được nhìn nhận như thế nào?
Câu hỏi này liên quan rất nhiều đến quy luật nhân quả. Nói về nhân quả cần rất nhiều thời gian mới thấu đáo được. Tôi xin giải thích một cách vô cùng đơn giản. Cuộc sống hiện tại thiếu sự cân bằng giữa loài người và loài vật cho nên có nhiều đau khổ. Một số người sống rất tốt với con người thì lại thiếu tốt với loài vật, người tốt với cây cối thì lại thiếu tốt với nguồn nước… Tôi nghĩ đó là chúng ta làm sai giáo pháp. Trải qua bao thế kỷ, người Việt đã phải chịu khổ đau qua chiến tranh, qua đó chúng ta thấm phần nào triết lý đạo Phật. Lời khuyên của tôi là cố gắng sống một cách hiểu biết, cân bằng cho mình, cho xã hội. Cân bằng chính là phương pháp tốt nhất để chấm dứt những khổ đau không cần thiết.
Nguồn: Tiền Phong
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.