GIÁNG VÂN
Cầm trên tay tập thơ với bìa ngoài tràn ngập những con mắt và tựa đề “Khúc lêu hêu mùa hè”(*), một cái tựa đề như để thông báo về một cuộc rong chơi không chủ đích, và vì vậy cũng không có gì quan trọng của tác giả.
Ảnh: internet
Vậy là cô ấy rong chơi, và cô ấy mở to những con mắt của mình để nhìn ngắm thế gian mà cô được sinh ra ở đó.
Thế gian ấy có gì?
“nơi này không có dấu chân nào của mình
nơi này chẳng thấy nụ cười nào của mình
rơi vãi
nơi này của mình chẳng có gì vui
nơi này của mình mất tích
của mình tàn tro/ của mình xếp xó
của mình âm u/ của mình…”
(Nơi này của mình quá buồn)
Du Nguyên, thế hệ của máy tính, của internet đường truyền tốc độ cao, của thông tin tràn ngập, của tiện nghi, của mọi sự du nhập và phân luồng văn hóa, và cô, một nữ nhà báo ở trung tâm của cái thế hệ đó, nghĩa là cô có thể nhìn thấy tất mọi thứ, nhưng Du Nguyên không thấy bất cứ một mảy may gì là “mình” trong đó.
Không tìm thấy mình, và nhà thơ thấy gì?
“về hàng cây buồn nôn chiều nay tôi muốn
kể bạn nghe
những đám lá đã kịp tẩu tán nỗi buồn rồi
bay đi
cụm rễ chùm
tựa khuôn mặt người trẻ mọc lên đường gân
xanh xa xao
rồi một ngày ngơ ngẩn quá mà không còn
ngơ ngẩn được nữa
rồi ở đó
bốn mùa trở thành bài ca lâu ngày không ai cất”
(Về một luẩn quẩn buồn nôn)
Dường như không một phút nào, một thời khắc nào, những câu thơ của Du Nguyên không ám ảnh bởi nỗi buồn chán, bởi sự vô hồn, sự già nua, sự nhạt nhẽo, trống rỗng… Những thứ đó bao trùm lên, thống trị đời sống, thống trị tinh thần nhà thơ hay tất thảy chúng ta, mà nhà thơ, bằng linh giác của mình, đã chỉ ra nó.
Tôi có cảm giác, bằng toàn lực của mình, nhà thơ đã dành cho những cuộc vượt thoát. Ngay cách mà nàng dùng chữ “Lêu hêu” cho tựa đề tập thơ cũng là cách để vượt thoát, thoái thác mọi sự long trọng, các giá trị được coi là chuẩn mực của cái thế giới bên ngoài. Hay đôi khi tự cười vào chính nỗi buồn đau của mình. Nhưng rồi nàng phải kêu lên:
“tôi thấy mình mắc cạn ở đây
thành phố tháng mười
ý nghĩ đang bơi
ngập lụt ý nghĩ
tôi thấy mình đang trôi
thủy triều về giữa phố
những ngôi nhà vàng rêu phố cổ
bắt đầu trương phồng”
rồi nữa:
“tôi thấy mình kéo theo rác
từ thùng rác công cộng
từ trí nhớ già nua
từ tình yêu mốc mọt
từ mọi cống rãnh thành phố
tất cả bơi bơi
ý nghĩ và rác”
(Tôi thấy mình mắc cạn ở đây)
Và rồi sẽ ra sao nữa, có thể kéo được con tàu buồn bã lê thê ấy hay không? Hay kéo được một vài mẩu của nó theo cuộc vượt thoát của mình hay không?
Điều đó mới khó sao, khi những ô của đã mốc thếch, những người phụ nữ cần mẫn son phấn, những chân dung luôn lẫn vào nhau, những cuộc đời trôi đi không có niềm vui, những tuổi thanh xuân già cỗi… cứ như thế, dường như bất tận.
Nhà thơ của chúng ta nài nỉ:
“bạn không đi cùng tôi à?
chỉ một đoạn đường rầu rĩ thôi mà
chỉ một đoạn đường tuổi trẻ mê mệt thôi
mà
lên đồi sẽ lắm gió
lên đồi sẽ nhìn thấy tôi cười
lên đồi tôi sẽ hôn bạn
và kể cho nghe những bí mật nhỏ
dễ thương trần đời”
(Giấc mơ của Dung)
Rồi nàng dụ họ:
“bạn có nhớ tôi không? cô gái mắt nâu, đêm
đêm vẫn nghe Trịnh và sống ngây dại giữa
đời thường? cô gái đã xé tuyên ngôn về
mình mà cô độc bước đi? cô gái có lần tôi rủ
rỉ sẽ nhớ nhung mãi?
tôi đã chọn con đường đẹp nhất trong tuổi
trẻ của mình
mà đi”
(Giấc mơ của Dung)
Nhà thơ Nga, Boris Paxtenac, trong một bài thơ viết cho nhân vật La ra trong tiểu thuyết “ Bác sĩ Jivago”, có hai câu, tôi không còn nhớ không chính xác:
“Thì em hỡi, lòng cam đảm mà ta có được
Là vĩnh phúc trên bước đường thảm khốc”
Tất nhiên là khập khiễng khi so sánh, nhưng tôi yêu sự can đảm của cô gái bé nhỏ, mảnh mai và duy mỹ này. Không chỉ một lần, mà luôn luôn nàng tuyên bố về sự cô độc, chấp nhận sự cô độc ấy, chỉ bởi vì, nàng muốn đi tìm cái gì đó khác, những giá trị khác
“họ nói về tôi
như một kẻ lang thang trong thế kỷ
tuổi hai mươi trên đường
tóc bay và gió thổi
chỉ có nỗi buồn nằm nguyên
tôi bóc trần chính mình
như cởi từng lớp áo, lớp da, lớp lòng ruột
để mơ về những điều tinh khiết nhất
tự do nhất”
(Sự bóc trần và tóc bay)
Bóc trần chính mình, và không ngừng mơ về “những điều tinh khiết nhất”, và đương nhiên, nàng sẽ chối bỏ mọi lớp vỏ hào nhoáng, giả dối, chối bỏ những gì không phải là mình, không thể lẫn một chút nào trong mớ “lủng bủng, lùng bùng” của đời sống đầy toan tính lẹp nhẹp. Vậy nên người ta thường thấy một Du Nguyên trong hình ảnh, khoác ba lô, giày buộc giây, quần áo rộng lùng thùng, và một mình đang ở đâu đó.
Nhưng dù cho không thiếu lòng can đảm, thì cuộc vượt thoát chẳng hề đơn giản, nó không phải như việc xách ba lô là đi, mà kể cả xách ba lô thì vẫn phải trở lại căn nhà mình trú ngụ, huống chi là cuộc bứt phá khỏi mọi tù ngục tinh thần, mà nhưng tù ngục đó, nhiều khi tinh vi và ma quái.
“có đôi lần
mình nhìn thấy lòng mình dư thừa mớ già
nua lòng ruột/ cũ rích
từ độ mười tám/ chẳng biết quẳng đi đâu
ôi đôi mắt u buồn/ đôi mắt già thêm tí nữa
lơ láo nỗi buồn/ lơ láo tù đày
trong thế kỷ hoa thơm và rác
để hát bạn nghe nhé/ một bài thôi
nhỏ tí ti ấy mà/ mình chỉ hát khi buồn
khi buồn mà thôi
cạnh chiếc bình gốm cũ/ chú kiến đen ngáp
lích ra lích rích/ già nua cũng sột soạt
ra chiều như muốn im hơi”
(Ra chiều như muốn im hơi)
Trong cái nhà tù ấy, bao người đã mệt, đã đầu hàng, đã thất bại, nhất là khi họ đã có được đôi chút gọi là thành tựu, là danh tiếng, là vật chất…
Những phẩm chất thi nhân, khi đó không còn tồn tại, nó sẽ biến mất, bốc hơi như chưa từng tồn tại.
Biết sao được, vì thơ là sự thần diệu trong tâm hồn con người, mà khi sự thần diệu mất đi, thì đâu còn gì.
Phật giáo nói về sự buông bỏ như là phương pháp chính yếu để con người tự giải thoát khỏi mọi đau khổ trầm luân của cõi người, nhưng than ôi, điều đó chỉ xẩy ra khi con người đã trải qua bao thăng trầm.
Tôi thực sự thích một Du Nguyên khi viết những câu thơ như là buột ra từ tâm thức, từ những cơn mơ, từ những ám ảnh dằng dặc không thể giải thích.
Đó là những bài thơ nằm ở phần sau của “khúc lêu hêu mùa hè”, những bài như” Cả đi, cả khóc, cả cười” “Chiếc hộp di tản” “Rõ ràng tôi đã chết” “Trong giấc mơ ai cũng cười” “Toàn thân run lên như sắp mọc mầm” “Mẫn cảm của bóng” “Thơ, chiếc quần lót và nỗi buồn không địa chỉ” “Ở đây không có quà của mẹ” “Một bài hát và một người con gái bé bỏng nhất đã qua đời tối qua”…
Ở những bài thơ này, Du Nguyên bộc lộ mặt mạnh nhất của mình, một thứ bản năng thi nhân thiên bẩm, nằm ngoài mọi sự cố gắng của nhận thức lí trí.
“sao ai cũng bảo tôi ổn/ để tôi lăn ta lăn tăn
phố thị buồn rầu/ tôi buồn rầu
hơ bàn tay ngơ/ cái này chẳng phải thơ đâu
thơ tôi đã chết đuối ở tuổi hai tư”
(Ở đây không có quà của mẹ)
“người đi săn bóng trên mảng tường đô thị
người đi khấp khểnh, lênh đênh, tênh hênh
người đi thành hàng dài, hàng dài nối nhau
về phố xá
người quay về nhốt bóng mình
một thuở buồn lêu rêu
người đi ăn bóng mình nham nhở trong giấc
mơ
người giễu bóng sống cuộc đời của bóng
người ôm mặt người bóng khóc rưng rưng”
(Mẫn cảm của bóng)
“hôm nhớ gió quá/ chạy ra ngã ba
thành phố không có mặt người
thành phố không còn tình yêu
thành phố mặt trời đỏ ối
thành phố thu lu trên cao
thành phố buồn, thành phố hát lêu nghêu”
(Toàn thân run lên như sắp mọc mầm)
Có thể nhặt ở bất kỳ đoạn nào trong các bài thơ Du Nguyên ở phần sau của tập thơ đều như thế này. Một Du Nguyên thả lỏng hoàn toàn cho tâm thức đẫn dắt. Một Du Nguyên phiêu lãng mà câu chữ, nhịp điệu đều được lắp ráp một cách thần tình không chủ ý. Một Du Nguyên với sự vô vọng không sao cứu vãn. Mà cô ấy cố gắng vớt vát tự giải thích rằng, cô ấy mắc chứng nghiện nỗi buồn:
“đêm qua, đứa con gái trốn khỏi nhà
tìm một cơn mê đắm khác
thành phố này có điều gì vui không
không, không, không
tiếng hét thất thanh của một người đàn bà
trú dưới nắp cống/ không không không
tự nhiên gì đâu/ rơi tõm vào nắp cống
ngồi như một tên du côn lãng đãng qua thế kỷ
lòng rầu lây rây
nửa đêm
gặp ngay bóng mình treo trên một cành cây
khô
cô gái đó bị chứng bệnh nghiện nỗi buồn
đời sống chỉ là chất xúc tác
để cô thêm cô độc”
(Một bài hát và một cô gái bé bỏng nhất đã qua đời tối qua)
Một bàn tay ngơ, một trải tim bị lạc mất, những bài hát chỉ được hát lên khi buồn, những giấc mơ tràn ra khỏi những giấc ngủ… nàng cô độc, nàng chấp nhận cô độc, nhưng nàng còn rất trẻ, nên nàng cứ cật vấn liên tục về những điều mà trái tim nàng chưa thể tới:
“anh có cô độc không?/ em có cô độc
không?
làm sao phục sinh một nỗi niềm khi mình
chưa cất bước ra đi
trong ngõ khuya sâu hoắm của lòng mình,
cột đèn nào không dẫn về ngã ba, ngã tư,
ngã sáu? nếu có con đường một chiều, mình có
quay lại.. như ngày đầu tiên?”
Khúc lêu hêu của nàng thật ra, chứa đựng những bí mật sâu thẳm nhất của tâm hồn nhạy cảm, dễ tổn thương của nàng.
Tôi rất thích bài thơ “Rõ ràng em đã chết” trong số những bài thơ ở phần sau. Cảm thức về cái chết, về sự song hành của sống và chết, và ngay trong cái chết thực vật của chính mình, Du Nguyên nhìn thấy sự vượt thoát của linh hồn về phía ánh sáng, về phía tự do, về phía bầu trời…
Ý thức của nhà thơ về sự vượt thoát này thật mãnh liệt, đến độ, tôi hình dung thấy nó thường xuyên trong các giấc ngủ, nàng đã mơ về nó, đã buồn rầu đã tuyệt vọng, đã tự thấy mình đã chết vì thất bại.
Nhưng tôi yêu Du Nguyên bởi ngay cả khi nàng cho rằng, mình đã thất bại, thì nàng vẫn viết:
“họ đã vẽ bức chân dung về tôi
đứa buồn cười nhất của cuộc đời
mà người mẫu không hề có mặt
trong thế kỷ của họ”
Phải vậy, nó là bí ẩn của thi ca, của tâm hồn, làm sao ta có thể cầm nắm được hương hoa, cầm nắm được những vẻ đẹp không ngừng biến ảo. Vậy nên chúng ta chỉ có thể xúc động vì những điều đó mà thôi.
G.V
(SHSDB22/09-2016)
........................................
(*) Tập thơ “Khúc lêu hêu mùa hè”, Du Nguyên, Nxb. Hội Nhà văn, 2014.
Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.
HUỲNH HẠ NGUYÊN (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...
LÊ MỸ Ý (L.M.Y): Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.
Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.
NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.
NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".
NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.
PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi
NAM NGỌC (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.
BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.
HOÀNG VŨ THUẬT (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.
ĐINH NAM KHƯƠNG (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao: “...Hình như hắn là nhà quê Hình như hắn từ quê ra...” (Gốc)
NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.
MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.
FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.
BÍCH THU (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.
ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.
HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).
NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.
THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.