Nhiều người Huế ngày trước thuờng ngâm nga câu hát: “ Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi/ Cô đi về đâu tan buổi học rồi?/ Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao/ Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba / Cô về Vĩ Dạ hay ngược Kim Luông/… Tôi mơ một bóng khi về đơn côi/ Áo dài dáng đẹp tóc còn buông lơi/ Ghi một kỷ niệm cuộc đời trong tôi”.
Nhạc sĩ Thu Hồ ngày đó có lẽ yêu một nàng Đồng Khánh da diết mới viết ra những dòng lãng mạn và yêu thương đến thế! Đồng Khánh ngày xưa…Ôi chao! đẹp lắm, hay lắm, lạ lắm, thơ mộng lắm, tuyệt vời lắm…Đồng Khánh ngày xưa…đã níu chân biết bao lãng tử - biết bao chàng trai hào hoa, lịch lãm trong Nam ngoài Bắc.
Trường ra đời từ năm 1917- mang tên một ông vua triều Nguyễn mệnh yểu Đồng Khánh (1885-1888)- chỉ trị vì có ba năm thì mất. Thầy Tôn Thất Bình nói với dân Văn khoa chuyện cũ cung đình: Vua Đồng Khánh hay chú ý ngoại diện, thường chăm sóc trang điểm -có tới năm cung nữ chải chuốt bộ móng tay, thay quần áo, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa…Có phải vì thế mà tên trường được đặt là Đồng Khánh? Đúng thế không biết! Sau này người ta bảo ông vua nhu nhược- chấp nhận sự đô hộ của người Pháp, phải đổi tên trường - có lúc là Trưng Trắc và giờ đây tên gọi là Hai Bà Trưng. Cách đây hai năm Đồng Khánh tròn chín mươi năm - một chặng dài của bao biến động lịch sử - một khoảng lặng của bao tâm hồn thiếu nữ khi nhớ về trường xưa tình cũ. Chị họ tôi - năm nay đã ngoài 70, học Đồng Khánh từ thuở thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Mắt chị đã mờ - vậy mà ngày nào cũng giở tập lưu bút, mân mê chiếc áo dài trắng cũ sờn vai và tập bưu ảnh nhập nhòa của một thời nữ sinh nhiều mơ mộng. Giọng từ tốn chậm rãi như các mệ trong tam cung lục viện xưa - chị đăm đăm nhìn phía xa xăm : “ Nữ sinh giờ chán lắm, không bằng chút cheo tụi tao Đồng Khánh Huế ngày xưa…”. Rồi chị thâm trầm: “Thầy dạy văn năm đệ nhị đã gieo vào lòng tình yêu văn chương cho chị và cả gia đình - không có thầy chị chẳng biết chi mô… Câu chuyện ngày xưa Trang Tử, cơ nghiệp thiêu rồi ngồi gõ khúc bồn ca…hay là một Thánh thi Cao Bá Quát khinh thế ngạo mạn - một Bà Huyện Thanh Quan quý tộc, đài các - một Hồng Hà nữ sĩ với bản dịch Chinh phụ ngâm tuyệt tác- ai đọc rồi chẳng cần cất công đi tìm nguyên tác…Hiệu trưởng trường Đồng Khánh ngày ấy - cô Thân Thị Giáng Châu- đối với chị là một phụ nữ tuyệt vời- thần tượng cho cả thế hệ chị và lớp lớp phụ nữ thời ấy…”
Tôi học Hàm Nghi - vốn là trường Quốc Tử Giám trong Thành Nội. Ngày đó nam nữ học riêng. Chỉ có một số trường sau này như: Kiểu Mẫu, Gia Hội và các trường tư mới có chuyện nam nữ chung lớp. Ai trong lứa chúng tôi cũng mơ được làm quen với một nàng Đồng Khánh- coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè khi cao hứng. Điều này quả là chuyện khó, mấy nàng Đồng Khánh lạnh như băng – thâm trầm như biển sâu - nói như anh Mường Mán: “ Tội tui lắm! cách cho vài bước / Đừng đi gần hai đứa sóng đôi / Xa xa cho kẻo bạn tui cười / Mai vô lớp cả trường dị nghị…”. Xứ Huế lưới trời lồng lộng, yêu lắm cũng chỉ để trong lòng - không dám mô - họa chăng chỉ là lá thư vụng về và bài thơ viết dở.
Có chị Vĩnh Liêm- Đồng Khánh (1957-1964) qua đò Thừa Phủ hai buổi đi về. Chuyện rằng: Có chàng Quốc Học “bốn mắt” để ý chị từ lâu nhưng chẳng dám ngỏ lời. Có hôm vừa tới bến - đò đã chống sào, chàng chỉ chờ đợi có thế để đưa tay cho chị bắt, chỉ việc nhảy xuống đò là có thể kịp buổi học. Nhưng không “nam nữ thọ thọ bất thân” nên đành ngậm ngùi, bất lực trông theo con đò rời bến- đành chấp nhận trễ buổi học và tất nhiên là hôm đó chị bị phạt cấm túc tới mấy buổi. Sau này chị Liêm bảo: “Sau bao thăng trầm bể dâu nếm đủ mùi vị ngọt bùi cay đắng của cuộc đời, nhớ về kỷ niệm xưa, tui tự trách mình sao quá vô tình trước một tấm lòng. Những lúc buồn tui để hồn bồng bềnh trôi theo dòng Hương giang, ghé lại bến bờ cũ. Ký ức bỗng hiện lên hình ảnh một nữ sinh áo trắng tóc thề đội nón bài thơ có quai ruy băng tím và anh chàng thi sĩ bốn mắt đang đưa tay ra chực nắm tay cô. Một niềm hạnh phúc nho nhỏ chợt đến, tui mỉm cười và triết lý một mình: Ừ nhỉ, thời gian cũng có hai chiều…”
Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư được nhiều người thích nhưng lớp nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy tâm đắc nhất: “ Em tan trường về / Đường mưa nho nhỏ / Chim non dấu mỏ / Dưới cội hoa vàng…Anh đi theo hoài / Gót giầy thầm lặng / Đường chiều úa nắng / Mưa nhẹ bâng khuâng…”. Bài thơ chưa kịp phổ nhạc (nhạc sĩ Phạm Duy) đã được chép tay chuyền nhau và nằm ở trang vở đẹp nhất trong cặp sách của các nàng nữ sinh Đồng Khánh. Danh từ riêng Hoàng Thị đã thành danh từ chung cho những cặp đôi học trò đưa nhau về mỗi buổi tan trường nơi xứ Huế mộng mơ… Bữa nớ chàng nào hoàng thị mi rứa? Ngày qua tao thấy mi hoàng thị đó nghe? Chàng và nàng hoàng thị đẹp đôi ghê?Tao méc cho coi- hôm nớ mi và cái anh trắng trắng hiền hiền hoàng thị đó nghe…
Không biết chị Ngọ có còn không, giờ đang nơi đâu, nghĩ gì về câu chuyện hoàng thị thuở xưa? Gần đây có người nhận mình là chàng trai đã làm quen với chị những năm Sài Gòn cũ - một Nguyễn Quang Minh nào đó của những năm 1963,1964…Anh Minh ơi! Ngày ấy phải có tới hàng ngàn ngàn chàng trai xứ Huế làm thơ gởi chị Ngọ- mong mình được là Phạm Thiên Thư để được hoàng thị với cô nàng Đồng Khánh trong mơ. Chao ôi, tình yêu tuổi học trò sao mà đẹp thế, hồn nhiên thế, mơ mộng đến thế!?
Mối tình học trò nhiều hoa mộng. Yêu em từ dạo ấy, thuở Đồng Khánh ngày xưa, tình yêu mong manh nhưng trong sáng- đẹp như ánh pha lê. Tan trường, áo dài tung bay trong gió, tập vở ôm nghiêng, mưa Huế lất phất, em dịu dàng nhẹ bước. Có chàng trai lẳng lặng theo sau, từng ngày từng ngày trôi qua, chẳng dám ngỏ lời, chỉ dám tặng em chùm hoa nhỏ. Cô ép vội cành hoa vào trang vở và môi nở nụ cười bâng khuâng…Mùa hạ tới rồi thu sang mang theo nỗi buồn- chàng lên đường nhập ngũ, con đường kỷ niệm xưa nhạt nhòa trong ký ức…Một ngày nào chàng trở lại con đường xưa, lang thang tìm lại dấu chân của ngày tháng cũ nhưng quanh chỉ còn lại những dư âm nghẹn ngào, anh nghe tiếng lòng ngẩn ngơ, nuối tiếc: “ Mười năm rồi Ngọ / tình cờ qua đây / cây xưa vẫn gầy / phơi nghiêng ráng đỏ / áo em ngày nọ / phai nhạt mấy màu?/ chân tìm theo nhau / còn là vang vọng / đời như biển động / xóa dấu ngày qua”. Lời thơ và ca khúc vang lên giai điệu cuối: “Ai mang bụi đỏ đi rồi…”. Thế mà âm vang trong chàng vẫn còn vọng lại:… Em tan trường về, em tan trường về… Dễ thương lắm, man mác lắm, tha thiết lắm người ơi…
Lục lọi trong thư tịch cổ, một người Pháp sống ở Huế thời bảo hộ đã có một phát ngôn thú vị: “Huế là nơi cái chết mỉm cười, vui tươi thổn thức” ( Le deil sourit, la joie soupire). Đó là nơi thanh thản dạo chơi trên lăng tẩm cung đình triều Nguyễn nếu người lữ khách mệt mỏi lo toan, nhưng lại là điệu buồn ai oán nếu du khách thả hồn theo làn điệu ca Huế trên dòng Hương. Quả là một nhận xét khá độc đáo.
Ngược dòng lịch sử, Huế là đất một chuyện tình - gắn với số phận lênh đênh của nàng công chúa dưới thời Trần- Huyền Trân. Năm 1306, cô ngàn dặm ra đi theo Chiêm vương Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Rí. Xin Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận Hóa, Chúa Nguyễn Hoàng trong lần tuần du trên xứ Hà Khê đã được nữ thần phán bảo: Hãy thắp lên nén nhang xuôi dòng Hương từ Thiên Mụ về, nhang tàn sẽ là đất thiêng nơi dựng đế nghiệp… Dưới triều đại Hoàng đế Quang Trung, Huế lại đón nhận thêm một vị công chúa từ đất Thăng Long thanh lịch của nhà Lê về Phú Xuân làm Bắc cung Hoàng hậu, và cũng nơi này - khúc “ Ai tư vãn” khóc người anh hùng áo vải cờ đào nổi tiếng của bà đã ra đời…Hình như là thế. Đất Huế gắn chặt với huyền thoại và số phận của những phụ nữ tài hoa mệnh bạc. Đến thời hiện đại trước 1975, một huyền thoại mới đầy huyền hoặc thơ mộng lại xuất hiện trên đất Huế- nữ sinh Đồng Khánh. Tan trường áo trắng tung bay, tóc thề trước gió, vành nón nghiêng che trắng cả bến đò Thừa Phủ và Tràng Tiền mười hai nhịp. Tất cả đã làm nên một xứ Huế diệu kỳ.
Ngôi trường mang tên Đồng Khánh đã bất tử trong lòng những ai yêu Huế, hiểu Huế. Đi tới nơi mô những thế hệ Đồng Khánh ngày xưa vẫn mang trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi. Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ… và ở nước ngoài: Pháp, Mỹ, Canada, Anh, Úc… đâu đâu cũng hội hè ái hữu Đồng Khánh - chuyện xưa Đồng Khánh. Nhiều chị nhiều nàng tự nguyện xin được vào hội dù chẳng phải Đồng Khánh ngày xưa…Họ vẫn hồn nhiên nhưng đau đáu về một thời thiếu nữ thầm lặng mối tình đầu.
Đồng Khánh ngày xưa.. là một thế giới huyễn hoặc của riêng Huế, của cô gái Huế. Tên gọi Đồng Khánh đã không còn, con đò Thừa Phủ đã thuộc về kỷ niệm, những tà áo trắng tinh khôi thuở ấy đã thuộc về dĩ vãng…Tìm đâu bóng dáng những Chiêm nương váy tím cỏ hoa lau lách nguyên sơ với man điệu buồn. Tìm đâu ngọn nguồn mối tình Khắc Chung- Huyền Trân rỉ máu…Thôi thì … thôi thì…nói như chàng Trịnh -nhạc sĩ của đất Huế đẹp và thơ: Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…
Theo Lê Quang Kết/ hamnghihue.com
TRẦN HUYỀN ÂN
Tôi thường hay nghĩ về tết gắn liền với hình ảnh của mạ tôi - người thường kể cho tôi nghe câu chuyện tết bằng câu mở đầu: “Hồi nớ, tết là...”.
Kinh tặng, hương hồn nghệ sĩ Châu Thành
“Những con hổ xám đường 14” là biệt danh mà nguyên Thành đội trưởng Huế Thân Trọng Một dùng để tôn vinh một Trung đội bộ đội địa phương Quận 4 miền Tây Thừa Thiên do A Lơn chỉ huy.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm, kết thúc bằng Điện Biên Phủ lẫy lừng, chờ tổng tuyển cử sau Hiệp định Genève hai năm mòn mỏi, quân dân ta còn phải trường kỳ kháng Mỹ dài mấy mươi năm.
LÊ XUÂN VIỆT
Sau ngày miền Nam giải phóng (Xuân 1975) tôi chuyển công tác từ Đại học tổng hợp Hà Nội vào Huế. Ở thành phố đẹp và thơ, đầy mơ mộng này rất hợp ngành văn mà tôi say mê và theo đuổi từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.
PHẠM HỮU THU Nếu không nghe những nhận xét, dù kiệm lời của những vị cựu lãnh đạo địa phương và không trực tiếp kiểm chứng, thú thật là tôi không thể viết về con người này, một con người không chỉ dũng cảm trong chiến đấu mà còn giàu lòng nhân ái đối với đối phương và tận tâm vì nghĩa tình đồng đội. Người đó là ông Lê Hữu Tòng, nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Hương Thủy!
Hồng Thế vừa làm thơ vừa cày ruộng ở quê. Cách đây mấy năm, anh có con bò già không cày được nữa, phải bán đi để mua bò mới.
TẤN HOÀI
bút ký
Nhà văn Graham Grin có một quyển tiểu thuyết "MỘT NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG".
NHẤT LÂM
Bút ký
NGUYỄN PHÚC ƯNG ÂN
Hồi ký
Tôi tỉnh giấc. Ngoảnh sang bên cạnh thấy các bạn đã ngồi dậy. Nằm yên trong bóng đêm, tôi thử tính xem mình đang còn cách Huế mấy cây số.
HỮU THU - CHIẾN HỮU
Ghi chép
Cuối năm ngoái, huyện Hương Trà tổ chức khánh thành hồ chứa nước Khe Rưng.
THANH THANH
Thật bất ngờ đọc lại một năm thơ Sông Hương dưới trăng rằm mười bốn chạp rồi ngơ ngẩn bấm đốt tay.
HÀ KHÁNH LINH - NGUYỄN KHẮC PHÊ
Chuẩn bị ra số kỷ niệm 10 năm giải phóng, Tòa soạn Tạp chí Sông Hương đã có kế hoạch phỏng vấn đồng chí Vũ Thắng, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên, nhưng chương trình làm việc trong tuần của đồng chí văn phòng đã xếp quá chật.
PHẠM HUY LIỆU
Hồi ký
Đầu tháng 9/1968 tôi điều trị ở Bệnh viện Binh trạm 34, tỉnh Saravane, Nam Lào. Viện nằm trong thung lũng. Xung quanh nhiều núi cao rừng già nên cũng ít bị máy bay Mỹ quấy nhiễu.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Bắt sáu tên giặc Pháp nhảy dù xuống huyện Phong Điền.
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế thắng lợi, chiều cùng ngày, tại Sân vận động Bảo Long (về sau đổi gọi là Sân vận động Tự Do), trước hàng vạn đồng bào dự mít tinh, Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên được thành lập và ra mắt, do nhà giáo Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Tôi tỉnh giấc khi trời còn tối, nhưng không sao ngủ được nữa. Không phải vì tiếng động của những guồng máy quay, tiếng những vành thép nghiền vỡ vụn đá và cờ-lanh-ke.
TRẦN SỬ kể
HOÀNG NHÂN ghi
Chiến tranh du kích ở huyện Hương Thủy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra với nhiều hình thức chiến đấu đầy tính chất sáng tạo của toàn dân.
NGÔ MINH
Đối với anh em làm thơ, viết văn ở ba tỉnh Bình - Trị - Thiên trong nhiều chục năm qua, nhà thơ Hải Bằng là người không thể quên!
HỒNG NHU
Tôi biết anh, đọc anh từ trong kháng chiến chống Pháp, nhưng mỗi người một đơn vị công tác, mãi đến năm 1972 mới gặp nhau. Đó là một ngày mùa hè, bấy giờ Đông Hà vừa mới được giải phóng.