Đêm giao thừa

09:53 18/02/2011
An-ghiêc-đax Pô-xi-ux, sinh năm 1930, tại làng Ketubai - ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Litva ở Học viện Giáo dục Klaipeda - Ông viết văn vào năm 1953, tác giả của nhiều truyện ký, đồng thời ông còn là nhà văn viết nhiều cho tuổi thơ.

Minh họa: Bửu Chỉ

AN-GHIÊC-ĐAX PÔ-XI-UX


Đêm giao thừa


Căn nhà của người giữ rừng Giôn-nat Mốt-kút nằm giữa một khoảng rừng thưa, chung quanh là ba luống rừng rậm bao bọc. Ban ngày những người dân ở làng Pat-xin không nhìn thấy căn nhà nhỏ ấy, chỉ có những chiều đông sẫm tối, khi người giữ rừng đốt đèn lên trong nhà, dân ở làng mới trông thấy hai đốm lửa lung linh giữa bức tường dày mịt của rừng cây - Mỗi lần tình cờ gặp anh, người dân quê hay bông đùa:

- Mốt-kút, cậu có cuộc sống thật đẹp, ngay cả gió cũng không đụng chạm tới cậu.

Thật ra tâm tư người giữ rừng không mấy thỏa lòng với khung cảnh đang sống. Đôi khi anh cũng mong muốn được sống ở làng như bao người khác - Và anh nghĩ đến điều ấy nhiều nhất trong những đêm đầu năm mới.

Năm nay Mốt-kút đón tết thật chu đáo - Anh xuống làng mua một rổ cải ngọt, một gói bánh mì và một bao trái hốt-bố để làm rượu. Trước đêm giao thừa, A-nhét-xca vợ anh đã quay một đùi thịt cừu thơm phức, sốt cà chua phủ quanh rồi đặt lên lò lửa riu riu để giữ cho nóng. Khi màn đêm sắp buông xuống, Mốt-kút đã cào sạch lớp tuyết trên tam cấp và quét dọn ngưỡng cửa thật cẩn thận. Trong nhà, anh cắm những cành thông làm cảnh, hương nhựa thông quyện lẫn men rượu bia sủi bọt tỏa lan… Ôm con ngồi trước lò sưởi, thỉnh thoảng ngửi thấy mùi thơm bay đến bên anh, anh xao xuyến kể cho cậu bé Sta-xít nghe chuyện về năm mới.

- Đêm nay, con yêu của bố, khi giao thừa điểm năm mới sẽ về cùng quê hương mình, năm mới sẽ nhảy qua những đỉnh núi cao, thật cao, năm mới sẽ băng qua những vùng biển sâu, thật sâu - Rồi năm mới sẽ dừng lại trong nhà chúng ta, ban nhạc hương thôn sẽ dẫn năm mới đi qua những gò tuyết đến đây chúc tết gia đình mình. Người nhạc sĩ nầy sẽ thổi vào cái kèn to, thật to. Người nhạc sĩ khác sẽ réo rắt kéo đàn violon, và người kia nữa sẽ nhịp nhàng đánh lên một cái trống to tướng kêu “Buum! Buum! Buum!”. Cả khu rừng lúc ấy cũng phải lắng nghe khúc nhạc nầy, nhất là con đừng có sợ, con phải ngủ yên trên giường đừng kêu khóc nhé! Con có nghe không? Họ sẽ đến chơi với nhà mình, ba sẽ rót rượu chức mừng họ.

Sta-xít lắng nghe cha, cậu thắc mắc muốn biết có phải cái trống làm bằng da dê không, và cái kèn có giống như ống sáo mà thằng bé Xtê-pát Xtơ-rát-đat lấy ống cây để làm không? Người cha kiên nhẫn trả lời cậu từng câu - Cậu bé Sta-xít thích thú nghe nhưng đôi mắt cậu dần dần trĩu xuống, rồi cậu ngủ lúc nào không hay, chẳng còn nghe cha say sưa kể nữa. Gần nửa đêm Mốt-kút khoác áo lông bước ra trước sân nhà. Thường khi những âm thanh vang đến từ thôn làng xao động giữa tiếng rì rào của rừng cây, đó là tiếng chó sủa ở góc máy quạt gió hòa lẫn tiếng người chuyện trò cãi vã, rồi tiếng ầm ầm động cả khu rừng, của đá băng đổ vỡ ở hồ Đai-bu-nai, trong tiết trời giá buốt. Nhưng trong đêm giao thừa nầy, mọi âm thanh đều khác hẳn, đều nhộn nhịp, tươi vui. Anh nghe trong tiếng vi vút của rừng thông xanh tốt, gần bên trường học vang lên tiếng đàn violon, tiếng đàn Accordeon đang hợp tấu, nhưng bản hòa âm nghe thanh thoát hơn cả là tiếng kèn Clarinet, ồ chính cái trống mới nhịp nhàng náo động hơn chứ. Thọc hai tay vào túi áo lông, Mốt-kút đứng trên bậc tam cấp, lòng xao xuyến với cảm giác mới lạ, anh cảm thấy ở sống lưng có cái gì rung nhẹ chạy khắp, anh không hiểu đó là vì khí lạnh, hay do âm thanh xa xa của bước chân năm mới đi về… quyện lẫn lời vi vu dịu dàng của thông rừng. Lòng anh phơi phới, anh quay bước vào nhà nhẹ nhàng đến bên giường đánh thức vợ dậy.

- Em ngủ à? Ban nhạc đang trình diễn ở gần trường, họ đang chúc mừng năm mới, anh, anh cũng chúc em sang năm thật nhiều hạnh phúc. Mốt-kút ôm lấy A-nhét-xca hôn lấy má vợ, rồi anh ngồi xuống cạnh chị mắt nhìn qua cửa:

- Ban nhạc đang trên đường đến nhà Gri-xi-ai-tít, có thể họ đi vòng đến mừng xuân nhà mình đấy.

Chợt anh lắng nghe. Có tiếng gì sùi sụt như than vãn. À đó là tiếng rượu bia sủi bọt, tiếng khò khè của con mèo nằm dưới chân giường.

- Rượu bia đang lên men… Mốt-kút khẽ nói - anh cởi chiếc áo lông ra, để nguyên quần áo nằm xuống giường đưa mắt nhìn lên trần nhà đầy bóng tối. Rồi những hình ảnh hiện ra trong tâm trí anh. Anh thấy giữa cánh đồng xanh tỏa đầy sương trắng, bóng một con nai đang ngại ngùng gặm cỏ, trong lúc nai con quấn quít đùa chơi dưới chân mẹ vểnh hai tai hí hửng… Rồi trong mắt anh hiện lên một rừng thông xanh ngát, có những vùng đồi chồn cáo đào những lỗ hang sâu tạo thành những đống đất vàng nổi bật - những hình ảnh thân thuộc với lòng anh nhất là những hàng thông xanh giao cành hai bên đường rừng. Như trong chuyện kể mỗi năm chúng lên cao khoảng chừng hai mét.


Sau khi nằm nghỉ một lát, Mốt-kút ngồi dậy xem chừng rượu bốc men có làm bật nắp thùng không, rồi anh khoác áo lông đi ra sân. Nghe tiếng cót két, con chó chạy ra khỏi chuồng, vẫy đuôi đến đứng cạnh cổng rào đưa mắt nhìn chủ, con chó ư ử ngáp dài nhưng thấy chủ hững hờ nó lặng lẽ ngoắt đuôi đi vào chuồng.

Mốt-kút đứng lặng một lúc đoán chừng ban nhạc đang chúc Tết ở nhà Li-uc-xít hay là gia đình Xtơ-rát-đat, những bạn láng giềng của anh, ồ thực khó mà nghĩ cho đúng họ đang chúc mừng năm mới ở nhà ai. “Từ nơi đó chắc chắn họ sẽ đến nhà Gri-xi-ai-tít”, Mốt-kút thầm nghĩ, “Đường đến nhà mình đâu có xa lắm, và họ có đến mừng xuân với nhà mình không?

Quay vào phòng, anh không chợp mắt được, anh châm thuốc hút, chốc chốc nhìn qua cửa sổ, nhưng trên con đường tuyết trắng giải màu anh chẳng thấy gì, giữa những bước tường thăm thẳm của rừng đêm không một bóng hình sinh động.

Một giờ sau, Mốt-kút lại kéo kẹt cửa lần nữa. Bên ngoài, đêm vẫn là muôn sao chiếu ngời ánh tuyết giữa trời thăm thẳm và tiếng rừng vi vu tĩnh mặc. Tiếng trống “bum bum” bây giờ phát ra ở bên trái. Vậy là họ đang đến với gia đình Gri-xi-ai-tít. Người giữ rừng lại trở vào nhà, với tay móc cái chổi ở ngưởng cửa đã phủ đầy tuyết lên hành lang.

- Họ không đến. Anh nói rồi cởi chiếc áo lông. Thùng rượu bia ở cạnh lò sưởi tiếp tục sủi bọt và sôi lên một cách buồn bã, tựa hồ như nó đang đợi chờ người uống. Mốt-kút lấy một cái bình ở trong ngăn tủ, cẩn thận mở nắp thùng ra rồi lọc vào bình chất rượu đầy bọt bốc mùi thơm có vị chua chua quyến rũ, anh đặt nửa bình rượu lên thành cửa sổ, lấy tấm ván đậy bình lại, anh nghe ở trong giường cậu bé Sta-xít đang mú mớ gì đó.

Khi Mốt-kút ngủ, trong mơ anh không còn thấy Nai hiền và Nai con nhí nhảnh nữa, anh chỉ thấy những đường rừng hoang vắng, những người săn thú trộm và một đống lúa mạch khô khốc ở trên kho vựa.

Và cớ sự mỗi năm đều giống nhau, mỗi lần chị A-nhét-xca bận bịu ở bếp thấy chồng sắm sửa đón Tết, chị bất bình dằn tiếng với anh:

- Đó! Đó! Lại phải hoài công thôi, lại ngồi suốt đêm mà đợi họ.

Có phải vì nhà của Mốt-kút nằm trái đường, và những đường mòn dẫn đến nhà anh phủ tuyết quá dày hay vì người thợ rừng không có quà xuân để đón tiếp ban nhạc? Thật khó mà nghĩ, nhưng việc rõ ràng là ban nhạc không đến nhà anh, cớ sự thế thôi.

Sáng ra cậu bé Sta-xít hỏi bố:

- Bố ạ! Sao những nhạc sĩ không đến nhà mình? Họ không biết là bố chờ họ hả?

Nhưng người cha không trả lời, lòng anh không được vui. Hôm ấy, ngay sau bữa cơm trưa đầu năm, anh đi vào rừng.

Những năm tiếp theo, mái nhà Mốt-kút đều lặng lẽ trôi qua trong những cái tết như thế, hai ngày xuân đầu năm chẳng một ai trong gia đình thiếu vắng bên nhau. Hình như tình cảnh không thể nào khác hơn được.

Sau ngày chiến tranh chấm dứt, cậu con trai của người giữ rừng đã học xong chương trình lớp 7, bây giờ cậu lên ở Klaipeda để học nhạc, anh đã chọn cho cậu con đường ấy vì lúc cậu còn tuổi tinh nghịch rong chơi, nhiều khi cậu ngồi suốt buổi nghe những nhạc sĩ thổi kèn Trompet trình tấu ở Pat-xin.

Vợ chồng Mốt-kút lần đầu tiên mong nhớ vì tết năm nay thiếu vắng con. Người giữ rừng nay đã có tuổi, suốt ngày chỉ ở trong rừng, đêm giao thừa bác chỉ trở lại nhà khi trời sụp tối. Vào nhà bác thắp cây đèn bão lên rồi đi về hướng chuồng bò, bác lấy cỏ khô bỏ cho bò, rồi ôm một bó đến nhét vào chuồng chó, con chó nay cũng đã già.

- Cỏ này không xóc mình lắm đâu, bác vuốt ve nói với con chó đang kêu mừng quanh chân bác.

Đêm nay lũ vật sẽ ấm áp mà, bác Mốt-kút nghĩ thầm rồi đi vào nhà. Bác đến giúp vợ lọc rượu từ thùng lớn sang thùng nhỏ, công việc không nặng nhưng người giữ rừng thấy mệt mỏi, khắp mình mẩy đau nhừ và các đốt xương nhức nhối khó chịu - Bác để cho vợ chăm sóc các thùng rượu rồi đến ngồi bên lò sưởi.

- Thằng Sta-xít nhà mình chắc là không về được. Bác Mốt-kút nói khi nhìn vợ đang đóng chặt cái nút vào thùng rượu.

- Nó đã nói thế! Nhưng biết đâu… Mặc dầu nó không được phép về… Sợ cơn gió dữ nầy… xe ở Klaipeda không chạy được. Bà A-nhét-xca nói với chồng trong lúc bận rộn quanh thùng rượu.

Sau bữa ăn tối, bác Mốt-kút đeo kính nằm dài đọc báo, vợ bác ngồi trên giường đun nốt cái bao tay cho con.

Giấc ngủ đè nặng lên mi mắt, bác giữ rừng trở dậy, vươn vai, nheo một mắt nhìn qua cửa sổ.

- Hình như gió có vẻ dịu bớt - Bác dò chừng thời tiết rồi nhấc chân nằm xuống giường. Vợ bác thổi tắt đèn cùng đi ngủ.

Giấc ngủ của họ thình lình bị đánh thức vì một âm thanh chát chúa kỳ quái, và dường như cả căn nhà đều rung chuyển. Ngồi bật dậy, bác Mốt-kút mắt nhắm mắt mở, không hiểu cớ sự ra làm sao. Bác hoang mang… Tiếng ấy trong giấc mơ hay là nhà bác bị đổ sụp loảng xoảng? Sau phút bình tâm, bác nhớ rằng hôm nay là ngày đầu năm, và biết đâu ban nhạc đang ở trước nhà bác và họ đang chúc mừng năm mới cùng chủ nhà bên trong. Bác nhảy xuống giường đến áp mắt nhìn qua cửa kính: Kìa những nhạc sĩ đang đứng trong sân với kèn, với sáo. Họ đang say sưa diễn tấu, nhịp chân của họ làm rung chuyển cả sân nhà.

Bác giữ rừng vội khoác chiếc áo lông năm xưa xỏ đôi chân trần vào guốc chạy ra phía cửa.

Khi bác mở cửa, một cảm giác chạy khắp người bác, không phải vì tiết lạnh mà cảm xúc từ bước chân năm mới. Bác cảm thấy không phải chỉ có những nhạc sĩ đang biểu diễn mà cả khu rừng hình như đang rộn rã hòa âm với họ.

Chợt thấy người chủ nhà xuất hiện trên ngưỡng cửa, ban nhạc hứng khởi biểu diễn càng náo nhiệt hơn, dáng điệu càng linh hoạt hơn.

Một người trong ban nhạc, vóc người thon nhỏ, đội chiếc mũ lông đen đứng tách khỏi hàng đầu đang thổi chiếc kèn clarinet màu đen. Anh ta xoay người lại trong dáng điệu trình diễn, gật đầu hai lần làm dấu, rồi tiếp một dấu hiệu khác. Nhạc đang vui nhộn bỗng ngừng lại rập ràng theo lệnh. Tức thời một sự im lặng lạ lùng bao trùm, chỉ còn âm hưởng của khúc nhạc vang xa trên khu rừng rồi ngưng bặt, tựa hồ như rừng đang đợi tiếng nói của người chủ nhà đang ngạc nhiên đứng trên ngưỡng cửa.

Và bác Mốt-kút sau khi chăm chú nhìn kỹ người nhạc sĩ thổi kèn clarinet có vóc mình thon nhỏ đội chiếc mũ đen, chợt bác bác kêu lên sung sướng:

- Ồ! Sta-xít con đó ư?

- Vâng! Bố! Con đây Bố!

Chạy đến ôm vòng tay bố, lần đầu tiên cậu chúc bố “sang năm mới thắng lợi mới”.

- Ồ! Kìa, các nhạc sĩ, hãy vào nhà mau, các cậu sẽ lạnh cóng lên bây giờ. Bác giữ rừng vồn vã với khách đầu năm vừa đưa tay mở rộng cánh cửa.

Bác cởi chiếc áo lông ra, sửa lại chiếc quần đang mặc, rồi tất bật chạy đến bên thùng rượu - bác Mốt-kút phấn khởi tươi cười:

- Bác nói đúng mà… Ban nhạc đâu có ngại con đường nầy… Biết làm sao cám ơn các cháu đây… Để làm vui ngày Tết… không biết nói gì hơn… Các cháu đã đem niềm vui cho khu rừng của bác.

Trong lúc bà A-nhét-xca bày lên bàn những ly rượu sủi bọt và những ổ bánh mì còn nóng, căn nhà rộn rã trong tiếng cười nói của các chàng nhạc sĩ trẻ, ngào ngạt hương thơm của bánh mì làm bằng lúa mạch vàng và trắng còn đang nóng hổi.

Bác Mốt-kút rót rượu đầy bình, đứng lên, nụ cười sung sướng trên môi. Bác đưa mắt nhìn từng khuôn mặt của ban nhạc trẻ mà bác không có lời mời trước nhưng bác đã đợi chờ từ lâu. Xúc động, nước mắt chảy vòng quanh mi bác. Và chính lúc nầy dường như lòng bác giữ rừng mới thấy lần đầu tiên trong đời, năm mới đến cùng gia đình bác.

VƯƠNG KIỀU dịch
(11/1&2-85)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.

  • Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.

  • Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

  • LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.

  • LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.