NGUYỄN QUANG HÀ
(Phỏng vấn đồng chí Nguyễn Ngọc Dương
Giám đốc Sở Nông nghiệp Thừa Thiên Huế)
Ảnh: internet
Phóng viên (P.V): Trước đây nói tới nông nghiệp Thừa Thiên Huế, chúng tôi chỉ biết tiếng "gạo de An Cựu” một loại gạo ngon tiến cung, dành cho nhà vua ăn. Trong chiến tranh gặp đồng đất này tan hoang dưới bom đạn. Đồng Phong Sơn là cánh đồng toàn cây xấu hổ. Đồng Thủy Thanh ngập tràn cây bèo tây. Đồng Quảng Thái trắng phau màu cát... đồng chí nghĩ gì về cây lúa Thừa Thiên Huế bây giờ?
Giám đốc Nguyễn Ngọc Dương (NND): Nói gì thì nói, 74 phần trăm dân số Thừa Thiên Huế là nông dân vẫn phải sống bằng chính hạt gạo do họ làm ra. Cũng may, sau một thời lao đao, chỉ thị 100 rồi nghị quyết 10 của Trung ương ra đúng lúc, người nông dân thật sự được làm chủ trên đất đai của mình. Giá trị của việc làm chủ ở chỗ đất đai ấy được tính toán, được quy hoạch, có phương hướng và được đầu tư thích đáng, không còn bị trôi nổi nữa. Một nét trôi nổi rất nông dân là nếu khoán đất ba năm, đất chỉ được nuôi hai năm thôi, năm thứ ba có canh tác mà không bón phân. Bón thì lãng phí, độ phí ấy sang năm đâu còn phải của mình. Đất bị vắt kiệt. Khoán 20 năm dân còn ngần ngừ, nhưng khoán 50 năm thì dân thật sự yên tâm, phấn khởi một sương hai nắng làm ra của cải vật chất, từng bước ổn định đời sống gia đình. Chính nó là tiền đề của kinh tế hộ gia đình. Giàu lên hay nghèo đi là ở chỗ này.
P.V: Như vậy có thể nói: nông dân Thừa Thiên Huế đã yên tâm chăng?
NND: Riêng tôi, là Giám đốc sở Nông nghiệp, tôi còn đang băn khoăn. Chia đất đấy, nhưng quỹ đất cho mỗi đầu người tỉnh ta thấp lắm. Quy ra, mỗi đầu người được 0,5 héc ta đất tự nhiên. Trong đó đất canh tác chỉ được 467 mét vuông. Thực chất đất cho cây lúa chỉ có 250 mét vuông. Thâm canh thế nào đây để giàu lên được, trong lúc khoa học kỹ thuật của ta chưa mạnh như mong muốn.
P.V: Chắc không chỉ một đầu mới khoa học kỹ thuật làm đồng chí không yên lòng? Hẳn còn biết bao bộn bề làm rối trí đồng chí Giám đốc?
NND: Nông nghiệp là địa bàn bức thiết cần thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ta mới được một yếu tố nhân hòa. Đất miền Trung nghiêng theo độ dốc chân Trường Sơn. Trải qua nhiều thế kỷ, mưa bào mòn lớp đất màu mỡ. Chỉ còn trơ lại đất khô cằn, cằn cỗi đến nỗi năm 1975 năng suất trung bình một hecta chỉ thu 16 đến 19 tạ trong một vụ, năng suất ấy đủ biết đất nghèo biết chừng nào. Nếu không cải tạo đất, có mà ăn cám. Song điều lo ngại nhất, nghiệt ngã của thời tiết vùng chúng ta đang sống đây, có thể gọi là hết sức nghiệt ngã. Mưa nắng thất thường. Lụt hạn bất thường. Bão tố đe dọa thường xuyên. Bão lụt năm 1985, khủng khiếp chưa ai quên. Hạn 1993 hàng nghìn héc ta lúa nghẹn đòng khô cháy. Rét 1994 trận rét chỉ kéo dài sáu ngày. Lúa đang phơi màu thơm phức, trắng xóa, đẹp thế gặp rét teo hết cả. Lúa xanh tốt chỉ có vỏ lúa, không có hạt. Dân nhìn cây lúa thẫn thờ cả người. Hôm nay lúa đang rực vàng chưa đầy 24 giờ sau đã ngập dưới mấy thước nước. Mà cắt không kịp. Rừng đầu nguồn bị phá, không điều hòa nổi dòng nước hỗn. Rồi sâu bệnh... Không cứ gì mùa lúa chín, từ khi cắm cây lúa xuống, người nông dân nơm nớp lo từng ngày. Trăm thứ tiêu pha đều nhìn vào hạt lúa. Thời tiết giống như một cô gái đỏng đảnh, thật khó chiều. Ta có câu ca dao: "Sớm mưa, trưa nắng, chiều giông..." Thế mạnh thời tiết thật "nghiệt ngã" làm sao!
P.V: Đồng chí Giám đốc có nhắc tới yếu tố nhân hòa. Riêng về nông nghiệp nên nhìn yếu tố này ở góc độ thế nào cho đúng? Chúng tôi muốn nói "đúng" về lực lượng hay gọi là tiềm năng của nông nghiệp cũng được.
NND: Tôi xin cúi đầu trước nhân dân mình, đặc biệt là bà con nông dân Thừa Thiên Huế. Cứ nghĩ tới những người dân ấy, tôi cùng thấm thía triết lý: quần chúng làm nên sự nghiệp cách mạng. Riêng việc tất cả các huyện, thị của Thừa Thiên Huế đều được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang đủ thấy nhân dân ta là thế nào. Trong nông nghiệp ngày nay, những người ấy đang làm đảo lộn tất cả, xây dựng một nông thôn mới. Đó là thuận lợi cơ bản nhất, là yếu tố nhân hòa trên đồng ruộng. Tuy nhiên, đã trao đất cho nông dân, như trao cây súng cho người lính, chưa thể coi là hoàn chỉnh. Nông dân tỉnh mình bước ra khỏi cuộc chiến tranh hầu như chỉ còn hai bàn tay trắng với tấm lòng trung trinh theo Đảng đến cùng. Có súng phải có đạn mới lập nên chiến công. Đạn ấy là: phải giúp dân có chút vốn ban đầu. Người nông dân mới phải được trang bị kỹ thuật trong canh tác. Đồng thời phải có chính sách khuyến nông đến từng hộ gia đình. Sau khi họ đã làm ra sản phẩm, phải giúp để họ tiêu thụ được sản phẩm ấy. Xin lấy một ví dụ: đã có lần ngoại thương cổ động bà con ở Nam Đông trồng gừng xuất khẩu. Bà con hăng hái trồng gừng. Khi thu hoạch, chất đống chẳng thấy ngoại thương đâu. Gừng thối hết! Như vậy không thể khuyến khích sản xuất được. Hoàn cảnh hiện tại, người nông dân tỉnh ta chỉ lối chưa xong đâu, còn phải đưa đường nữa. Đưa đến nơi đến chốn mới coi là hoàn thành nhiệm vụ.
P.V: Các nhà nông học Huế đã đóng góp gì trong việc chỉ lối đưa đường ấy? Xin nói rõ thêm cả sự "hoàn thành" nữa?
NND: Câu hỏi khá bốp chát đấy. Song cứ thẳng thắn như thế còn hơn úp úp mở mở, vuốt ve nhau. Ngành nông nghiệp cùng với thủy lợi đã làm được một số việc sau:
1. Đưa giống mới vào, thay thế hoàn toàn giống cũ. Vụ đông xuân có thời gian thì giống CR203 khỏe chống rầy tốt. Năng suất cao, chịu được hạn. Vụ hè thu phải nhanh chóng dứt điểm để cướp thời gian trước mùa mưa bão có MT61, 3 tháng được thu hoạch. Đặc biệt loại lúa thơm B10 chỉ 70 ngày đã cho gặt hái...
2. Thỏa mãn thuốc trừ sâu để nông dân kịp thời giải quyết được sâu bệnh.
3. Một loạt các giống lai đã được đưa về nông thôn: ngô lai, lợn lai, bò lai, gà lai. Riêng gà, gia đình nào nuôi được một trăm con, thu nhập ngang một héc ta lúa. Có đầy đủ thuốc chống bệnh cho các loại lai này.
4. Chuyển đổi giống cây trồng trên đất canh tác. Có những vùng đất trước đây trồng lúa, trồng sắn năng suất rất thấp. Nay đưa vào các chân ruộng ấy các giống mới: lạc, đậu, dưa... Lạc lại là thứ hàng xuất khẩu. Tính giá trị, gấp ba, bốn năng suất cây lúa xưa. Xu thế này đang thịnh hành, mở ra bước ngoặt đầu tiên trên đồng ruộng. Nhân dân rất mừng.
5. Ngành nông nghiệp đã đưa thẳng 35 kỹ sư xuống ký hợp đồng chăm sóc kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật viên cho các hợp tác xã, các địa phương. Các kỹ sư chịu trách nhiệm hoàn toàn khâu kỹ thuật diện tích lúa hợp đồng. Bà con nông dân rất thích, Các kỹ sư như Trần Đại Phương, Trần Đức Thành, kỹ sư Ánh, Phong... hết mùa địa phương lên xin ký hợp đồng tiếp, xin được trả lương cho các kỹ sư ấy. Đó có thể coi là một mô hình mới của hiện đại hóa công nghiệp hóa trên đồng ruộng. Không chỉ trông trời trông đất trông mây, mà phải trông vào cả kỹ thuật nữa.
6. Ngành thủy lợi chăm sóc các máy tưới tiêu cho các địa phương. Hồ chứa nước Hòa Mỹ, cống ngăn mặn Lộc An, mương máng hiện đại Phong Chương, đê ngăn mặn Quảng Phước... là những cố gắng từng bước của ngành thủy lợi. Rồi đây hồ Truồi hoàn thành, nước cho cánh đồng phía Nam ổn định hơn. Nước cho toàn cánh đồng Thừa Thiên Huế đã và đang được quy hoạch khắc phục.
Cũng cần nói thêm ngành khuyến nông, các phong trào: cho vay vốn, xóa đói giảm nghèo, VAC, câu lạc bộ 10 tấn... và chương trình đưa điện về nông thôn đã góp một phần tích cực làm thay đổi bộ mặt nông thôn Thừa Thiên Huế. Dĩ nhiên còn nhiều việc phải bàn. Song rất mừng vì những tín hiệu vui. Như thế có nghĩa là cả xã hội đang lo toan cho cây lúa, cho nông dân chứ không riêng gì ngành nông nghiệp. Nói theo cách nói của lính thì ngành nông nghiệp phải rất cám ơn các chiến hữu của mình.
P.V: Ở cái dòng sông đang có sức chảy ấy, chúng tôi biết không thiếu các vật cản. Nếu chỉ kể tới một vật cản thôi, giám đốc cho rằng vật cản nào rất đáng đề cập tới?
NND: Đúng thế, lúc nào cũng có những vật cản xuất hiện. Nhưng vật cản mang tính chủ quan, phải khắc phục hết sức chật vật, đó là tính bảo thủ cố hữu. Ví như ta có thói quen bón lúa bằng phân vô cơ. Phân tích mãi mặt tích cực và mặt tiêu cực của phân vô cơ, vậy mà phải mất gần hai chục năm mới có ý thức bón phân hữu cơ. Bảo thủ đến thế là cùng.
P.V: Chỉ còn 5 năm nữa bước sang một thiên niên kỷ mới. Nông nghiệp ta đã chuẩn bị như thế nào, xin giám đốc cho chúng tôi nhìn thấy viễn cảnh từ nay tới năm 2000?
NND: Sắp tới đây đại hội đảng bộ lần thứ XI của tỉnh sẽ vạch kế hoạch chương trình năm năm, trong đó có kế hoạch nông nghiệp. Tôi không dám nói trước, xin chờ.
Tuy nhiên phải nhìn nhận thật khách quan rằng mỗi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế. Đơn vị ấy phải được đầu tư kỹ thuật thiết thực, buộc phải tuân theo một quy trình hoàn chỉnh. Các cán bộ kỹ thuật phải giúp từng hộ đi hai chân: chân chăn nuôi và chân trồng trọt. Không ngừng nghiên cứu giống cây con mới, tiến tới thay thế toàn bộ cây con đã thoái hóa! Các đơn vị sự nghiệp ngành nông nghiệp phải lấy lợi ích người nông dân làm mục tiêu phấn đấu của mình, đưa các vật tư thiết yếu nhằm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn. Chương trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa mới thật, nhưng ta đã đặt chân vào rồi. Không có cách nào khác là phải tiến tới làm cho dân giàu nước mạnh. Tổ chức lại nông thôn đó là mục tiêu của chúng ta. Ngành nông nghiệp rõ ràng phải có trách nhiệm của mình. Chúng tôi nhất định sẽ tìm ra lối đi thích ứng nhất, hài hòa nhất.
P.V: Đất chúng ta ít, lại xấu, thời tiết khắc nghiệt, nông nghiệp Thừa Thiên Huế không có lợi thế. Giám đốc nghĩ gì về điều này?
NND: Có vinh quang nào không nhọc nhằn đâu. Phải biết ta để đừng ảo tưởng. Cái khó ló cái khôn, đó là một thành ngữ hiện đại. Như trên tôi đã nói: tôi rất tin ở nhân dân của mình. Nhất định nông dân Thừa Thiên Huế sẽ tìm ra một cách đi.
P.V: Chúng tôi cũng chờ một lối đi thông minh của ngành nông nghiệp tỉnh nhà.
NGUYỄN QUANG HÀ thực hiện
(TCSH87/05-1996)
HOÀNG NGỌC CƯƠNG
LGT: Trong quá trình tìm hiểu về sự nghiệp trước tác của Thái sư - Tuy Thịnh Quận công Trương Đăng Quế (1793 - 1865)(1), chúng tôi đã phát hiện ra bài tựa Ninh Tĩnh thi tập tự [寧靜詩集序: Bài tựa Tập thơ Ninh Tĩnh]; được in trong sách Trương Quảng Khê công văn tập [張廣溪公文集: Tap văn của ông Trương Quảng Khê], từ tờ 29a - 30a, tập sách hiện đang được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, dưới ký hiệu R.315.
TÔN THẤT BÌNH
Kim Long (còn được gọi là Kim Luông) vốn là đất các chúa Nguyễn chọn nơi lập phủ từ năm 1636 đến 1687. Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn mới dời phủ về Phú Xuân, cách Kim Long chỉ 3 cây số, dọc theo bờ Sông Hương.
CAO THỊ THƠM QUANG
Kinh thành Huế là tòa thành ở Cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Hiện nay Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 29 tháng 3 năm 1993.
TRẦN VĂN DŨNG
Vừa qua, sau khi tấm hình chụp về Ngọ Môn không có 8 bộ mái lợp ngói thanh lưu ly ở lầu Ngũ Phụng xuất hiện trên các trạng mạng xã hội đã lôi cuốn một lượng lớn độc giả quan tâm tìm hiểu, đã có nhiều ý kiến bình luận đưa ra khác nhau.
TRẦN VĂN DŨNG
Nhà vườn truyền thống là di sản đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa Huế, ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tính cách, tâm hồn của con người xứ Huế.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Triều Sơn, một tên làng đã vào dạ người Huế bao đời nay, qua câu hò ru em vời vợi. Nhiều người Huế nghĩ rằng làng Triều Sơn chuyên buôn bán, với cụm từ “Triều Sơn bán nón” có trong bài hò ru em phổ biến.
THANH HOA - LÊ HUỆ
Chợ Đông Ba có vị trí đắc địa khi nằm ở trung tâm thành phố Huế, dọc bờ sông Hương, bên đường Trần Hưng Đạo, cách cầu Trường Tiền khoảng 100m về phía Bắc. Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân xứ Huế mà còn là nơi để du khách tìm hiểu văn hóa vùng đất Cố đô.
VÕ QUANG YẾN
Tạp chí Sông Hương đã có nhiều lần đề cập đến vấn đề sông Hương và cầu Trường Tiền, nhất là về năm xây cầu: Phan Thuận An, Phụ trương đặc biệt số 2; Quách Tấn, số 23; Hồ Tấn Phan, Nguyễn Thị Như Trang, số 29.
“Màu vàng lồng lộng chảy tràn lá xanh” là bộ sưu tập 11 chiếc áo dài xưa, bảo vật của gia đình Tiến sĩ Thái Kim Lan, gồm long bào Vua Khải Định, áo dài gấm the, áo mệnh phụ, áo lụa vàng, áo dài Hoàng thái hậu, áo mệnh phụ công nương, áo gấm xanh rêu, áo xiêm, áo dài lụa vân xanh... Được sự hỗ trợ của Viện Goethe tại Hà Nội lần này bộ sưu tập được đưa từ CHLB Đức về trưng bày tại Bảo tàng Văn hóa Huế, từ 18/5 đến 12/6/2016. Nghệ sĩ sắp đặt Veronika Witte, cũng từ CHLB Đức, trực tiếp thực hiện trong một không gian vô cùng lý tưởng. Tại phòng trưng bày chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn nhanh chủ nhân bộ sưu tập.
PHẠM HỮU THU
Những ai đã từng qua lại con đường Ngô Quyền, hẳn sẽ mừng vui khi thấy nơi này vừa xuất hiện một công trình mà nhiều người quen gọi là Bệnh viện quốc tế Trung ương Huế. Đây là mô hình xã hội hóa được thành lập theo Quyết định của Bộ trưởng Y tế và Bệnh viện Trung ương Huế là đơn vị đầu tiên của cả nước (trong số 18 bệnh viện) được Chính phủ cấp tín dụng ưu đãi nhằm hiện thực hóa chủ trương này.
LÊ QUANG THÁI
Một thời trong quá khứ xa gần, người phương Tây đã từng gọi và như đặt tên cho Đô thành Phú Xuân Huế là “thành phố quan lại”.
Một số thông tin chung
Một trong những bài viết nêu vấn đề Hội Quảng Tri - Huế có thể bị xóa bỏ đã được báo Tuổi Trẻ nêu lên trong bài “Huế xóa bỏ dấu tích nơi cụ Phan Bội Châu từng diễn thuyết?” ngày 26/11/2015. Trong đó có cho biết:
Một số thông tin chung
Một trong những bài viết nêu vấn đề Hội Quảng Tri - Huế có thể bị xóa bỏ đã được báo Tuổi Trẻ nêu lên trong bài “Huế xóa bỏ dấu tích nơi cụ Phan Bội Châu từng diễn thuyết?” ngày 26/11/2015.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Hội quán Quảng Tri hiểu một cách nôm na ý nghĩa về cái tên của hội quán này là nơi giao lưu, sinh hoạt văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật... nhằm mở rộng sự hiểu biết.
LTS: Trong thời gian qua, báo chí trong nước đã phản ảnh về việc Hội Quảng Tri - nơi diễn ra các hoạt động khai trí ở Huế đầu thế kỷ 20 - được đề xuất phá dỡ, xây mới để làm …trụ sở UBND phường.
Đề xuất này khiến người dân Huế và những người yêu Huế nói chung, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ Huế nói riêng lo lắng, nhiều ý kiến đề nghị cần cẩn trọng.
ĐỖ XUÂN CẨM
TƯỞNG HAI LÀ MỘT, NHƯNG MỘT MÀ HAI
Nhắc tới cây Bồ đề, hầu như đa phần người dân xứ Huế có cảm giác rất thân thuộc.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Từ năm 1917, tạp chí B.A.V.H đăng bài “Cầu ngói Thanh Thủy” của R.Orban. Trong bài nghiên cứu này ngoài phần khảo tả cầu ngói, tác giả đã công bố bản dịch đạo sắc do vua Lê Hiển Tông ban khen bà Trần Thị Đạo, người có công đóng góp tiền của xây dựng cầu ngói Thanh Thủy.
NGUYỄN XUÂN HOA
Năm 1776, trong sáu tháng làm quan ở Huế, có điều kiện ghi chép những điều mắt thấy tai nghe, đọc kỹ văn thơ ở vùng đất Thuận Hóa để viết tập bút ký Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã đưa ra một nhận định mang tính tổng kết: Đây là vùng đất “văn mạch một phương, dằng dặc không dứt, thực đáng khen lắm!”.
Ở thời điểm năm 1987, GS Trần Quốc Vượng là người đầu tiên nêu quan điểm cần đổi mới tư duy lịch sử, nhận thức đúng sự thật lịch sử và thảo luận tự do, dân chủ, rộng rãi, trong đó có vấn đề xem xét lại nhà Nguyễn và thời Nguyễn.