PHƯỚC HOÀNG
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, tại sân vận động Huế, trước sự chứng kiến của hơn một vạn người, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên tuyên bố, chính quyền đã về tay nhân dân, đồng thời ra mắt Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên.
Nhân dân tuần hành tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh tư liệu
Ủy ban gồm có các vị:
- Chủ tịch: ông Tôn Quang Phiệt
- Phó Chủ tịch: ông Hoàng Anh.
- Các Ủy viên: Nguyễn Sơn, Lê Tự Đồng, Hoàng Phương Thảo…
Việc giành chính quyền ở Thừa Thiên đã xong. Bộ máy mới ngay lập tức bắt tay vào hoạt động. Chuyện củng cố chính quyền cấp tỉnh, thành lập chính quyền cấp huyện, cấp xã, chuyện trật tự trị an, chuyện trấn áp bọn phản cách mạng, chuyện chống đói lo cái ăn cái mặc, đau ốm thuốc thang cho toàn xã hội, lại chuyện học hành… đều được chính quyền cách mạng còn non trẻ giải quyết thấu đáo.
Cùng với địa hạt cấp tỉnh, Huế còn là nơi đóng kinh đô của chế độ quân chủ nhà Nguyễn, bộ máy cai trị với hàng ngàn quan lại, công chức của chế độ cũ vô cùng phức tạp và còn biết bao chuyện phải lo, phải giải quyết.
Các công sở sau bốn ngày đóng cửa, theo yêu cầu của chính quyền cách mạng, từ ngày 27 tháng 8 dương lịch, các công sở đều mở cửa trở lại bình thường. Không đổ máu, không có trả thù, mọi người dân bất kể giới nào, hễ yêu nước chống Pháp, đuổi Nhật đều có thể góp sức chung tay cùng chính quyền quản lý đất nước. Chính vì thế mà có thể khẳng định, đây là cuộc cách mạng vĩ đại đã để lại nhiều dấu ấn nhân văn ít có dân tộc nào làm được.
Qua tiếp cận với nguồn tư liệu đăng trên báo Quyết Chiến, cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng, xuất bản ở Huế, tường thuật về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng tôi xin cung cấp một số văn bản liên quan đến lương và việc trả lương của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên đối với những người thuộc bộ máy chính quyền cũ để thấy rõ hơn về điều này:
THÔNG CÁO CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CÁCH MẠNG THỪA THIÊN
Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên bá cáo cho đồng bào biết rằng hôm 27 tháng 8 dương lịch, các công sở đều mở cửa. Vậy anh em công chức nên, ai phần nấy, lo làm tròn nhiệm vụ của mình.
Ủy ban đã quyết định tổ chức một Ủy ban công chức Thừa Thiên để cải tổ công việc của các sở. Ban đó chịu trách nhiệm trước Ủy ban Nhân dân Cách mạng.
Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên tuyên bố về lương bổng trong tháng 8 dương lịch: Các công chức theo các ngạch Tây đến cuối tháng nầy chỉ được mượn mỗi người 300$ chớ không được lãnh toàn lương. Lương bổng công chức các ngạch khác vẫn giữ như cũ. Và trong lúc đợi lệnh của Chính phủ Trung ương, Ủy ban Nhân dân Cách mạng đang trù sửa đổi chế độ lương bổng một cách công bằng hơn, theo nguyên tắc: “Làm việc ngang nhau, tiền lương ngang nhau”. Riêng về Bảo an, Cảnh sát và Tuần sát, nghĩa là những ngạch sẽ được cải tổ thành đoàn Dân vệ gần đây, thì ngay tháng nầy mỗi người sẽ được lãnh 21 ki lô gạo, tức là số gạo của Bảo an thêm được 3 ki lô nữa.
Vì cần phải ổn định Chính quyền, nên chế độ lương bổng chưa cải tổ kịp.
Ủy ban Nhân dân Cách mạng sẽ nỗ lực xếp đặt cho việc lãnh lương không trì trễ. Ủy ban luôn luôn chú ý đến việc nâng cao trình độ sinh hoạt của các anh em tiểu công chức và anh chị em công nhân. Trong giờ phút nghiêm trọng nầy, anh chị em các giới đồng bào nên nỗ lực làm việc và trầm tĩnh chờ đợi sự tiếp tục thi hành chương trình Việt Minh. Hãy nỗ lực ủng hộ Ủy ban thi hành phận sự.
(Báo Quyết Chiến, số 2 ra ngày 28/8/1945).
Về lương bổng các công chức, báo Quyết Chiến, số 3 ra ngày 29/8/1945 Thông báo: “Trong lúc chờ đợi việc sắp đặt lại lương bổng cho các công chức theo nguyên tắc “Làm việc ngang nhau thì sẽ lương ngang nhau”, và thải hồi các phần tử mục nát trong quan lại, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên đã tạm quyết định việc trả lương tháng 8 như sau:
1. Không trả lương cho các người Việt Nam vào dân Tây.
2. Không trả lương cho các công chức ngạch Tây; chỉ cho họ mượn 300$ mỗi tháng.
3. Không trả lương cho các ông nguyên bộ trưởng, tham tri, thị lang, tá lý, viên ngoại, lang trung, chánh văn phòng, thẩm lý văn phòng, bí thư, phủ doãn, phủ thừa, đốc lý, phó đốc lý, tri huyện, tri phủ và đề đốc hộ thành.
4. Không trả lương cho tất cả công chức liêm phóng.
5. Không trả lương cho các bộ: Đại nội, Nghi lễ, Lễ nghi, Văn phòng nhà Vua trừ các Thừa phái, Tùy phái và các công chức biệt phái.
Các công chức làm việc tại các huyện sẽ do các Ủy ban Nhân dân Cách mạng các huyện định đoạt.
Các Ủy ban quản trị các công sở phải đình chỉ việc phát hành các ngân phiếu bất kỳ về ngân sách nào, gửi gấp các sổ lương lên Ban Tài chánh của Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên để kịp trả lương tháng 8”.
Căn cứ quyết định của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên về việc trả lương cho người của bộ máy chính quyền chế độ cũ quá khắt khe, dễ nhầm lẫn những đối tượng thuần túy là “công chức bàn giấy” có lòng yêu nước nhưng chưa biết rõ con đường đến với cách mạng. Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Thông báo điều chỉnh quyết định về việc trả lương của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên. Dưới đây là nguyên văn của Thông báo đó:
VỀ LƯƠNG CÁC CÔNG CHỨC
(THÔNG CÁO CỦA CHÍNH PHỦ LÂM THỜI)
Vì mục đích thống nhất quốc gia và trước cái tinh thần nhân dân đoàn kết, Chính phủ lâm thời quyết định về lương công chức của Ủy ban Nhân dân Thừa Thiên như sau này:
1. Trả lương tháng 8 năm 1945 cho tất cả công chức trong hạt Thừa Thiên;
2. Những công chức Việt Nam quốc tịch Pháp hay những người Việt Nam ăn lương ngạch Tây chỉ được hưởng lương tương đương với lương người Việt Nam.
3. Những công chức nào đã bị tố cáo là phản bội quyền lợi dân tộc và đã bị giam cầm thì không được giả lương.
(Báo Quyết Chiến, số 6 ra ngày 1/9/1945).
Đọc lại từng câu từng chữ từ các văn bản được công bố ngay từ buổi đầu mới giành được chính quyền ở Huế, để ta hiểu thêm về ý nghĩa của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 năm 1945, hiểu thêm về bản chất của chế độ cách mạng và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam.
P.H
(SHSDB42/09-2021)
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)