TRẦN TRUNG SÁNG
Khoảng mùa đông 1970 - 1971, khi đang còn đang học lớp 10, trong một chuyến phiêu lưu lãng mạn và rồ dại nhất của tuổi thiếu niên, tôi có lần lạc bước đến một xóm nhỏ gần bên cầu Gia Hội, và đã gặp ông: họa sĩ Lê Vinh, người họa sĩ vẽ tranh xi-nê lừng danh nhất xứ Huế thời bấy giờ. Lúc này, ông chừng độ tuổi 30, người dong dỏng, tóc vuốt ngược, sơmi màu, quần jean, giày cổ cao, dáng dấp phong trần, như bước ra từ màn bạc!
Họa sỹ Duy Hinh qua nét vẽ của họa sỹ Lê Vinh
Người dẫn tôi đến giới thiệu tôi với Lê Vinh, vốn là một môn đệ cật ruột cũng đang sinh sống kề cận nhà ông, nói:
- Thằng ni ở trong Quảng ra, hắn muốn xin học vẽ. Hắn mê nghề vẽ quá!
Ông đảo mắt nhìn xoáy vào người tôi từ đầu tới chân, nhếch mép cười:
- Rứa hở?
Một lát, vất mẩu thuốc vừa tàn trên tay xuống đất, ông hỏi:
- Hắn ra đây bao lâu rồi? Ở mô?
- Dạ, hắn mới ra ngày qua. Đang ở với tui.
“Ừm…”, ông ngoảnh mặt và nói:
- Cứ ở đó đi. Vài bữa nữa rồi tính.
Họa sĩ Lê Vinh rút gói thuốc, châm lửa điếu mới, rồi lặng lẽ bước đi về phía đầu xóm.
![]() |
Họa sỹ Lê Vinh (người thứ 4, để râu, từ trái qua) |
Thời điểm này ở Huế, họa sĩ Lê Vinh được xem như là “ông hoàng vẽ tranh xi-nê-ma”. Các rạp chiếu phim Hưng Đạo, Khải Hoàng, Châu Tinh, Tân Tân, Hoàn Mỹ… đều tín nhiệm giao việc cho ông. Khi tôi đến Huế, người ta vẫn còn xôn xao nhiều giai thoại về công việc vẽ xi-nê của ông. Chẳng hạn, chuyện tấm phông hai chàng cao bồi khổng lồ trong phim “Hận thù trong dòng máu” do ông dựng tại rạp Hưng Đạo vào năm 1968, hoặc chuyện ông được các rạp phim lớn ở Sài Gòn mời làm việc, nhưng nhanh chóng bị giới vẽ tranh xi-nê nơi đây dàn xếp đưa ông về lại cố đô, vì tài năng ông quá lấn lướt. Họa sĩ Đinh Cường sau này trong một bài viết về Trịnh Công Sơn đã nhắc lại: “Tôi còn nhớ rõ, ở chân cầu thang lên lầu, bên vách, Sơn treo bức hình James Dean thật lớn, hình như Lê Vinh vẽ. Lúc đó, Lê Vinh là họa sĩ vẽ phông xi-nê rất giỏi, không ai vẽ đẹp và nhanh bằng - cả Sài Gòn và Huế”.
Người giới thiệu tôi với họa sĩ Lê Vinh là Lê Văn Mỹ. Mỹ lớn hơn tôi vài tuổi, ở thời điểm này đã là một trong những học trò xuất sắc được tin cậy của Lê Vinh (bên cạnh Hồ Công Thành). Thực ra, trước khi gặp Mỹ, tôi đã được sự gởi gắm của đứa bạn thân học cùng lớp dân gốc Huế - người bà con họ hàng của Mỹ, với ý nghĩa: “Thằng ni con nhà đàng hoàng, đi phiêu lưu giang hồ chỉ vì chí hướng tìm giấc mơ nghệ thuật”. Mỹ con nhà giàu, gia đình làm chủ một quán cơm gần rạp Châu Tinh, được giao quản lý hẳn ngôi nhà rộng rãi, sang trọng gần nhà Lê Vinh, nên việc đón nhận cưu mang tôi không khó khăn. Ở với Mỹ, thỉnh thoảng tôi được anh dẫn qua rạp Châu Tinh xem những người thợ phụ của Lê Vinh làm việc. Mỹ nói: “Về lâu dài, cụ mi cũng phải tập pha màu, căng toile, rửa pano, leo trèo dàn giáo… như những người ni. Nhiều khi còn phải về nhà ông Vinh dọn dẹp, chùi rửa chén bát nữa đó! Coi thử chịu nổi không? Nếu không, thì trở về lại nhà, hồi khác ra đây thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật”. Tuy nhiên, hàng ngày, tôi thấy Mỹ ít qua rạp phim, mà thường ở nhà giao du cùng nhiều nhóm bạn bè. Trong đó, ngoài những nhóm thanh niên hippy tóc tai dài lòng thòng, còn có những thanh niên đạo mạo, đầu đội mũ bê rê, ghé đến ôm theo những chồng sách triết học, khi thì nhờ Mỹ vẽ chân dung triết gia Krishnamurti, khi thì chân dung nữ ca sĩ Sylvy Vartan, hoặc cô đào minh tinh Brigitte Bardot… Có lần Mỹ giao cho tôi một tấm giấy roki, kẻ ca rô phóng to chân dung Krishnamurti lên đó, thì đột nhiên họa sĩ Lê Vinh bước vào đứng sau lưng tôi nhìn chăm chú. Giây lát, ông nói: “Thằng ni ngó bộ có năng khiếu đó…”. Đoạn hứng chí, ông kéo ghế ngồi xuống giảng giải, chỉ dẫn cho tôi vài cách vẽ nhanh tranh chân dung, theo thứ tự từng chi tiết trước sau: khuôn mặt, mắt, mũi, miệng… Đó cũng là lần đầu tiên và cuối cùng tôi được trực tiếp học hỏi họa sĩ Lê Vinh trong nghề vẽ. Bởi, chẳng bao lâu sau, cuộc phiêu lưu “đi tìm nghệ thuật” của tôi bị bại lộ tông tích và ba mẹ tôi từ Đà Nẵng trực tiếp ra Huế, đến xóm nhỏ ở Gia Hội đón tôi trở về gia đình, tiếp tục trở lại con đường học vấn. Để đáp ứng nguyện vọng và đam mê của tôi, mùa hè năm sau tôi được gia đình cho trở lại Huế thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật, nhưng việc cũng bất thành (lúc này thi vào đó CĐMT Huế chỉ cần chứng chỉ lớp 10, nhưng phải có học một năm dự bị). Từ đó, hầu như tôi không còn dịp trở lại Huế và gặp ông Lê Vinh.
Thế rồi, vào một ngày cận Tết khoảng năm 1990, trong khi đến tụ tập vui chơi tại gia đình họa sĩ Duy Hinh, thân phụ của những người bạn thân tôi là họa sĩ Duy Ninh, nhạc sĩ Duy Khoái (tác giả bài hát Đêm hội phố Hoài), tôi bất ngờ hội kiến họa sĩ Lê Vinh tại đây. Nguyên thời trai trẻ ông Hinh khởi nghiệp nghề họa thành danh tại Huế, từng là bạn thân với ông Vinh. Trong lần gặp đó, có chút men rượu hưng phấn, tôi nhắc lại kỷ niệm xưa, chuyện tôi xin ông thọ giáo nghề vẽ xi-nê, ông có vẻ xúc động vui thích, dù điều đó không đọng lại chút gì trong ký ức của ông. Ông cho biết, giờ đây đã lớn tuổi, ông chỉ muốn nghỉ ngơi vui chơi, nhường chỗ cho lớp người mới. Về phần Lê Văn Mỹ, anh ta kế thừa công việc của ông rất thành công và khá giả, kể cả giai đoạn không còn làm quảng cáo xi-nê, mà làm qua các mảng quảng cáo khác… (Mỹ đã mất vào năm 2013). Ngoài lần đó, tôi còn gặp ông thêm vài lần nữa cũng tại nhà họa sĩ Duy Hinh. Lúc nào trông ông cũng phong độ, nói cười vui vẻ, có lần ông còn ngồi ký họa trực tiếp chân dung họa sĩ Duy Hinh.
Mới đây, tình cờ qua phỏng vấn, trò chuyện với họa sĩ Lê Hữu Trí - một gương mặt trẻ, năng động ở Huế, tôi bất ngờ biết được, anh là con trai của họa sĩ Lê Vinh, tôi lập tức thăm hỏi về ông. Anh cho hay: “Ông đã mất vào năm 1996. Thời trai trẻ, ông sống đời nghệ sĩ, rất tự do, không toan tính mưu cầu để lại cái gì lâu dài cho mai sau. Ba tôi có 7 người con. Người chị đầu hát rất hay, vẽ đẹp (nay có gia đình sinh sống ở miền Nam). Anh trai kế (đang sinh sống tại hải ngoại) cũng rất có tài năng mỹ thuật. Tuy nhiên, anh em chúng tôi tự phát triển, chứ ba không định hướng, dìu dắt, nên các anh chị không ai theo nghề của ông. Riêng tôi là đứa con thứ 5 (sinh năm 1972), hồi mới lớn có thời gian theo ba vẽ xi-nê, làm tượng nhà thờ và vẽ quảng cáo. Sau này, tôi thi vào trường mỹ thuật, ba chỉ dặn tôi một điều: “Con tự thắp đuốc mà đi... đừng nghĩ nhiều”. Và tôi cũng học ở đây 2 năm rồi bỏ, vì không muốn mình bị ràng buộc, để tìm đến với cõi tịnh yên, một mình mặc khải với bản lai hội họa”.
Ngày nay, theo xu hướng phát triển công nghệ thông tin, phim ảnh đến với người hâm mộ bằng những con đường khác nhau. Việc quảng bá phim ảnh, nếu có cũng thực hiện theo cách mới, chứ không vẽ tay trên pano như xưa. Tuy nhiên, mỗi chúng ta, khi nghĩ về văn hóa Cố đô Huế, hẳn hình ảnh những tấm pano xi-nê cực lớn, với sắc màu rực rỡ, sinh động, nhộn nhịp một thời vẫn chẳng thể xóa nhòa trong ký ức, bởi lớp bụi thời gian.
T.T.S
(SHSDB41/06-2021)
BỬU Ý
Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.
LÊ QUANG KẾT
Ký
Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).
VŨ THU TRANG
Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.
HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
Đoản văn
Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!
LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ
BÙI KIM CHI
Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.
KIM THOA
Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Hàn Mạc Tử)
NGUYỄN VĂN UÔNG
Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên
(Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)
HOÀNG THỊ NHƯ HUY
Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.
LÊ QUANG KẾT
Tùy bút
Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.
TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.
LÊ QUANG KẾT
Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.
HUY PHƯƠNG
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên
(Tố Hữu)
PHAN THUẬN AN
Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.
MAI KIM NGỌC
Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.
HOÀNG HUẾ
…Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…
QUẾ HƯƠNG
Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.
THU TRANG
Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ
Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.