Chuyện kể bên chân cầu Gia Hội

16:10 25/06/2021

TRẦN TRUNG SÁNG  

Khoảng mùa đông 1970 - 1971, khi đang còn đang học lớp 10, trong một chuyến phiêu lưu lãng mạn và rồ dại nhất của tuổi thiếu niên, tôi có lần lạc bước đến một xóm nhỏ gần bên cầu Gia Hội, và đã gặp ông: họa sĩ Lê Vinh, người họa sĩ vẽ tranh xi-nê lừng danh nhất xứ Huế thời bấy giờ. Lúc này, ông chừng độ tuổi 30, người dong dỏng, tóc vuốt ngược, sơmi màu, quần jean, giày cổ cao, dáng dấp phong trần, như bước ra từ màn bạc!

Họa sỹ Duy Hinh qua nét vẽ của họa sỹ Lê Vinh

Người dẫn tôi đến giới thiệu tôi với Lê Vinh, vốn là một môn đệ cật ruột cũng đang sinh sống kề cận nhà ông, nói:

- Thằng ni ở trong Quảng ra, hắn muốn xin học vẽ. Hắn mê nghề vẽ quá!

Ông đảo mắt nhìn xoáy vào người tôi từ đầu tới chân, nhếch mép cười:

- Rứa hở?

Một lát, vất mẩu thuốc vừa tàn trên tay xuống đất, ông hỏi:

- Hắn ra đây bao lâu rồi? Ở mô?

- Dạ, hắn mới ra ngày qua. Đang ở với tui.

“Ừm…”, ông ngoảnh mặt và nói:

- Cứ ở đó đi. Vài bữa nữa rồi tính.

Họa sĩ Lê Vinh rút gói thuốc, châm lửa điếu mới, rồi lặng lẽ bước đi về phía đầu xóm.

Họa sỹ Lê Vinh (người thứ 4, để râu, từ trái qua)


Thời điểm này ở Huế, họa sĩ Lê Vinh được xem như là “ông hoàng vẽ tranh xi-nê-ma”. Các rạp chiếu phim Hưng Đạo, Khải Hoàng, Châu Tinh, Tân Tân, Hoàn Mỹ… đều tín nhiệm giao việc cho ông. Khi tôi đến Huế, người ta vẫn còn xôn xao nhiều giai thoại về công việc vẽ xi-nê của ông. Chẳng hạn, chuyện tấm phông hai chàng cao bồi khổng lồ trong phim “Hận thù trong dòng máu” do ông dựng tại rạp Hưng Đạo vào năm 1968, hoặc chuyện ông được các rạp phim lớn ở Sài Gòn mời làm việc, nhưng nhanh chóng bị giới vẽ tranh xi-nê nơi đây dàn xếp đưa ông về lại cố đô, vì tài năng ông quá lấn lướt. Họa sĩ Đinh Cường sau này trong một bài viết về Trịnh Công Sơn đã nhắc lại: “Tôi còn nhớ rõ, ở chân cầu thang lên lầu, bên vách, Sơn treo bức hình James Dean thật lớn, hình như Lê Vinh vẽ. Lúc đó, Lê Vinh là họa sĩ vẽ phông xi-nê rất giỏi, không ai vẽ đẹp và nhanh bằng - cả Sài Gòn và Huế”.

Người giới thiệu tôi với họa sĩ Lê Vinh là Lê Văn Mỹ. Mỹ lớn hơn tôi vài tuổi, ở thời điểm này đã là một trong những học trò xuất sắc được tin cậy của Lê Vinh (bên cạnh Hồ Công Thành). Thực ra, trước khi gặp Mỹ, tôi đã được sự gởi gắm của đứa bạn thân học cùng lớp dân gốc Huế - người bà con họ hàng của Mỹ, với ý nghĩa: “Thằng ni con nhà đàng hoàng, đi phiêu lưu giang hồ chỉ vì chí hướng tìm giấc mơ nghệ thuật”. Mỹ con nhà giàu, gia đình làm chủ một quán cơm gần rạp Châu Tinh, được giao quản lý hẳn ngôi nhà rộng rãi, sang trọng gần nhà Lê Vinh, nên việc đón nhận cưu mang tôi không khó khăn. Ở với Mỹ, thỉnh thoảng tôi được anh dẫn qua rạp Châu Tinh xem những người thợ phụ của Lê Vinh làm việc. Mỹ nói: “Về lâu dài, cụ mi cũng phải tập pha màu, căng toile, rửa pano, leo trèo dàn giáo… như những người ni. Nhiều khi còn phải về nhà ông Vinh dọn dẹp, chùi rửa chén bát nữa đó! Coi thử chịu nổi không? Nếu không, thì trở về lại nhà, hồi khác ra đây thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật”. Tuy nhiên, hàng ngày, tôi thấy Mỹ ít qua rạp phim, mà thường ở nhà giao du cùng nhiều nhóm bạn bè. Trong đó, ngoài những nhóm thanh niên hippy tóc tai dài lòng thòng, còn có những thanh niên đạo mạo, đầu đội mũ bê rê, ghé đến ôm theo những chồng sách triết học, khi thì nhờ Mỹ vẽ chân dung triết gia Krishnamurti, khi thì chân dung nữ ca sĩ Sylvy Vartan, hoặc cô đào minh tinh Brigitte Bardot… Có lần Mỹ giao cho tôi một tấm giấy roki, kẻ ca rô phóng to chân dung Krishnamurti lên đó, thì đột nhiên họa sĩ Lê Vinh bước vào đứng sau lưng tôi nhìn chăm chú. Giây lát, ông nói: “Thằng ni ngó bộ có năng khiếu đó…”. Đoạn hứng chí, ông kéo ghế ngồi xuống giảng giải, chỉ dẫn cho tôi vài cách vẽ nhanh tranh chân dung, theo thứ tự từng chi tiết trước sau: khuôn mặt, mắt, mũi, miệng… Đó cũng là lần đầu tiên và cuối cùng tôi được trực tiếp học hỏi họa sĩ Lê Vinh trong nghề vẽ. Bởi, chẳng bao lâu sau, cuộc phiêu lưu “đi tìm nghệ thuật” của tôi bị bại lộ tông tích và ba mẹ tôi từ Đà Nẵng trực tiếp ra Huế, đến xóm nhỏ ở Gia Hội đón tôi trở về gia đình, tiếp tục trở lại con đường học vấn. Để đáp ứng nguyện vọng và đam mê của tôi, mùa hè năm sau tôi được gia đình cho trở lại Huế thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật, nhưng việc cũng bất thành (lúc này thi vào đó CĐMT Huế chỉ cần chứng chỉ lớp 10, nhưng phải có học một năm dự bị). Từ đó, hầu như tôi không còn dịp trở lại Huế và gặp ông Lê Vinh.

Thế rồi, vào một ngày cận Tết khoảng năm 1990, trong khi đến tụ tập vui chơi tại gia đình họa sĩ Duy Hinh, thân phụ của những người bạn thân tôi là họa sĩ Duy Ninh, nhạc sĩ Duy Khoái (tác giả bài hát Đêm hội phố Hoài), tôi bất ngờ hội kiến họa sĩ Lê Vinh tại đây. Nguyên thời trai trẻ ông Hinh khởi nghiệp nghề họa thành danh tại Huế, từng là bạn thân với ông Vinh. Trong lần gặp đó, có chút men rượu hưng phấn, tôi nhắc lại kỷ niệm xưa, chuyện tôi xin ông thọ giáo nghề vẽ xi-nê, ông có vẻ xúc động vui thích, dù điều đó không đọng lại chút gì trong ký ức của ông. Ông cho biết, giờ đây đã lớn tuổi, ông chỉ muốn nghỉ ngơi vui chơi, nhường chỗ cho lớp người mới. Về phần Lê Văn Mỹ, anh ta kế thừa công việc của ông rất thành công và khá giả, kể cả giai đoạn không còn làm quảng cáo xi-nê, mà làm qua các mảng quảng cáo khác… (Mỹ đã mất vào năm 2013). Ngoài lần đó, tôi còn gặp ông thêm vài lần nữa cũng tại nhà họa sĩ Duy Hinh. Lúc nào trông ông cũng phong độ, nói cười vui vẻ, có lần ông còn ngồi ký họa trực tiếp chân dung họa sĩ Duy Hinh.

Mới đây, tình cờ qua phỏng vấn, trò chuyện với họa sĩ Lê Hữu Trí - một gương mặt trẻ, năng động ở Huế, tôi bất ngờ biết được, anh là con trai của họa sĩ Lê Vinh, tôi lập tức thăm hỏi về ông. Anh cho hay: “Ông đã mất vào năm 1996. Thời trai trẻ, ông sống đời nghệ sĩ, rất tự do, không toan tính mưu cầu để lại cái gì lâu dài cho mai sau. Ba tôi có 7 người con. Người chị đầu hát rất hay, vẽ đẹp (nay có gia đình sinh sống ở miền Nam). Anh trai kế (đang sinh sống tại hải ngoại) cũng rất có tài năng mỹ thuật. Tuy nhiên, anh em chúng tôi tự phát triển, chứ ba không định hướng, dìu dắt, nên các anh chị không ai theo nghề của ông. Riêng tôi là đứa con thứ 5 (sinh năm 1972), hồi mới lớn có thời gian theo ba vẽ xi-nê, làm tượng nhà thờ và vẽ quảng cáo. Sau này, tôi thi vào trường mỹ thuật, ba chỉ dặn tôi một điều: “Con tự thắp đuốc mà đi... đừng nghĩ nhiều”. Và tôi cũng học ở đây 2 năm rồi bỏ, vì không muốn mình bị ràng buộc, để tìm đến với cõi tịnh yên, một mình mặc khải với bản lai hội họa”.

Ngày nay, theo xu hướng phát triển công nghệ thông tin, phim ảnh đến với người hâm mộ bằng những con đường khác nhau. Việc quảng bá phim ảnh, nếu có cũng thực hiện theo cách mới, chứ không vẽ tay trên pano như xưa. Tuy nhiên, mỗi chúng ta, khi nghĩ về văn hóa Cố đô Huế, hẳn hình ảnh những tấm pano xi-nê cực lớn, với sắc màu rực rỡ, sinh động, nhộn nhịp một thời vẫn chẳng thể xóa nhòa trong ký ức, bởi lớp bụi thời gian.

T.T.S
(SHSDB41/06-2021)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HỒ DZẾNH
             Hồi ký

    Mai sau dù có bao giờ
    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                                 NGUYỄN DU

  • LÝ HOÀI THU

    Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.

  • PHẠM THỊ CÚC

    (Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)

  • Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

  • CAO THỊ QUẾ HƯƠNG

    Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.

  • THÁI KIM LAN

    Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

  • Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?

  • Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.

  • Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập  thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.

  • NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN

    (Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)

  • BÙI KIM CHI

    Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…

  • LÊ MINH
    Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)

    … Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LAN

    Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.

  • (SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.

  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).