Chuyện cổ tích

09:31 22/05/2020

MARK TWAIN  

M. Twain (1835 - 1910) là nhà văn lớn của Mỹ, từng phải lăn lóc nhiều nghề lao động chân tay trước khi trở thành nhà văn, do đó văn của ông rất được giới lao động ưa chuộng.

Ảnh: internet

Ông sống lang bạt đồng thời cộng tác với nhiều báo từ khoảng 1857. Đến 1863 ông mới cho ra đời bút danh Mark Twain và ông nổi tiếng từ 1864 với truyện ngắn “The Celebrated Jumping Frog of Calaveras County” (Con ếch nhảy xa lừng danh Hạt Calaveras). Những tác phẩm lớn của ông mang đậm chất hài hước và châm biếm xã hội nhưng rất hấp dẫn đại chúng và cả trẻ em vì nhiều nhân vật chính của ông là thiếu niên, như Tom Sawyer (1876), Life on Mississippi (1883; Cuộc sống trên dòng Mississippi), và Huckleberry Finn (1884). Truyện ngắn sau cũng mang chất châm biếm ấy.   







Hơn nghìn năm trước, miền đất nhỏ bé này là một vương quốc, có thể gọi là một vương quốc tí hon. Cuộc sống ở đó giản dị, con người ở đó phong nhã, lúc nào nó cũng chìm trong cơn mộng thái bình, ở đó chẳng có điều xấu, chẳng có ghen tị, tham vọng, chả hề có sự bất hạnh nào trên đời.

Vào thời đó, ông vua già băng hà và hoàng tử nhỏ tên Hubert lên nối ngôi. Tình yêu của dân chúng dành cho cậu ngày càng tăng. Cậu thật là tốt, thật thuần khiết và cao quý đến nỗi tình yêu đó dần dần trở thành một đam mê và hầu như là tôn sùng. Vào lúc cậu ra đời, các nhà chiêm tinh đã nghiên cứu các vì sao và tìm ra mấy điều ghi trong sách thánh về chuyện này:

Năm Hubert mười bốn tuổi sẽ xảy ra một biến cố quan trọng, con vật có tiếng hát ngọt ngào nhất đối với Hubert sẽ cứu mạng Hubert. Nếu nhà vua và cả nước vinh danh con vật này vì công trạng lớn lao ấy thì triều đại lâu đời này sẽ tồn tại mãi, đất nước sẽ không bị chiến tranh, dịch bệnh hay nghèo đói. Nhưng hãy coi chừng nếu lựa chọn sai lầm.

Và suốt năm hoàng tử được mười ba tuổi, các nhà chiêm tinh, chính khách, cả cái nghị viện tí xíu và toàn dân nữa, chỉ bàn về một chuyện là: Câu cuối của lời tiên tri phải hiểu như thế nào? Những câu đầu thì có vẻ như con vật cứu tử đó sẽ xuất hiện đúng lúc cần thiết, nhưng câu cuối lại như nói rằng nhà vua phải chọn trước và tuyên bố giọng con nào làm ngài hài lòng nhất, nếu ngài chọn đúng, con vật được chọn đó sẽ cứu mạng ngài, và triều đại cùng thần dân của ngài nữa, nhưng nếu “lựa chọn sai lầm” thì… hãy coi chừng!

Đến cuối năm, những ý kiến về vấn đề này vẫn rối lên y như hồi đầu năm, nhưng đa số kẻ thông thái cũng như chất phác đều đồng ý rằng phương kế tốt nhất là cho vị tiểu vương ấy lựa chọn trước, và càng sớm càng tốt. Thế là tất cả những ai có con vật nào hót được đều nhận lệnh phải mang đến đại sảnh của hoàng cung vào buổi sáng đầu năm mới. Lệnh được thi hành ngay. Khi mọi sự đã sẵn sàng cho cuộc lựa chọn thì chàng vua mới long trọng giá lâm cùng các đại thần, tất cả đều mặc lễ phục. Nhà vua bước lên ngai và sắp sửa phán quyết. Nhưng lúc đó chàng lại truyền:

“Tất cả đều hót một lượt như thế thì ồn quá, làm sao chọn gì được. Hãy đem tất cả ra và đưa vào từng con một.”

Thế là từng con chim với giọng ngọt ngào kế tiếp nhau véo von bên tai vua và lần lượt được đem ra nhường chỗ cho con khác. Nhưng nhà vua thấy khó mà lựa chọn được, và còn khó hơn nữa vì việc chọn sai sẽ chịu hình phạt khủng khiếp khiến nhà vua không dám tin ở tai mình nữa. Chàng thấy bồn chồn và long nhan đượm vẻ u sầu. Các đại thần nhận thấy ngay vì họ không rời mắt khỏi nhà vua lấy một giây. Bây giờ họ tự nhủ: “Ngài đã mất tự tin, không còn bình tĩnh nữa, ngài sẽ sai lầm. Ngài, triều đại và thần dân của ngài sẽ diệt vong mất!”

Sau nhiều giờ, nhà vua ngồi bất động hồi lâu rồi phán: “Mang con sẻ lanh vào.”

Giữa tràng véo von của con sẻ, chàng đã toan giơ vương trượng lên như dấu hiệu lựa chọn, nhưng chàng chợt nghĩ lại và phán:

“Nhưng để an tâm, hãy đem chim hoét vào cho chúng cùng hót.”

Chim hoét được mang vào và cả hai cùng hót. Nhà vua ngẫm nghĩ, rồi ý quyết định rõ dần. Mọi người có thể thấy điều đó trên nét mặt chàng. Hy vọng hồi sinh trong tim các lão thần, nhịp đập của chúng dồn hơn, vương trượng đang từ từ giơ lên thì… Thật là một cú cắt ngang kinh hoàng! Đó là một âm thanh như thế này… ngay ở ngoài cửa điện:

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”

Minh họa: NGÔ LAN HƯƠNG


Mọi người giật nẩy mình. Kế đó, một cô bé nhà quê xinh xắn, độ chín tuổi, chạy vào trong điện, đôi mắt ánh lên vẻ nhiệt tình trẻ thơ, nhưng khi trông thấy hàng ngũ quan lại và những bộ mặt giận dữ thì cô sựng lại và òa khóc. Chẳng ai chào đón cô, chẳng ai thương hại cô. Thế rồi cô ngước nhìn lên qua màn lệ và nói:

“Tâu đức vua, xin ngài tha tội vì tôi không có ý làm bậy. Tôi mồ côi cha mẹ, chỉ có một con dê và một con lừa. Chúng là tất cả của tôi. Con dê cho tôi sữa, còn con lừa này khi nó kêu lên thì tôi thấy chẳng có thứ âm nhạc nào bằng. Nên khi nghe nói con vật nào có giọng hót ngọt ngào nhất sẽ cứu được đức vua và cả nước, nên tôi mang tới đây…”.

Cả triều phá ra cười, cô bé khóc lóc chạy ra không nói tiếp được. Ông tể tướng ra lệnh đưa cô bé và con lừa ra khỏi hoàng cung.

Rồi cuộc lựa chọn tiếp tục. Hai con hót hay lắm nhưng vương trượng vẫn bất động trong tay vua. Dân chúng bên ngoài chờ đến phát điên lên. Hoàng hôn xuống, bóng tối phủ dần. Nhà vua và triều thần không còn nhìn rõ mặt nhau nữa, nhưng chẳng ai nói gì, chẳng ai thắp đèn. Cuộc lựa chọn có vẻ như đã thất bại. Mọi người muốn giấu mặt vào bóng tối và che kín nỗi lo lắng trong lòng.

Sau cùng… Nghe kìa! Một giọng hót tròn trịa sung mãn với âm điệu du dương ngọt ngào từ mãi cuối sân điện tràn vào. Giọng của con sơn ca!

“Đây rồi!” nhà vua kêu lên. “Rung chuông lên, báo cho mọi người biết ta đã chọn xong và ta không sai lầm. Ngôi báu, triều đại và toàn dân đã được cứu thoát. Từ phút này hãy vinh danh loài sơn ca. Bất kỳ ai coi thường hay làm đau một con sơn ca sẽ bị tử hình. Ta phán như thế.”

Cả cái vương quốc tí xíu đó uống say với niềm vui. Lửa hội bùng lên trước cung điện và trong thành phố suốt đêm. Người ta nhảy nhót, nhậu nhẹt và ca hát. Tiếng chuông không lúc nào ngưng.

Từ ngày đó, sơn ca trở thành loài chim thiêng. Nhà nhà lắng nghe nó hót. Các thi sĩ làm thơ ca tụng nó, các họa sĩ vẽ nó. Tượng nó mọc lên khắp nơi, trên các bức tường, cổng vòm và dinh thự. Nó còn được đưa vào Hội đồng Cơ mật và không một vấn đề quan trọng nào của đất nước được quyết định trước khi các nhà chiêm tinh đưa nó ra trước mặt con sơn ca hoàng triều, rồi chuyển dịch cho hội đồng biết con chim thiêng đã hót gì về vấn đề đó.

*

Vị vua trẻ rất ham săn bắn. Mùa hè đó, một ngày nọ, chàng rong ngựa đi săn với lũ chim ưng và bầy chó, cùng mấy tùy tùng. Trong một cánh rừng, chàng bị lạc. Chàng cứ nghĩ rằng tới đàng kia là gặp lại họ, nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Chàng cứ phóng ngựa mãi, ban đầu còn đầy hy vọng, rồi sau cùng chỉ còn lại nỗi sợ hãi. Hoàng hôn đã xuống mà chàng vẫn một mình trên đất lạ.

Trong ánh sáng lờ mờ, chàng thúc ngựa nhảy qua một bụi cây mọc nhô ra bên bờ vực. Cả hai rơi xuống, con ngựa gãy cổ còn chàng thì gãy chân. Vị vua trẻ tội nghiệp đành nằm đó chịu đau, mỗi phút trôi qua dài như một tháng. Chàng lắng nghe xem có âm thanh nào mang lại hy vọng giải cứu không, nhưng chẳng có gì cả. Không một tiếng tù và hay chó sủa. Sau cùng, chàng không còn hy vọng gì nữa và tự nhủ, “Thôi, cứ mặc cho Thần Chết tới!”

Ngay lúc đó, có tiếng sơn ca hót ngọt ngào vọng tới.

“Thoát rồi!” nhà vua kêu lên. “Đây là chim thiêng và lời tiên tri đã thành sự thực. Chính thần thánh đã giúp ta khỏi lựa chọn sai lầm.”

Chàng không kìm nổi niềm vui. Chàng tưởng như có tiếng người giải cứu đang tiến tới. Nhưng mỗi giây phút qua là thêm thất vọng. Chả có cứu giúp gì cả, chỉ có con chim thiêng hót mãi. Chàng bắt đầu nghĩ mình đã chọn sai. Đến bình minh, chim thôi hót. Buổi sáng đến cùng cơn đói và khát nhưng chẳng ai tới cứu. Ngày thứ nhì qua đi. Sau cùng nhà vua nguyền rủa con sơn ca.

Ngay lúc đó, có tiếng hót của sẻ lanh vang trong rừng. Vua thầm nghĩ, “Đây mới là con chim đích thực. Mình chọn sai rồi, sẽ có người tới ngay thôi.”

Nhưng chẳng có ai đến. Chàng nằm bất tỉnh hồi lâu. Khi tỉnh lại, có tiếng chim hoét đang hót. Chàng lắng nghe, lòng đầy ác cảm. Niềm tin đã mất. “Bọn chim này,” chàng nghĩ, “chẳng được tích sự gì. Ta, dòng họ và dân tộc tiêu vong rồi.”

Chàng kiệt sức vì đói khát và đau đớn, rồi thấy cái chết gần kề. Thực tình chàng cũng mong được chết. Nhiều giờ qua, chàng nằm đó, không suy nghĩ, cảm giác hay cử động. Rồi chàng tỉnh lại. Bình minh của ngày thứ ba đã rạng. Ôi, thế giới như vô cùng xinh đẹp trước mắt chàng. Đột nhiên, lòng khát sống nổi lên dữ dội, chàng muốn thấy lại hoàng cung và bè bạn một lần nữa. Ngay lúc đó chợt vọng lại một âm thanh mỏng manh, xa xôi. Mà ôi! Sao nghe nó ngọt ngào dịu dàng vậy.

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”

“Ôi! Tiếng hót ngọt ngào, ngàn lần ngọt ngào hơn lũ sơn ca sẻ lanh hay chim hoét, vì nó không chỉ mang lại hy vọng mà còn mang lại sự cứu giúp. Mạng của ta và thần dân ta sẽ được cứu vớt.”

Âm thanh tuyệt vời ấy cứ tới gần, ngày càng rõ và ngọt ngào hơn với đôi tai của kẻ đang khốn khổ. Con lừa nhỏ xuất hiện. Nó thấy xác con ngựa và nhà vua. Nó bước tới ngửi loanh quanh, chỉ vì tò mò thôi. Nhà vua vỗ lưng nó và nó nằm phục xuống như mỗi lần cô chủ nhỏ muốn leo lên lưng nó. Dù hết sức đau đớn và khó khăn, vị vua trẻ vẫn bò được lên lưng nó. Con lừa vừa đi vừa kêu và mang chàng vua về lều cô bé nhà quê. Cô dọn giường, vắt sữa dê cho chàng rồi chạy đi báo tin cho nhóm tìm kiếm cô gặp đầu tiên trên đường.

Nhà vua khỏe lại. Việc đầu tiên là chàng tuyên cáo rằng con lừa là linh vật, thứ nhì là đưa ngay con lừa cứu mạng ấy vào hội đồng cơ mật và phong nó làm tể tướng. Việc thứ ba là cho phá hủy mọi hình tượng chim sơn ca trên toàn quốc và thay vào đó là hình tượng con lừa. Thứ tư, chàng tuyên bố rằng cô bé nhà quê, khi đủ mười lăm tuổi, sẽ được phong làm hoàng hậu. Và chàng đã giữ đúng lời mình.

*

Đó là chuyện cổ tích. Chuyện này giải thích tại sao hình ảnh con lừa có mặt ở mọi bức tường, cổng vòm và nó cũng lý giải tại sao, trong nhiều thế kỷ, con lừa cứ là tể tướng trong Hội đồng Cơ mật của các triều đình, thậm chí trong hầu hết những nội các thời nay cũng vẫn còn như thế. Nó cũng giải thích tại sao, trong tiểu vương quốc đó suốt bao thế kỷ, mọi bài thơ tuyệt tác, mọi diễn văn hùng biện, mọi pho kinh điển lớn, mọi buổi đại lễ và mọi chiếu chỉ tuyên cáo của triều đình đều khởi đầu bằng cái giọng lừa rất hào hứng:

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”.

Phạm Viêm Phương dịch  
(SHSDB36/03-2020)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.

  • TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết.                                                                                                                 TSCH

  • JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.

  • A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".

  • ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.

  • ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.