HÀ LÂM KỲ
Hồi ký
Bác Hồ cùng nhà thơ Tố Hữu về thăm Pác Bó năm 1961 - Ảnh: vietnamnet
Ông là một chính khách, và là một nhà thơ lớn thời kháng chiến. Buổi đầu kinh tế thị trường, lãng mạn và ưu tư, ai gặp, cũng nhận ra trên khuôn mặt ông điều đó. Nhưng với thiếu nhi, học sinh, ông vẫn có một góc riêng, rất riêng. Ông là Tố Hữu.
Năm 1986, tôi đưa đoàn học sinh phổ thông trung học đi dự Trại hè tại Đồ Sơn (Hải Phòng) có ý tạo cơ hội cho các em được tiếp cận với những nhân vật hiện hữu mà tên tuổi từng ghi vào sử sách nước nhà, nên tìm đến ông - nhà thơ Tố Hữu.
Sáng ngày 23 tháng 6, tôi tới Ban Trường học Trung ương Đoàn nhờ liên hệ giúp. Trả lời: “Chưa có bao giờ!” Tôi đến Hội Nhà văn. Trả lời: “Anh sang Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng!”. Chiều đó, tôi tới thẳng nhà riêng 76 Phan Đình Phùng, bấm chuông, một cháu bé chừng 5 tuổi chạy ra: “Ông cháu đi họp ạ”. Ngày 24, lại đến. Gặp anh Chiêu, thư ký, đưa giấy giới thiệu, anh nhận rồi hẹn chiều hôm sau gặp lại. Đúng giờ, anh Chiêu vui vẻ: “Anh Tố Hữu nói: Thôi được, chẳng mấy khi các cháu Hoàng Liên Sơn về, ta đón các cháu chu đáo”.
Sáng ngày 28 tháng 6, cả đoàn đi viếng Bác, thăm nhà Bác nên quá giờ hẹn. Anh Chiêu sốt ruột đi ra đi vào hành lang 76 phố Phan Đình Phùng, khi xe đến, anh hơi khó chịu. Tố Hữu bảo: “Đừng trách các cháu”. Ổn định chỗ ngồi, tôi nói lời xin lỗi, Tố Hữu như không quan tâm tới sự chậm giờ của đoàn mà đi ngay vào câu chuyện...
- Các cháu thấy Bác Hồ thế nào?
- Chúng cháu thấy xúc động ạ!
- Chúng cháu thấy thiêng liêng ạ!
Nhà thơ Tố Hữu:
- Xúc động, thiêng liêng. Đúng! Vì Bác của chúng ta vĩ đại quá, mà cũng gần gũi quá.
- Cháu nào ở Mường Khương?
Hai cánh tay giơ lên: - Có ạ! Có ạ!
- Cháu nào ở Lào Cai, ở Mỏ?
- Có ạ!
- Cháu nào ở Bảo Thắng?
- Cháu ạ!
- Con nói nghe về Đồn Biên phòng 206 đi, các chú làm gì, cần gì, sinh hoạt thế nào?
Em Lê Phương Hoa: - Thưa bác, các chú luôn luôn vui ạ.
- Chú hỏi thật nhé (Tố Hữu tự xưng hô là “chú”), các con ăn có được no không?
- Chúng cháu ăn không được no, phải ăn độn sắn khô ạ.
- Trường cháu có trồng sắn không?
- Không ạ! Hà Thị Lý (Văn Chấn) trả lời.
Tố Hữu “À” nhẹ rồi hỏi tiếp:
- Quê các cháu có trồng cây không?
- Có ạ.
- Cây gì?
- Cây mỡ, cây thông.
- Có trồng chè không?
- Thưa bác, có ạ.
- Thôi nhé, chú cứ xưng hô là “chú” cho tiện.
Lê Thị Phố (Yên Bình) mạnh dạn:
- Chúng cháu mong được gặp chú để hỏi chuyện.
Nhà thơ Tố Hữu:
- Thế chú hỏi trước nhé. Cháu có thích học không? Nói thật đi?
Phố ngập ngừng:
- Nhiều lúc chúng cháu chán học ạ.
Tôi đỡ lời:
- Cô ấy ba năm liền là học sinh tiên tiến đấy ạ.
- Ồ! Thế mà lại không thích học. - Nhà thơ Tố Hữu cười rất vui. Lê Thị Phố cảm thấy ngại ngại trước bác Tố Hữu.
- Thế chú hỏi tiếp nhé. Các cháu thấy chán môn gì nhất?
- Nhiều tiếng học sinh: “Chính trị ạ!”
- Các cháu chán vì sao, chủ quan hay khách quan?
Lê Thị Phố: - Khách quan nhiều hơn ạ.
- Cụ Nguyễn Du nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” là muốn nói cái khách quan đưa lại đấy. Còn ta, ta phải làm chủ cái buồn.
Nhà thơ Tố Hữu tiếp tục, giọng ông ấm áp, trìu mến:
- Cụ Mác nói “Hạnh phúc” là gì có biết không?
Em Hà Thị Lý: - Là đấu tranh ạ.
- À, đúng rồi! Giỏi! Biết cả đấy. Nhưng đấu tranh với ai?
La Thị Anh (Văn Yên): - Với chính mình trước ạ!
- A, tuyệt vời. Đúng là học sinh tiên tiến! Phải đấu tranh thắng mình trước. Câu trả lời rõ ràng quá!
Nhà thơ Tố Hữu quay sang Lê Thị Phố - cô sinh viên Trường Sư phạm 10+3: “Thắng mình. Thế sao lại chán học?” Phố chỉ cười, không trả lời.
Nhà thơ Tố Hữu: - Các cháu có nhớ bài “Dậy mà đi” không? Lời ca hay lắm: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần! Dại dột đôi lần mà không nhụt chí.
Nhà thơ ngừng giây lát, rồi bỗng ông ngẩng nhìn các em học sinh một lượt. Khuôn mặt ông vẫn tươi vui như hòa quyện với chất giọng xứ Huế dịu ngọt.
- Các cháu hỏi về cây táo? “Cành táo đầu hè quả ngọt rung rinh”. Bây giờ thì cây táo, quả táo nó không còn ngọt như trước nữa, nó cũng chua cũng chát như đời người vậy (Nhà thơ cười rất sảng khoái khiến các em cũng cười theo).
- Còn cây hồng? “...Quả son nhún nhẩy đèn lồng cành tơ/ Cây hồng như thực như mơ...”. Cây người cũng thế thôi, như các con, phải được chăm bón loại thức ăn gì? Lại Thị Hoa (Lào Cai) nói xen vào: “Thức ăn tinh thần ạ!” - Đúng rồi, tinh thần: tình cảm cách mạng, lòng nhân ái, lí trí, tri thức - khoa học và tinh hoa văn hóa. Ngày hôm nay, các con còn đang thiếu những thứ đó!
Căn phòng nhỏ, có tới bốn mươi con người, ngồi, và đứng, lúc này im phăng phắc, tôi và anh Trương Bình, giáo viên, Bí thư Đoàn trường cấp 3 Lý Thường Kiệt chăm chú “tốc ký”. Dường như nhà thơ, và là vị lãnh đạo cao cấp của Đảng một thời không còn phân biệt ranh giới, càng trò chuyện với lớp con cháu, Tố Hữu càng cảm hứng.
- Con người là gì? - Nhà thơ Tố Hữu chợt hỏi.
Im lặng.
- Từ “con người”, một từ kép! Khác con vật ở gì nhỉ?
Đặng Thúy Hồng (Lục Yên): - Ở bộ óc ạ.
- Đúng. Đúng. Các nhà triết học châu Âu xưa nói: Tôi tư duy, vậy là tôi tồn tại! Chúng ta phải chăm bón tư duy, để tồn tại, để tiến lên. Văn hóa là của con người, vì con người; nên gặp các cháu, điều chú vui nhất là nhìn thấy và tin ở tương lai các cháu. Nhưng mà, nhưng mà, các cháu muốn “đi” gì nhỉ? - Lại Đức Nam (thị xã Yên Bái) nói xen: “Muốn đi tới ạ”. “À đúng. Đi tới! “Kiêu hãnh chút bạn đời ơi, đi tới./ Say tương lai, nuôi chí lớn, anh hùng.” Chú chắc đời chú không thể bằng đời các cháu. Hồi chú ở tù, Pháp nó đánh, các chú bực lên, tuyệt thực! Nhưng rồi đấu tranh, Con cá chột nưa ra đời trong hoàn cảnh ấy. Bài đó, truyền qua các nhà lao, anh em tù truyền miệng nhau, vui rồi, quên đói, quên đau.
Chú nói chuyện ngày xưa, bây giờ các cháu có cho là còn ý nghĩa không?
- Có ạ! (có tiếng đáp).
- Chuyện đời bây giờ cũng thế thôi, ai cũng muốn giành phần cho mình thì hỏng cả. Con người mà sống không có đạo lý thì không còn là con người nữa, khác gì con vật, lòng tham, đâu có tiền là ta cứ đi, sẽ hỏng. Các cháu hôm nay trong trẻo lắm, nhưng đời, không thiếu cái tối tăm dọi vào, nên các con phải cảnh giác, cảnh giác ở chỗ, mình có ba mẩu sắn, bạn đói, chia cho bạn một mẩu, đừng có giữ cả cho mình. Tố Hữu nhìn các em cười hiền hậu.
Nhà thơ lat giở những trang đầu tập thơ Từ ấy mà ông vừa đặt xuống mặt bàn.
- Bây giờ ta nói đến chuyện “Tự do”. Thế nào là tự do?
Hà Minh Sơn (Trường PTDT tỉnh): - Tự do là có kỷ luật ạ!
- Đúng.
- Tự do phải nằm trong tổ chức. Trường các con có ai không làm thứ tự do ấy không?
Lại Đức Nam: - Có ạ. Ví dụ có bạn tự do đi “trấn” của bạn khác ạ.
- Đó, đó. Nhỏ mà tự do kiểu ấy thì lớn lên dễ là tự do ăn cướp, tự do lưu manh. Tự do phải trong lẽ phải, biết được lẽ phải, tôn trọng và làm theo lẽ phải. Không biết bơi mà cứ nhảy xuống nước thì dễ “tự do” uống nước. Lẽ phải ở đây là biết bơi - học bơi, và có kỷ luật trong bơi. Ở đời, chỉ có hai chữ đối lập: Phải và trái, hay - dở, thiện - ác, ai làm điều thiện, điều hay, điều phải, đó là người tốt. Giàu - nghèo, sướng - khổ, cũng là một vấn đề, phải phân biệt được. Trước khi nói đến sướng - khổ, giàu - nghèo, hãy hiểu phải - trái, đúng - sai đã, thế mới là người khôn. Các con muốn nghe chú nói về thơ, thì đấy là thơ đấy. Không có tình cảm, đạo lý... thì không có văn chương nào đâu. Cụ Nguyễn Du kêu: “Đau đớn thay phận đàn bà”. Tấm lòng của cụ Nguyễn Du thì vô hạn. Chú không rõ các thầy dạy văn thế nào, nhưng nếu là giáo viên văn, trước hết phải đẹp về tâm hồn cái đã. Đấy là văn đấy. Cảnh ngộ có trái, các con mới trưởng thành. Chắt chiu, cóp nhặt điều hay lẽ phải để bồi bổ làm cho mình lớn lên, “củ khoai củ sắn thay cơm, khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng”, các con sẽ tự tin hơn.
Đã hơn một giờ đồng hồ. Phòng khách nhỏ của nhà 76 Phan Đình Phùng như một lớp học đặc biệt với một thầy giáo đặc biệt, và bài giảng, bài học cũng rất đặc biệt. Nhóm cán bộ giáo viên chúng tôi vốn đã coi Tố Hữu là thần tượng thơ ca cách mạng, đầy lòng ngưỡng mộ. Còn các em, mới chỉ biết đến ông qua những Từ ấy, Lượm, Bầm ơi, Hoan hô chiến sỹ Điện Biên, v.v… giờ đây trước mặt các em là nhà thơ lớn rất đỗi gần gũi, nên điều khó nhất là “nói thật lòng” thì các em đã không ngần ngại.
Tố Hữu chỉ tay vào các anh chị phụ trách rồi tự tay cầm dĩa kẹo đưa đưa đến từng em.
- Các con ăn kẹo đi, kẹo Hà Châu đấy, rất ngon.
Rồi bất ngờ ông chuyển sang chủ đề khác:
- Các con có hiểu về địa lý, lịch sử, văn hóa địa phương không?
Nhiều tiếng: - Ít lắm ạ
- Chưa hiểu ạ!
- Các con có biết múa xòe là gì không?
- Không biết ạ.
- Ồ, gay rồi, văn hóa dân tộc bị mất. Chú hiểu, đó là khuyết điểm lớn của giáo dục ta hiện nay. Dạy sử, dạy văn, dạy địa lý hay sinh vật ở đâu đâu mà không cho các em biết về quê mình, là khuyết điểm. Tới đây phải dạy các bộ môn địa phương thật chu đáo.
Hôm nay nói chuyện với các con, nhưng cũng là nói chuyện với các thầy. Tôi hiểu “làng giáo có gì vui”. Các con phải biết tự đi bằng hai chân của mình, phải luyện ý chí tự lực, tự lực và tự lực. Các con là trụ cột của thế kỷ 21 đấy. Chúc các con sớm trở thành những người đảng viên cộng sản chân chính, đảng viên cộng sản đường hoàng.
Đó là văn chương của đời người, văn chương đích thực. Chú xin nhắc lại, là hôm nay, chú nói nhiều đến hai chữ ghép: Hạnh phúc, tự do, lẽ phải, tự lực tự cường... nhưng lại là nói chuyện văn chương, rất văn chương đấy. Hy vọng đáp ứng phần nào mong muốn của các con. Vậy thôi nhỉ?
Đã gần mười hai giờ trưa. Tôi nói lời cảm ơn, và ngỏ ý phân trần, hôm nay có hẹn máy ảnh, nhưng bị lỡ. Rất tiếc.
Nhà thơ đứng dậy, cười hiền lành:
- À thôi. Ngạn ngữ phương Tây có câu: Mọi việc đều sẽ đi nhanh, trừ người qua đường...
Yên Bái, 2018 - 2020
(Tư liệu từ sổ tay tác giả)
H.L.K
(TCSH380/10-2020)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
PHẠM HỮU THU
Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.
TRẦN NGUYÊN
Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.
PHẠM HỮU THU
Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12
“Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).