Câu chuyện cổ tích

14:32 27/11/2009
KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết  truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.

Nhà văn Sakyo Komatsu - Ảnh: Internet

Vượt qua đoạn bờ dốc đứng bên lối vào hẻm núi, con sông réo lên sôi sục và tung ngầu bọt, nhưng sau đó nó mang dòng nước của mình trôi đi một cách hiền hòa.

Người đàn bà phát hiện ra cái khoang sự cố hình tròn trôi xuôi xuống phía dưới theo dòng nước đầu tiên. Chồng cô đã dùng xe cần trục vớt nó lên. Cái khoang màu hồng thẫm, họ chưa từng trông thấy một thứ như thế bao giờ. Sau khi lên cạn, nó tách làm đôi, và từ bên trong đổ nhào ra một cư dân vũ trụ bận đồ bay hồng nhạt. Bộ đồ bay lập tức căng phồng lên khi tiếp xúc với không khí. Hẳn vị cư dân vũ trụ này đã đến từ một hành tinh có bầu khí quyển rất dày đặc.

- Cám ơn các vị đã cứu sống! - anh ta nói bằng thứ ngôn ngữ được sử dụng chung trên khắp dải Thiên Hà. - Tên tôi là Mumu. Nếu không gặp được các vị đây, tôi e mình đã nguy to rồi. Thật đúng là xui xẻo: tôi đang lái tên lửa đưa thư thì nó nổ, khó khăn lắm mới kịp phóng ra bên ngoài - đành phải vậy! - và rơi xuống dòng nước. Này, thế còn các vị, sao các vị lại ở đây? - anh ta nhìn quanh, rồi quay sang quan sát đôi vợ chồng.

Người đàn ông và đàn bà đưa mắt nhìn nhau bối rối.

- Chuyện là... - người đàn ông nói, mắt nhìn xuống. - Tên tôi là Dad, còn vợ tôi là Ba.

- Các vị có thể chia sẻ nhiên liệu với tôi được không? Có lẽ trong tên lửa của các vị hãy còn dôi ra đôi chút. Nếu còn nhiên liệu, lẽ ra tôi đã tới được đường băng phóng các tên lửa đưa thư, mà ở đó thế nào người ta cũng tìm thấy tôi...

- Chúng tôi hẳn đã sẵn lòng chia sẻ, có điều... - Dad ngắc ngứ. - Chuyện là chúng tôi chưa kịp xuống mặt đất, thì tên lửa đã bị một bộ lạc săn bắn hoang dã nào đó chiếm mất, một bộ lạc chiến binh đáng sợ. Tôi thậm chí không biết đích xác có chuyện gì xảy ra với nó nữa. Nó đang ở đoạn hạ lưu của dòng sông này.

- Ấy là vì đầu tiên chúng tôi chỉ muốn xem xét quanh đây, - Ba nói thêm. - Chúng tôi không mang theo vũ khí lúc ra ngoài thám thính. Và thế là...

- Vậy các vị định làm gì ở đây? Không ở lại vĩnh viễn nơi cái xứ heo hút này đấy chứ? Hay cái hành tinh nhỏ xíu này hợp ý các vị? - Mumu cười nhạo.

- Nếu nói thực tình, Mumu ạ, thì là chúng tôi trốn nhà đi. - Dad nói trong khi bóp mạnh tay cô vợ. - ở thế giới của chúng tôi không được dễ chịu cho lắm. Sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiêm ngặt. Một cô gái thượng lưu không có quyền lấy một anh chàng công nhân bình thường làm chồng.

Đôi mắt của Ba sáng lấp lánh.

- Phải, phải đấy, thà sống trên hành tinh này, giữa những kẻ man rợ còn hơn! Mà chúng tôi, chúng tôi sắp có con... Không sao, trời sinh voi, trời sinh cỏ, ở đây có khối chim muông. Chỉ làm sao để đừng rơi vào tay bộ lạc chiến binh đó thôi.

- Vậy là... - Mumu dài giọng. - Đằng nào cũng phải đi cứu chiếc tên lửa của các vị. Vũ khí thì đủ. Các vị có thể cho tôi mượn chiếc xe được không?

- Tất nhiên rồi, anh cứ lấy! - Dad chợt buồn thiu. - Tôi cũng sẵn lòng đi với anh, nhưng sợ chẳng giúp được gì nhiều.

- Ồ, anh đừng bận tâm, tôi có người giúp việc mà.

Mumu huýt sáo. Từ trong khoang chập chững vụng về chui ra một con robot. Bé xíu, lũn ca lũn cũn đến nực cười, nhưng rõ ràng là rất đắc lực. Nó vác trên vai một vật gì đó.

- Bé, nhưng mà khá lắm, - Mumu nói, vuốt ve cái đầu kim loại tròn xoe của con robot. - Nào chú bé, đưa tôi cái đó đi. Các vị trông, chúng tôi có thứ gì đây này?

Anh ta cẩn thận đỡ lấy thiết bị có cánh bé tí tẹo, giống hệt con robot. Đó là một tên lửa trinh sát.

- Này, - Ba nói, - anh hãy đem con chó của chúng tôi theo. Nó sẽ chỉ đường cho.

Mumu đã đi khỏi. Họ còn lại hai người trong khe núi. Họ nhìn bầu trời phơn phớt xanh, họ nghe tiếng sóng nước rì rào, họ câu cá. Và chờ.

Ngày thứ tư có tiếng chó sủa quen thuộc vọng tới. Con chó, ngoáy đuôi mừng rỡ, từ trong rừng xanh rậm rì lao ra và nhảy bổ lại với các chủ nhân. Theo sau nó hiện ra chiếc xe.

- Tôi thắng bọn chúng rồi! - Mumu kêu to trong lúc hãm xe chạy chậm lại trên bãi cát và giơ cao bình nhiên liệu. - Tôi đã làm chúng sợ đến nỗi bây giờ chẳng dám dây dưa đến tên lửa nữa.

- Hay quá! - người đàn bà reo lên. - Bây giờ anh có thể trở về nhà được rồi.

Mumu tiếp nhiên liệu cho chiếc khoang hồng thẫm. Sau đó anh ta nhìn hai người đăm đăm.

- Tôi không biết mình sẽ làm được gì nếu không có các bạn nữa. Các bạn đã cứu sống tôi hai lần, - anh ta im lặng trong giây lát. - Nhưng các bạn quyết định ở lại đây một cách nghiêm túc đấy chứ? Không muốn quay trở về thế giới của nền văn minh Thiên Hà sao? Ở đây rồi các bạn sẽ vất vả đấy...

Người đàn bà đầm đìa nước mắt. Cô tựa sát vào chồng.

- Xin làm ơn, hãy quên chúng tôi đi! - Ba thì thầm, ngước hàng mi ẩm ướt lên. - Xin đừng bao giờ kể về cuộc gặp gỡ này cho ai hết cả...

- Tôi hứa, - Mumu gật đầu. - Tạm biệt các bạn!

Anh ta đi mấy bước về phía chiếc khoang màu hồng, rồi đứng lại.

- Các bạn biết đấy, ở đây có nhiều bộ lạc khác nhau. Không chỉ bọn thợ săn hiếu chiến đó đâu. Ở chỗ hạ lưu sông, tôi đã trông thấy những khu làng của một bộ lạc làm nông hiền lành. Có lẽ những con người tội nghiệp đó cũng chẳng yên ổn gì với bọn láng giềng hiếu chiến. Lúc tôi đập vỡ quả tên lửa, họ biểu lộ sự hân hoan của mình bằng đủ mọi kiểu. Các bạn hãy đến với họ, tôi nghĩ rằng họ sẽ vui vẻ tiếp nhận các bạn đấy. Còn không, ở đây các bạn sẽ ra sao với đứa con nào?

- Cám ơn anh! - Dad nói. - Chúng tôi sẽ làm vậy, Mumu ạ.

Mumu vẫy tay và biến mất vào trong khoang, hai nửa hồng thẫm khép chặt lại.

Trong lúc lấy độ cao, Mumu nhìn hai con người bé nhỏ đang dần khuất dạng giữa màu xanh rậm rì.

Bây giờ họ đang đi xuôi xuống phía dưới theo dòng sông. Lạ thật, cuộc đời họ sẽ sao đây... Có thể con cháu họ rồi sẽ lẫn lộn giữa những người Aborighen, và chẳng ai nhớ đến câu chuyện đầy thi vị này nữa. Mà có thể, dù sao đi nữa cũng có một chút gì đó được lưu giữ trong trí nhớ của con người. Chỉ không chắc nó sẽ giữ được nguyên dạng. Vì trí nhớ là một thứ lạ lùng...

- Bà ơi, cháu muốn nghe chuyện cổ tích! - đứa bé dụi đôi mắt đã díp lại bằng hai nắm tay.

- Dào ôi, chẳng lẽ cháu còn chưa chán sao? Bà đã kể hàng trăm lần rồi còn gì.

- Chỉ thêm một lần này nữa thôi, đi bà! - cậu cháu nũng nịu. - Đi nào, chuyện về Momotaro sinh ra từ quả đào ấy, bà nhé!

- Thôi được, để bà kể cháu nghe... Cháu nghe nhé...

Bà lão bắt đầu câu chuyện, tay vẫn liên tục đảo hạt vừng trên chiếc chảo rang:

- Ngày xửa ngày xưa có một ông lão sống với một bà lão. Một hôm ông lão đi vào rừng đốn củi, còn bà lão thì ra sông giặt áo. Trong lúc giặt áo chợt bà lão trông thấy một quả đào to ơi là to màu hồng thẫm trôi trên sông...

Chập chờn trong cơn mơ, cậu bé nghe bà kể nốt câu chuyện cổ tích:

- Và thế là cậu bé Momotaro sinh ra từ quả đào đã lớn lên, rồi cậu đi đánh nhau với bọn quỷ ác chuyên bắt nạt trẻ con. Cùng đi với Momotaro có một con chó, một con khỉ và một con gà lôi...

KIỀU VÂN dịch

(248/10-09)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • BỒ TÙNG LINHLang Mỗ quê ở Bành Thành, con nhà học thức. Ngày nhỏ đã được nghe cha nói đến các sách quý và các sách khác trong nước, lại thường được nghe cha luận bàn với các bạn bè của ông về các loại sách và các nhà thơ cổ đại.

  • AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

  • AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.

  • Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…

  • Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

  • HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

  • SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.

  • FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.

  • MIKHAIN SÔLÔKHỐP                Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.

  • KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.

  • ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.

  • GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.

  • GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.

  • JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.

  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.