Tiếp bước sự sáng tạo với sơn mài của các bậc thầy thời kỳ hội họa Đông Dương, ngày nay nghệ thuật sơn mài đương đại vẫn kế thừa và phát triển với nhiều lối biểu hiện và tìm tòi mới. Tuy nhiên, bên cạnh hiệu quả nghệ thuật, nhiều sáng tạo cũng gây tranh luận.
Nghệ thuật hội họa sơn mài Việt Nam đã có nhiều biến đổi - Ảnh: Ng. Phương
Đổi mới ngôn ngữ biểu hiện
Sơn ta truyền thống, vốn chỉ sử dụng trong trang trí, đã trở thành một chất liệu hội họa có khả năng diễn tả phong phú nhờ đóng góp của nhiều họa sĩ tên tuổi thời kỳ đầu Trường Mỹ thuật Đông Dương, và được tiếp nối qua các giai đoạn cho đến nay. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nghệ thuật sơn mài đã có những bước cải tiến quan trọng.
Theo ý kiến nhiều họa sĩ, nhà phê bình mỹ thuật, hiện nay, bên cạnh những nghệ sĩ kiên trì theo lỗi vẽ truyền thống, kế thừa những thành tựu nghệ thuật từ kỹ thuật đến bảng màu và chủ đề; một số họa sĩ loay hoay tìm kiếm cái mới, cách tân cho sơn mài, mong muốn sáng tạo ra không gian và diện mạo mới cho chất liệu truyền thống này. Từ một số màu hạn hẹp, sơn mài giờ đây đã có dải màu đa sắc hơn, từ gam nóng đến gam lạnh. Gần đây, nhiều họa sĩ đã mạnh dạn thể nghiệm trên chất liệu sơn mài bằng cái nhìn thị giác theo quan niệm riêng, có tiếp thu ảnh hưởng của xu hướng tả thực, đồng thời có sự ảnh hưởng đa chiều của ngôn ngữ quốc tế như: Hiện thực biểu hiện, hiện thực ấn tượng, siêu thực. Sự đổi mới về xu hướng sáng tác cũng được xem như sự đổi mới về ngôn ngữ nghệ thuật với chất liệu sơn mài. Nhiều họa sĩ tìm cách thay đổi cách trình bày tạo ra bút pháp và quan niệm thẩm mỹ có sự tác động bởi đời sống đương đại...
Những đổi mới, tìm tòi trên cho thấy, chất liệu sơn mài truyền thống có thể trở thành chất liệu hoàn toàn phù hợp với xu hướng sáng tác hiện nay. TS. Trần Thị Biển - Viện Mỹ thuật, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam cho rằng, tranh sơn mài Việt Nam mở ra nhiều hướng khám phá, sáng tạo, là thứ chất liệu cuốn hút nhiều thế hệ họa sĩ. Tuy nhiên, việc phá cách trong kỹ thuật sử dụng màu sắc mới cho chất liệu sơn mài cũng tạo ra nhiều tranh luận, có người cho rằng điều đó ít nhiều làm mất đi vẻ đẹp nguyên bản của chất liệu độc đáo tiêu biểu cho hội họa Việt Nam.
Thay đổi kỹ thuật, chất liệu
“Gầy đây, xuất hiện những gương mặt nghệ sĩ trẻ sáng tác sơn mài kết hợp với các loại hình nghệ thuật mới như video art, sắp đặt. Việc ứng dụng chất liệu này trong nghệ thuật sắp đặt đã gợi ra hướng đi mới, đặc tính tổng hợp của sắp đặt khiến sơn mài có thể kết hợp với hình thức tạo hình độc đáo, công nghệ trình chiếu, ánh sáng... Những kết hợp này đã thổi làn gió mới vào sơn mài cổ truyền, làm mất đi tính kinh viện, nghiêm trang và trở nên gần gũi và hấp dẫn với nhiều thế hệ khán giả”. PGS.TS. Bùi Thị Thanh Mai, Phó Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam |
Không chỉ thay đổi về màu sắc và chủ đề thể hiện, một trong những đổi mới có thể dễ nhận thấy là sự thay đổi vật liệu trong quá trình sáng tác tranh sơn mài đương đại. Theo TS. Đặng Thị Phong Lan, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, cùng với xu thế hội nhập thế giới, quan niệm về nghệ thuật mở rộng, bên cạnh tranh sơn mài truyền thống bắt đầu hình thành những dạng tranh sơn mài mới. Có xu hướng muốn thay thế những nguyên vật liệu truyền thống bằng những vật liệu có màu sắc, tính chất gần giống nhưng giá thành rẻ hơn, như dùng cách vẽ bột màu phủ PU, dùng thiếc thay bạc, nhũ giả thay vàng... Xu hướng thứ hai là thử nghiệm nhiều kỹ thuật khác mà không cần đến kỹ thuật mài, hoặc mài từng phần hay chỉ mài sơ. Chiều sâu bức tranh có được là do hiệu quả sử dụng những quy tắc diễn tả không gian chứ không phải độ sâu thẳm của các lớp màu do chất liệu mang lại, cách vẽ vẫn là sơn chứ không phải mài.
Với nhiều họa sĩ, đặc biệt là họa sĩ trẻ, thao tác, kỹ thuật thể hiện một tác phẩm mỹ thuật trên chất liệu sơn mài hiện nay không còn là quy định quá khắt khe. Một số họa sĩ cũng dùng vóc vẽ trên cốt mặt phẳng composite, dùng các kỹ thuật gắn, đắp, phun sơn trên bề mặt với nhiều thay đổi kỹ thuật, có chỗ tạo độ bóng, có chỗ không gắn, có chỗ gắn chất liệu khác...
Tuy vậy, những thay đổi này đã gây ra nhiều tranh luận. Nhiều người không phản đối việc dùng các chất liệu sơn khác nhau trong tranh sơn mài, kể cả việc không mài. Họ quan tâm đến sự sáng tạo và hiệu quả nghệ thuật, thậm chí còn cho rằng đó là cách đưa nghệ thuật hiện đại vào nghệ thuật truyền thống, là sự sáng tạo của nghệ sĩ, hứa hẹn sự khởi sắc cho nghệ thuật sơn mài. Nhưng có những ý kiến cho rằng làm sơn mài phải tuân thủ truyền thống, chỉ dùng sơn ta chứ không dùng sơn công nghiệp, nếu không thì không được gọi là sơn ta, sơn mài.
Trong khi sơn mài truyền thống phải mất hàng tháng, thậm chí hàng năm mới xong một tác phẩm, nhưng nay chỉ trong vòng 2 - 3 năm sáng tác, nhiều họa sĩ có thể cho ra vài chục bức... Bên cạnh sơn mài truyền thống vẫn có thể loại nghệ thuật tranh sơn hoặc hội họa chất liệu tổng hợp đáp ứng nhu cầu sáng tạo của nghệ sĩ. Trước những thay đổi đã diễn ra như một xu hướng tất yếu, TS. Đặng Thị Phong Lan cho rằng, biến đổi về chất liệu, kỹ thuật, thể loại cần có sự phù hợp của tên gọi. Khi đặc trưng và hình thức của tranh đã vượt quá giới hạn hội họa sơn mài thì cần thiết phải tìm cho nó thuật ngữ mới, phù hợp.
Đó cũng là cách các nghệ sĩ tôn trọng, cân bằng giữa bảo tồn sơn mài truyền thống, nhưng vẫn cởi mở đón nhận cái mới để khai thác hết khả năng, bí ẩn kỳ diệu của chất liệu độc đáo này.
Theo Ngọc Phương - ĐBND
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.