Các anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân A lưới với Bác Hồ

10:17 23/04/2009
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)

Bác Hồ và các Anh hùng LLVT miền Nam, người đội mũ bên phải là Hồ Kan Lịch (www.sggp.org.vn)

Nghe theo lời dạy đó, đồng bào các dân tộc ở A Lưới hăng hái đi học cái chữ của cán bộ người Kinh. Vào khoảng những năm 1947-1959 ở vùng A Lưới lại vang danh những thầy dạy chữ là người dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, Ka Tu là Ku Nô Hồ Ngọc Mỹ và Ku Tông Đoàn Văn Dương. Chính những vị thầy này đã là chiếc cầu nối cho đồng bào nơi đây đến với cách mạng với Đảng và Bác Hồ. Và cũng chính từ đấy, đồng bào các dân tộc ở A Lưới nghe theo lời vận động của Đảng, biến đau thương thành hành động cách mạng, tổ chức nhiều trận đánh lớn lập thành tích dâng tặng Bác. Từ đây xuất hiện những nhân vật kiệt xuất với những chiến công phi thường góp phần vào chiến công chung của nhân dân A Lưới. Đó là các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, họ đã hăng hái tham gia cách mạng theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ, những chiến công vượt bậc của họ không có mục đích gì khác ngoài việc đánh thắng giặc Mỹ dâng công lên Đảng quang vinh.

Huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế vinh dự có 8 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Hồ Đức Vai, Kan Lịch, Bùi Hồ Dục, Hồ A Nun, Hồ Thị Đơm, Cu Tríp, A Vầu (Anh hùng liệt sĩ). CănTréec (Anh hùng liệt sĩ). Đây thực sự được gọi là quê hương của những anh hùng.

Năm 1965 anh hùng Vai được ra Bắc tham dự Đại hội liên hoan các anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ nhất. Cùng đi với anh hùng Vai có anh hùng Tạ Thị Kiều, Huỳnh Văn Đảnh, Trần Dưỡng và Lê Chí Nguyện. Trong lần đi này vinh dự lớn nhất và thiêng liêng nhất trong đời ông là được gặp Bác Hồ. Được Bác ân cần hỏi thăm sức khoẻ, hỏi thăm dân tộc mình, 3nơi mình sinh sống và ông vui mừng lắm. Giờ đây ông nhớ lại những lời của Bác rằng: “Cháu Vai là người dân tộc, tình hình nhân dân trong vùng cháu sống ra sao? Có gì khó khăn lắm không? Nam nữ có bình quyền chưa? Cháu Vai đã học đến đâu rồi”. Bác ân cần nhận xét: “Cháu học một thời gian rồi mà vẫn chưa thạo tiếng phổ thông. Cháu đừng ham học nhiều. Một ngày đặt ra phải 5 chữ thôi, nhưng phải nhớ thật chắc. Hai ngày cộng lại học 10 chữ. Học tràn lan thì không nhớ gì hết. Có công mài sắt có ngày nên kim, việc học cũng thế, biết cách học, có quyết tâm thì nhất định học được”. Chỉ có Bác Hồ, vị cha già của dân tộc mới có nhiều tâm huyết bảo ban cho mọi người, và anh hùng Vai đã được cái vinh dự đó thì không có gì bằng. Sau này cứ mỗi lần gặp ông, nghe ông kể chuyện, chúng tôi luôn bắt gặp câu nói “Cái đời mình chưa bao giờ có cảm giác sung sướng như vậy” và ông còn nhớ, nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ đối với ông rằng: “Hiện nay đồng bào ta còn thắt lưng buộc bụng để chống Mỹ cứu nước nên cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm. Thắng Mỹ rồi không những đồng bào ta có cơm ăn, áo mặc mà phải đủ ăn ngon mặc đẹp nữa”.

Trở về lại miền Nam ngày đêm tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu nước, Hồ Vai vẫn luôn mong một ngày nào đó Bác sẽ vào thăm miền Nam, ghé thăm thung lũng A Lưới đầy chiến tích thắng giặc. Thế nhưng niềm mơ ước đó chưa trọn vẹn thì Bác đã qua đời (2-9-1969), đồng bào các dân tộc ở A Lưới thương tiếc Bác, họ nguyện cùng nhau mang họ Bác Hồ và anh hùng Vai là người đầu tiên mang họ của Bác. Đây là một việc làm thiêng liêng nhằm thể hiện tình cảm đối với Người.

Giờ đây anh hùng Vai lại thấy quê hương A Lưới đang từng ngày thay da đổi thịt. Ông nói “Nghe theo Đảng, Bác Hồ đồng bào các dân tộc ở A Lưới đã biết làm nhà đất, nhà xây để ở chứ không còn cảnh tạm bợ nữa rồi, đường xá thì rộng rãi và có đường ô tô vào tận các thôn bản hẻo lánh, đời sống của đồng bào ngày càng được cải thiện, điện đã về khắp huyện. Cho nên đồng bào chúng tôi luôn ghi nhớ lời dạy của Bác, quyết tâm đi theo Đảng, làm cách mạng đến cùng, cũng như đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác đã lựa chọn” Điều này đã làm cho ông cảm thấy vui. Và cùng với những hạnh phúc như anh hùng Vai, nữ anh hùng lực lượng vũ trang Kan Lịch ngày nay đang sống một cuộc đời giản dị và luôn nhớ về những kỷ niệm khó quên của một thời làm cách mạng. Bà nói: “Đảng, cách mạng và Bác Hồ đã thật sự đem ánh sáng văn hoá, cuộc sống ấm no cho dân làng bản”.

Kan Lịch đã được ra Bắc gặp Bác Hồ vào năm 1968, tại đây bà đã được gặp Bác 7 lần trong đó có 4 lần ăn cơm với Bác tại nhà Bác và tại Phủ Chủ Tịch. Được gặp Bác, Bác tiếp đón ân cần, hỏi han nhiều lắm “Cháu có khoẻ không? Ăn có ngon không?” Giờ đây nhắc lại chuyện xưa, người con gái Pa Cô kiên cường ngày đó nhớ lại: “Bác Hồ hỏi rất nhiều về dân tộc Pa Cô, Tà Ô của mình, hỏi cháu làm cách nào mà đánh giặc giỏi thế? Cứ thế mà phát huy”.

Tác giả Linh Mai đã viết về Kan Lịch rằng: “...Năm 1967, chị Kan Lịch vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Trên đường ra Bắc dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua, khi đến Quảng Bình, chị bị sốt rét ác tính nặng. Tưởng chị đã chết, người ta đưa chị vào nhà xác bệnh viện. Nhưng rồi chị sống lại, làm mọi người xung quanh sững sờ, chị nói:
Chưa gặp được Bác Hồ thì làm sao chết được.
Đến Hà Nội thì trời đã khuya. Bác vẫn ngồi đợi đón đoàn. Bác mời đoàn ăn cơm thân mật.
Trò chuyện một lúc Bác đem ra một chiếc đài bán dẫn tặng riêng cho chị Kan Lịch. Để bù đắp những thiệt thòi về văn hoá, Bác cho chị ở lại Hà Nội đi học. Chị Kan Lịch cảm động, thưa lại với Bác: miền Nam đang còn chiến tranh, Bác cho cháu xin được trở về để tiếp tục chiến đấu...”

Sau này chiếc đài đó luôn đi theo Kan Lịch, mỗi lần mở đài bà lại nhớ đến Bác Hồ và sụt sùi khóc. Cả đời Kan Lịch luôn ghi nhớ mãi câu nói của Bác Hồ đã căn dặn chị rằng: “Kan Lịch là nữ anh hùng dân tộc đầu tiên. Bác rất tự hào. Nhưng được anh hùng đã khó giữ được anh hùng càng khó hơn, cháu hãy cố gắng”.

Bây giờ Kan Lịch ưng cái bụng lắm rồi. Nhờ có Bác mà quê hương A Lưới đã tươi đẹp hẳn lên, ngàn xanh phủ đầy. Người tình nguyện đến A Lưới công tác ngày càng nhiều. Đường Hồ Chí Minh đi qua huyện, cửa khẩu Hồng Vân - Cu Tai, Tà Vàng - A Đớt đang mở, tạo cho A Lưới một tương lai đầy hứa hẹn.


(Chú cháu  A Vai và Kan Lịch)

Riêng hai anh hùng Vai và Kan Lịch trực tiếp gặp được Bác Hồ, đó là một vinh dự cho A Lưới. Nhưng còn nhiều vị anh hùng ở vùng đất này mặc dầu chưa được gặp Bác song cũng được Bác dành cho những sự ưu ái đặc biệt bằng những lá thư thăm hỏi, những món quà động viên đầy ý nghĩa. Bác đã gửi cho anh hùng Hồ A Nun, anh hùng Cu Tríp những lá thư tay. Bác còn tặng cho anh hùng A Nun một chiếc đồng hồ, một chiếc đài và nhiều vật dụng quan trọng khác.

Như chúng ta đã biết, một gia đình có tới 3 anh hùng là điều hiếm có trong lịch sử nước ta. Anh hùng Vai là chú của anh hùng Kan Lịch và anh hùng Hồ A Nun. Vì lí tưởng cách mạng, vì Bác Hồ cả 3 chú cháu luôn đồng hành chiến đấu, bên cạnh họ luôn có những đồng đội anh hùng như anh hùng liệt sĩ A Vầu. Anh hùng A Vầu trước khi chết có nói với địch một câu rằng: “Con chim biết tìm cành để đậu. Con nai biết rừng dữ để xa. Con người theo lẽ phải để sống. Người Pa Cô chúng tôi tất cả là Việt Cộng và người chỉ huy chúng tôi là các em nhỏ chết vì thiếu cơm, thiếu muối do chính các ông triệt mọi đường sống gây ra; là những người yêu nước bị các ông mổ bụng moi gan”. Vì tấm lòng trung thành với bản làng rừng núi mà người dân nơi đây đã ví anh giống như cây Tyơ sừng sững giữa đại ngàn Trường Sơn. Vì thế mà trước khi ra Bắc gặp Bác Hồ, anh hùng Vai đã được các già làng dặn dò rằng: “Nếu được gặp Bác Hồ, con không biết nói nhiều thì cứ kể chuyện A Vầu và cây Tyơ cho Bác Hồ nghe là đủ. Vì đó là tấm lòng của người Pa Cô chúng ta đối với Bác Hồ”. Thế nhưng điều đó ông chưa thực hiện được, ông cảm thấy ân hận suốt đời và mong được một lần gặp lại Bác để chuộc lại lỗi lầm và kể cho Bác nghe về tấm lòng của đồng bào ông, như rễ cây Tyơ bám chặt vào dãy Trường Sơn, vùng đất thân yêu của dân tộc.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Đơm trong những năm kháng chiến chống Mỹ đã dốc sức người và sức của rất nhiều để phục vụ cho kháng chiến. Bà không có được may mắn ra Bắc gặp Bác Hồ như những vị anh hùng kia. Năm Bác mất, bà khóc rất nhiều và tự hứa với mình cố gắng lập nên nhiều chiến công dâng lên Bác. Sau khi hoà bình lập lại, bà không mong ước gì hơn ngoài việc được ra thăm lăng Bác. Năm 1996, sau khi được tuyên dương anh hùng, Nhà nước thu xếp cho bà được ra Bắc thăm nơi làm việc và nơi yên nghỉ của Người. Trước khi đi, bà bị một cơn bệnh nặng ập đến. Lo lắng cho sức khoẻ của bà, mọi người đề nghị đưa bà trở lại quê hương A Lưới, nhưng bà đã nói. “Nếu tôi chết hãy cho tôi chết ở cạnh Bác, tôi không thể trở về được” (2)

Trong ký ức của mình cho đến ngày nay, anh hùng Bùi Hồ Dục vẫn hay nhắc đến Bác mặc dầu chưa được gặp Bác lần nào. “Tháng 9 năm 1967 tôi đi dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam. Tôi tên lúc đó là Bùi Cu Dục, bà Nguyễn Thị Định phó tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam hỏi thăm rằng: “Đồng chí Dục biết anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai đã ra Hà Nội thăm Bác Hồ, quê ở Quận 3 Thừa Thiên Huế”. Tôi trả lời: “Báo cáo phó tư lệnh, tôi biết Hồ Vai là chú bên ngoại cùng quận 3 khác xã”. Phó Tư lệnh nói tiếp: “Thế thì đồng chí Dục đặt tên gọi Hồ Dục, giống Hồ Vai mang họ Hồ của Bác”(3)

Với tư cách là một người mang họ Bác Hồ, anh hùng Hồ Dục nguyện suốt đời cùng dòng họ cùng cộng đồng xây dựng và bảo vệ biên cương của Tổ Quốc. Còn nhớ lại quãng thời gian ngày 5.9.1969, sau khi nghe đài phát thanh đưa tin Hồ Chủ Tịch từ trần, ông đã động viên anh em phụ trách đoàn dân công biến đau thương thành sức mạnh hành động cách mạng, quyết tâm mang hàng tăng cân, tăng chuyến để kịp thời phục vụ cho chiến dịch, để thực hiện mong muốn của Bác Hồ từ lâu là đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, để Bắc Nam sớm sum họp một nhà.

Với sự chăm lo của Đảng, của Bác Hồ, đồng bào các dân tộc ở A Lưới đã thực sự được đổi đời, sống một cuộc sống tự do. Các anh hùng lực lượng vũ trang ở A Lưới hôm nay luôn luôn kể về những chiến công đáng tự hào của mình, những kỷ niệm của mình với Bác Hồ để con cháu sau này lớn lên lấy đó làm gương soi cho mình.

T.N.K.P
(
202/12-05)


---------------------------

(1)
Ghi theo lời kể của ông Hồ Mạnh Khoá, nguyên là chỉ huy trưởng huyện đội A Lưới, hiện ở tại thôn Hợp Thượng, xã Hồng Thượng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, ngày 25.08.2005
(2), (3) Trường Đại Học khoa học Huế, khoa Lịch sử. Tư liệu về các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân huyện A Lưới, Huế 5.1998 trang 35, 36.

 

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • MINH CHUYÊNCảnh làng mới Trà Tân cuối chiều mùa đông. Con suối chảy qua nước trong veo, róc rách. Phía tây con suối cách làng chừng nửa tầm mắt là rừng Sắc Rông, đủ các loại cây tầng tầng, lớp lớp. Cánh rừng đang chìm trong sương chiều. Rừng hoang vắng, huyền bí. Người ta kể sau ngày chiến tranh chấm dứt, rừng Sắc Rông càng trở nên bí ẩn. Người chỉ có vào mà không có trở ra. Vậy mà mấy tháng gần đây lại thường xuyên xuất hiện một người đàn bà ở đó.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).

  • NGUYỄN QUANG HÀTạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung gồm: Xứ Thanh, Sông Lam, Hồng Lĩnh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Sông Hương có một cam kết thú vị, luôn luôn trong nỗi chờ mong là mỗi năm anh chị em trong tạp chí thay nhau đăng cai luân phiên, mỗi năm gặp nhau một lần, ở thời điểm thích hợp nhất do tạp chí đăng cai tự chọn.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOTháng bảy, nồng nàn hương lúa mới trên những ruộng lúc mới vừa mùa gặt tháng 5, mùi rơm rạ kéo tôi ra khỏi thế giới của những đường phố xênh xang, đầy bụi và chật người. Tôi leo lên một tầng gác và nhìn về hướng quê tôi, hình dung đủ thứ nhưng nhớ vẫn là khói lam chiều với dáng mẹ tôi gầy cong như đòn gánh.

  • VĨNH NGUYÊNPhải nói tôi có ý định dông một chuyến xe máy ra Bắc đã lâu mà chưa có dịp. Nay có điều kiện để đi song tôi vẫn băn khoăn, không hiểu chuyến đi này mình sẽ gặp những ai đây? Hay là phải thở dài dọc đường xa với những cảnh đời khốn khó? Thôi thì tôi chỉ biết đi và đi.

  • VÕ MẠNH LẬP                Ghi chépNhân vật Mười Hương nhiều người đã biết đến qua sách báo và đặc biệt là vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn.

  • DƯƠNG THÀNH VŨTrong đêm mỏng yên tĩnh dịu dàng, một mình một cõi với ly rượu trắng, cùng mùi hương của hoa rộn ràng, huy hoàng phát tiết; tôi miên man nhớ tới cõi người đến- cõi người đi nơi xa chốn gần, thời gian tuyến tính lẫn thời gian phi tuyến tính.

  • NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )

  • TRUNG SƠNĐoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế (TTH) lên đường “đi thực tế” một số tỉnh phía Bắc vào lúc lễ giỗ Tổ ở đền Hùng (10 tháng 3 âm lịch) vừa kết thúc. Tiền có hạn, thời gian có hạn chưa biết sẽ tới được những đâu, nhưng ai cũng “nhất trí” là phải lên Phú Thọ thăm Đền Hùng, dù lễ hội đã qua.

  • ALẾCHXĂNG GRINTại Luân Đôn, mùa xuân năm 1921, có hai ngài trung niên ăn mặc sang trọng dừng chân ở góc đường, nơi phố Pakađilli giao nhau với một ngõ nhỏ. Họ vừa ở một tiệm ăn đắt tiền đi ra. Ở đó, họ đã ăn tối, uống rượu vang và cùng đám nghệ sỹ của nhà hát Đriuđilenxky đùa cợt.

  • PHONG LÊQuê tôi là một xã nghèo ven chân núi Mồng Gà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hà Nội, việc về thăm quê, đối với tôi không mấy khó khăn. Hồi là sinh viên thì mỗi năm hai lần, lần nghỉ hè lần nghỉ Tết. Khi đã là cán bộ, có gia đình thì mỗi năm một lần, cả nhà dắt díu về, với hai hành trình là tàu hoả từ Hà Nội vào Vinh, rồi là xe đạp từ Vinh về nhà.

  • NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ ông hay, nổi tiếng, nhiều người ái mộ. Thời buổi “nhuận bút không đùa với khách thơ”, kinh tế khó khăn, gia đình ông vẻ như cũng “rất ư  hoàn cảnh”.

  • ĐẶNG NHẬT MINHGia đình tôi ở Huế có một cái lệ: cứ vào dịp trước Tết tất cả nhà cùng nhau lên núi Ngự Bình quét dọn, làm sạch cỏ trên những nấm mộ của nhũng người thân đã khuất. Sau đó trở về nhà thờ của dòng họ, cùng nhau ăn một bữa cơm chay. Cái lệ đó người Huế gọi là Chạp. Ngày Chạp hàng năm không cố định, có thể xê dịch nhưng nhất thiết phải trước Tết và con cháu trong gia đình dù đi đâu ở đâu cũng phải về để Chạp mộ.

  • DƯƠNG PHƯỚC THUMùa xuân năm Đinh Mùi, 1307, tức là chỉ sau có mấy tháng kể từ ngày Công chúa Huyền Trân xuất giá qua xứ Chàm làm dâu, thì những cư dân Đại Việt đầu tiên gồm cả quan binh gia quyến của họ, đã rời khỏi vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã theo chân Hành khiển Đoàn Nhữ Hài, vượt qua ngàn dặm rừng rậm, núi cao, biển rộng đến đây cắm cây nêu trấn yểm, xác lập chủ quyền quốc gia.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhững ngọn gió heo may cuối cùng đã tắt. Nắng buổi sáng hanh vàng ngoài bến sông. Hàng cây trên phố Huế đã chừng như thay lá, lung linh một màu lá tơ non, mỏng như hơi thở của bầy con gái trường Hai Bà Trưng đang guồng xe đạp đến trường. Mùa xuân đã về bên kia sông. Đã về những cánh én nâu đen có đôi mắt lay láy màu than đá. Đã về những đóa hoa hoàng mai, vàng rưng rức như một lời chào ngày tao ngộ...

  • TÔ VĨNH HÀCon chó Giắc nhà tôi đẹp nhưng mà hư quá. Tôi hét nó nằm thì nó cứ giương mắt ra, rồi ngồi. Tôi không cho nó chạy vào nhà vì sợ nó làm bẩn cái nền nhà vừa lau thì nó đi vòng cửa sau, khi tôi ra cửa trước. Bực nhất là ngày lễ - nói chung là những ngày có việc, bất cứ ai vào nó cũng sủa rộn ràng. Tôi thì không muốn xóm giềng để ý. Vậy mà chó có biết cho tôi đâu...

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.