Các anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân A lưới với Bác Hồ

10:17 23/04/2009
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)

Bác Hồ và các Anh hùng LLVT miền Nam, người đội mũ bên phải là Hồ Kan Lịch (www.sggp.org.vn)

Nghe theo lời dạy đó, đồng bào các dân tộc ở A Lưới hăng hái đi học cái chữ của cán bộ người Kinh. Vào khoảng những năm 1947-1959 ở vùng A Lưới lại vang danh những thầy dạy chữ là người dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, Ka Tu là Ku Nô Hồ Ngọc Mỹ và Ku Tông Đoàn Văn Dương. Chính những vị thầy này đã là chiếc cầu nối cho đồng bào nơi đây đến với cách mạng với Đảng và Bác Hồ. Và cũng chính từ đấy, đồng bào các dân tộc ở A Lưới nghe theo lời vận động của Đảng, biến đau thương thành hành động cách mạng, tổ chức nhiều trận đánh lớn lập thành tích dâng tặng Bác. Từ đây xuất hiện những nhân vật kiệt xuất với những chiến công phi thường góp phần vào chiến công chung của nhân dân A Lưới. Đó là các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, họ đã hăng hái tham gia cách mạng theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ, những chiến công vượt bậc của họ không có mục đích gì khác ngoài việc đánh thắng giặc Mỹ dâng công lên Đảng quang vinh.

Huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế vinh dự có 8 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Hồ Đức Vai, Kan Lịch, Bùi Hồ Dục, Hồ A Nun, Hồ Thị Đơm, Cu Tríp, A Vầu (Anh hùng liệt sĩ). CănTréec (Anh hùng liệt sĩ). Đây thực sự được gọi là quê hương của những anh hùng.

Năm 1965 anh hùng Vai được ra Bắc tham dự Đại hội liên hoan các anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ nhất. Cùng đi với anh hùng Vai có anh hùng Tạ Thị Kiều, Huỳnh Văn Đảnh, Trần Dưỡng và Lê Chí Nguyện. Trong lần đi này vinh dự lớn nhất và thiêng liêng nhất trong đời ông là được gặp Bác Hồ. Được Bác ân cần hỏi thăm sức khoẻ, hỏi thăm dân tộc mình, 3nơi mình sinh sống và ông vui mừng lắm. Giờ đây ông nhớ lại những lời của Bác rằng: “Cháu Vai là người dân tộc, tình hình nhân dân trong vùng cháu sống ra sao? Có gì khó khăn lắm không? Nam nữ có bình quyền chưa? Cháu Vai đã học đến đâu rồi”. Bác ân cần nhận xét: “Cháu học một thời gian rồi mà vẫn chưa thạo tiếng phổ thông. Cháu đừng ham học nhiều. Một ngày đặt ra phải 5 chữ thôi, nhưng phải nhớ thật chắc. Hai ngày cộng lại học 10 chữ. Học tràn lan thì không nhớ gì hết. Có công mài sắt có ngày nên kim, việc học cũng thế, biết cách học, có quyết tâm thì nhất định học được”. Chỉ có Bác Hồ, vị cha già của dân tộc mới có nhiều tâm huyết bảo ban cho mọi người, và anh hùng Vai đã được cái vinh dự đó thì không có gì bằng. Sau này cứ mỗi lần gặp ông, nghe ông kể chuyện, chúng tôi luôn bắt gặp câu nói “Cái đời mình chưa bao giờ có cảm giác sung sướng như vậy” và ông còn nhớ, nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ đối với ông rằng: “Hiện nay đồng bào ta còn thắt lưng buộc bụng để chống Mỹ cứu nước nên cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm. Thắng Mỹ rồi không những đồng bào ta có cơm ăn, áo mặc mà phải đủ ăn ngon mặc đẹp nữa”.

Trở về lại miền Nam ngày đêm tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu nước, Hồ Vai vẫn luôn mong một ngày nào đó Bác sẽ vào thăm miền Nam, ghé thăm thung lũng A Lưới đầy chiến tích thắng giặc. Thế nhưng niềm mơ ước đó chưa trọn vẹn thì Bác đã qua đời (2-9-1969), đồng bào các dân tộc ở A Lưới thương tiếc Bác, họ nguyện cùng nhau mang họ Bác Hồ và anh hùng Vai là người đầu tiên mang họ của Bác. Đây là một việc làm thiêng liêng nhằm thể hiện tình cảm đối với Người.

Giờ đây anh hùng Vai lại thấy quê hương A Lưới đang từng ngày thay da đổi thịt. Ông nói “Nghe theo Đảng, Bác Hồ đồng bào các dân tộc ở A Lưới đã biết làm nhà đất, nhà xây để ở chứ không còn cảnh tạm bợ nữa rồi, đường xá thì rộng rãi và có đường ô tô vào tận các thôn bản hẻo lánh, đời sống của đồng bào ngày càng được cải thiện, điện đã về khắp huyện. Cho nên đồng bào chúng tôi luôn ghi nhớ lời dạy của Bác, quyết tâm đi theo Đảng, làm cách mạng đến cùng, cũng như đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác đã lựa chọn” Điều này đã làm cho ông cảm thấy vui. Và cùng với những hạnh phúc như anh hùng Vai, nữ anh hùng lực lượng vũ trang Kan Lịch ngày nay đang sống một cuộc đời giản dị và luôn nhớ về những kỷ niệm khó quên của một thời làm cách mạng. Bà nói: “Đảng, cách mạng và Bác Hồ đã thật sự đem ánh sáng văn hoá, cuộc sống ấm no cho dân làng bản”.

Kan Lịch đã được ra Bắc gặp Bác Hồ vào năm 1968, tại đây bà đã được gặp Bác 7 lần trong đó có 4 lần ăn cơm với Bác tại nhà Bác và tại Phủ Chủ Tịch. Được gặp Bác, Bác tiếp đón ân cần, hỏi han nhiều lắm “Cháu có khoẻ không? Ăn có ngon không?” Giờ đây nhắc lại chuyện xưa, người con gái Pa Cô kiên cường ngày đó nhớ lại: “Bác Hồ hỏi rất nhiều về dân tộc Pa Cô, Tà Ô của mình, hỏi cháu làm cách nào mà đánh giặc giỏi thế? Cứ thế mà phát huy”.

Tác giả Linh Mai đã viết về Kan Lịch rằng: “...Năm 1967, chị Kan Lịch vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Trên đường ra Bắc dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua, khi đến Quảng Bình, chị bị sốt rét ác tính nặng. Tưởng chị đã chết, người ta đưa chị vào nhà xác bệnh viện. Nhưng rồi chị sống lại, làm mọi người xung quanh sững sờ, chị nói:
Chưa gặp được Bác Hồ thì làm sao chết được.
Đến Hà Nội thì trời đã khuya. Bác vẫn ngồi đợi đón đoàn. Bác mời đoàn ăn cơm thân mật.
Trò chuyện một lúc Bác đem ra một chiếc đài bán dẫn tặng riêng cho chị Kan Lịch. Để bù đắp những thiệt thòi về văn hoá, Bác cho chị ở lại Hà Nội đi học. Chị Kan Lịch cảm động, thưa lại với Bác: miền Nam đang còn chiến tranh, Bác cho cháu xin được trở về để tiếp tục chiến đấu...”

Sau này chiếc đài đó luôn đi theo Kan Lịch, mỗi lần mở đài bà lại nhớ đến Bác Hồ và sụt sùi khóc. Cả đời Kan Lịch luôn ghi nhớ mãi câu nói của Bác Hồ đã căn dặn chị rằng: “Kan Lịch là nữ anh hùng dân tộc đầu tiên. Bác rất tự hào. Nhưng được anh hùng đã khó giữ được anh hùng càng khó hơn, cháu hãy cố gắng”.

Bây giờ Kan Lịch ưng cái bụng lắm rồi. Nhờ có Bác mà quê hương A Lưới đã tươi đẹp hẳn lên, ngàn xanh phủ đầy. Người tình nguyện đến A Lưới công tác ngày càng nhiều. Đường Hồ Chí Minh đi qua huyện, cửa khẩu Hồng Vân - Cu Tai, Tà Vàng - A Đớt đang mở, tạo cho A Lưới một tương lai đầy hứa hẹn.


(Chú cháu  A Vai và Kan Lịch)

Riêng hai anh hùng Vai và Kan Lịch trực tiếp gặp được Bác Hồ, đó là một vinh dự cho A Lưới. Nhưng còn nhiều vị anh hùng ở vùng đất này mặc dầu chưa được gặp Bác song cũng được Bác dành cho những sự ưu ái đặc biệt bằng những lá thư thăm hỏi, những món quà động viên đầy ý nghĩa. Bác đã gửi cho anh hùng Hồ A Nun, anh hùng Cu Tríp những lá thư tay. Bác còn tặng cho anh hùng A Nun một chiếc đồng hồ, một chiếc đài và nhiều vật dụng quan trọng khác.

Như chúng ta đã biết, một gia đình có tới 3 anh hùng là điều hiếm có trong lịch sử nước ta. Anh hùng Vai là chú của anh hùng Kan Lịch và anh hùng Hồ A Nun. Vì lí tưởng cách mạng, vì Bác Hồ cả 3 chú cháu luôn đồng hành chiến đấu, bên cạnh họ luôn có những đồng đội anh hùng như anh hùng liệt sĩ A Vầu. Anh hùng A Vầu trước khi chết có nói với địch một câu rằng: “Con chim biết tìm cành để đậu. Con nai biết rừng dữ để xa. Con người theo lẽ phải để sống. Người Pa Cô chúng tôi tất cả là Việt Cộng và người chỉ huy chúng tôi là các em nhỏ chết vì thiếu cơm, thiếu muối do chính các ông triệt mọi đường sống gây ra; là những người yêu nước bị các ông mổ bụng moi gan”. Vì tấm lòng trung thành với bản làng rừng núi mà người dân nơi đây đã ví anh giống như cây Tyơ sừng sững giữa đại ngàn Trường Sơn. Vì thế mà trước khi ra Bắc gặp Bác Hồ, anh hùng Vai đã được các già làng dặn dò rằng: “Nếu được gặp Bác Hồ, con không biết nói nhiều thì cứ kể chuyện A Vầu và cây Tyơ cho Bác Hồ nghe là đủ. Vì đó là tấm lòng của người Pa Cô chúng ta đối với Bác Hồ”. Thế nhưng điều đó ông chưa thực hiện được, ông cảm thấy ân hận suốt đời và mong được một lần gặp lại Bác để chuộc lại lỗi lầm và kể cho Bác nghe về tấm lòng của đồng bào ông, như rễ cây Tyơ bám chặt vào dãy Trường Sơn, vùng đất thân yêu của dân tộc.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Đơm trong những năm kháng chiến chống Mỹ đã dốc sức người và sức của rất nhiều để phục vụ cho kháng chiến. Bà không có được may mắn ra Bắc gặp Bác Hồ như những vị anh hùng kia. Năm Bác mất, bà khóc rất nhiều và tự hứa với mình cố gắng lập nên nhiều chiến công dâng lên Bác. Sau khi hoà bình lập lại, bà không mong ước gì hơn ngoài việc được ra thăm lăng Bác. Năm 1996, sau khi được tuyên dương anh hùng, Nhà nước thu xếp cho bà được ra Bắc thăm nơi làm việc và nơi yên nghỉ của Người. Trước khi đi, bà bị một cơn bệnh nặng ập đến. Lo lắng cho sức khoẻ của bà, mọi người đề nghị đưa bà trở lại quê hương A Lưới, nhưng bà đã nói. “Nếu tôi chết hãy cho tôi chết ở cạnh Bác, tôi không thể trở về được” (2)

Trong ký ức của mình cho đến ngày nay, anh hùng Bùi Hồ Dục vẫn hay nhắc đến Bác mặc dầu chưa được gặp Bác lần nào. “Tháng 9 năm 1967 tôi đi dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam. Tôi tên lúc đó là Bùi Cu Dục, bà Nguyễn Thị Định phó tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam hỏi thăm rằng: “Đồng chí Dục biết anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai đã ra Hà Nội thăm Bác Hồ, quê ở Quận 3 Thừa Thiên Huế”. Tôi trả lời: “Báo cáo phó tư lệnh, tôi biết Hồ Vai là chú bên ngoại cùng quận 3 khác xã”. Phó Tư lệnh nói tiếp: “Thế thì đồng chí Dục đặt tên gọi Hồ Dục, giống Hồ Vai mang họ Hồ của Bác”(3)

Với tư cách là một người mang họ Bác Hồ, anh hùng Hồ Dục nguyện suốt đời cùng dòng họ cùng cộng đồng xây dựng và bảo vệ biên cương của Tổ Quốc. Còn nhớ lại quãng thời gian ngày 5.9.1969, sau khi nghe đài phát thanh đưa tin Hồ Chủ Tịch từ trần, ông đã động viên anh em phụ trách đoàn dân công biến đau thương thành sức mạnh hành động cách mạng, quyết tâm mang hàng tăng cân, tăng chuyến để kịp thời phục vụ cho chiến dịch, để thực hiện mong muốn của Bác Hồ từ lâu là đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, để Bắc Nam sớm sum họp một nhà.

Với sự chăm lo của Đảng, của Bác Hồ, đồng bào các dân tộc ở A Lưới đã thực sự được đổi đời, sống một cuộc sống tự do. Các anh hùng lực lượng vũ trang ở A Lưới hôm nay luôn luôn kể về những chiến công đáng tự hào của mình, những kỷ niệm của mình với Bác Hồ để con cháu sau này lớn lên lấy đó làm gương soi cho mình.

T.N.K.P
(
202/12-05)


---------------------------

(1)
Ghi theo lời kể của ông Hồ Mạnh Khoá, nguyên là chỉ huy trưởng huyện đội A Lưới, hiện ở tại thôn Hợp Thượng, xã Hồng Thượng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, ngày 25.08.2005
(2), (3) Trường Đại Học khoa học Huế, khoa Lịch sử. Tư liệu về các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân huyện A Lưới, Huế 5.1998 trang 35, 36.

 

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • ÐÔNG HÀ

    Tôi là người sinh ra sau chiến tranh, lớn lên bằng những bài học lịch sử. Thế hệ chúng tôi yêu Tổ quốc theo những bài học ông cha để lại qua những trang sách cộng thêm chút tính cách riêng của chính bản thân mỗi người. Mỗi người chọn cho mình một cách thể hiện tình yêu đó khác nhau.

  • CHẾ LAN VIÊN

    Hồi ký về Đoàn Nghệ thuật Xây dựng (Huế 1946)

  • NGUYỄN QUANG HÀ
                              (Bút ký)

    Ông Lê nguyên giám đốc sở Văn hoá Bình Trị Thiên, một lần về Thủy Dương lấy  tài liệu viết tuyên truyền cho vụ lúa mùa, đã cụng đầu với ông bí thư xã.

  • TẠ QUANG BỬU
                    (Hồi ký)

    Tôi đã học ở trường Quốc Học bốn năm từ năm 1922 đến 1926, cách đây đúng 60 năm.
     

  • TRỊNH BỬU HOÀI

    Đất trời đang mặc chiếc áo mới cho trần gian. Con người cũng thay chiếc áo mới cho mình. Chiếc áo khoác trên đôi vai sau một năm oằn gánh công việc. Chiếc áo phủ lên tâm hồn ít nhiều khói bụi thế nhân.

  • NHỤY NGUYÊN

    Một câu trong Kinh Cựu ước: Khởi thủy là lời. Tôi không dám khoác thêm bộ cánh mới, mà chỉ muốn tìm cho nó một mỹ từ gần gũi: Khởi thủy là mùa Xuân.

  • ĐÔNG HƯƠNG

    Trí nhớ tôi tự dưng quay trở về với tuổi thơ, tuổi ba mẹ vừa cho đi học. Ờ! Lâu quá rồi, cái Tết đối với tôi không còn ý nghĩa gì nữa, trí nhớ lơ mơ trở lại khoảng đời thơ ấu, có lẽ đẹp nhất trong đời của mỗi con người của chúng ta.

     

  • TRẦN HỮU LỤC (Tùy bút)

    Tháng Chạp ở quê tôi là tháng của hoa mai. Dường như màu của hoàng mai tươi thắm khắp mọi nẻo đường. Những chậu mai kiểng, vườn mai chùa, vườn mai nhà, đường phố mai, công viên mai, những thung lũng mai núi… đến thì lại nở đẹp một màu vàng mỏng nhẹ trong sương sớm.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU (Bút ký lịch sử)

    Nhiều năm men theo dấu chân của nàng Huyền Trân, công chúa nhà Trần mở đất Ô, Lý, hễ có dịp là tôi lại hành hương đất Bắc. Viếng đền thờ các vua nhà Trần ở làng Tức Mặc - nơi ấy nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

  • HÀ THÚC HOAN

    Những ai đã từng là học sinh trường Quốc Học - Huế đều có Một thời Quốc Học(1). Thời Quốc Học của tác giả bài viết này là ba năm học tập ở các lớp đệ tam (lớp 10), đệ nhị (lớp 11) và đệ nhất (lớp 12), từ năm 1956 đến năm 1959.

  • TRẦN HUY MINH PHƯƠNG (Tùy bút)

    Thoáng một cái, xài hết ba trăm sáu mươi lăm ngày mà hổng biết. Bao dự tính giằng co rồi dang dở, chưa kịp nghĩ thấu, chưa xiết làm xong, phân vân nhiều nốt lặng, yêu người chưa sâu nặng, nợ người chưa trả xong… ngày giũ vội qua đi. Ngẩn ngơ, mùa về!

  • THIẾU HOA Hắn! Một vị khách không mời mà đến. Hắn đến viếng nhà tôi trong một đêm mưa to gió lớn. Cả nhà ai cũng biết sự có mặt của Hắn. Đêm đầu tiên cứ nghĩ Hắn chỉ trốn mưa tạm thời rồi hôm sau sẽ đi. Nhưng đến nay đã qua một mùa xuân, Hắn vẫn còn ung dung tự tại ở trong nhà, lại ở đúng trong phòng của tôi như một thành viên chính thức trong gia đình.

  • PHAN QUANG                Trích hồi ký ... Đến thị xã Sơn La chiều hôm trước, sáng hôm sau trong khi chờ đến giờ sang làm việc với Khu ủy Tây Bắc, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - mà các đồng chí gần gũi đều quen gọi bằng tên thân mật: anh Thao - cho mời chủ nhiệm nhà khách của khu tới.

  • VÂN NGUYỄN                 Tùy bút “Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa...” (Trịnh Công Sơn)

  • PHAN THỊ THU QUỲ Ba tôi - liệt sĩ Phan Tấn Huyên, Nguyên Chánh Văn phòng Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Thừa Thiên - thường dặn tôi mấy điều: dù khó khăn đến mấy cũng không được ngừng nghỉ phấn đấu học hành bởi tri thức là sức mạnh; dù như thế nào đi nữa cũng phải giữ cho được bản sắc văn hóa Huế rất đỗi tự hào của mình...

  • TẤN HOÀI Một khung trời mây Một dải gương lung linh cuộn quanh hoàng thành cổ kính. Trầm mặc và ưu tư. Tưởng chừng như thế!...

  • XUÂN HOÀNG Tôi được Hội Nhà văn Việt Nam cử đi thăm hai nước Ru-ma-ni và Bun-ga-ri đúng vào những ngày đầu xuân Mậu Thân, sôi động.

  • HỮU THU & BẢO HÂN                                     Ký   Đến bây giờ nhiều người vẫn chưa quên hình ảnh hãi hùng mà cơn bão mang tên Cecil tàn phá vào cuối tháng 10 của năm 1985 ở miệt phá Tam Giang của tỉnh Thừa Thiên-Huế.

  • PHẠM THỊ CÚC Thầy dạy lớp Nhì Thầy dạy lớp Nhì tên Thanh. Người thầy roi roi, hơi thấp và nhỏ con. Bù lại, thầy rất nhanh nhẹn và vui vẻ, hoạt bát, nụ cười luôn nở trên môi.

  • VĨNH NGUYÊN Biết sở Ngoại thương có đến năm ông vua, tôi tặc lưỡi - chà, thời buổi này tiếng vua quan nghe có vẻ mai mỉa làm sao ấy? Nhưng lên được ngôi vua đâu phải đơn giản? Dẫu vua ác, vua hiền, vua tài ba hay bất lực, vẫn là vua một thời và khối kẻ mong ước được "một ngày tựa mạn thuyền rồng"...