Biến tấu của trăm năm

10:25 17/03/2009
NGA LINH NGA1. Xuất bản mười hai tập thơ, mười hai tập văn xuôi, một tập nhạc; viết mười hai kịch bản phim chân dung, hai mươi lời bình cho các phim khác, biên soạn hai mươi tập nhạc... điều thật khó tin ở một người nổi tiếng rong chơi, thích cao đàm khái luận, thường không mấy khi vắng mặt nơi những cuộc rượu của đám văn nghệ Hà Thành như Nguyễn Thụy Kha.

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha

Sinh ngày 7 tháng 10 năm 1949, ngày mà ở châu Âu một bức tường lớn đã được dựng lên để ngăn những con sóng từ Đông Berlin tràn sang Tây Berlin, dường như Nguyễn Thụy Kha cũng là một trong những bức tường nhỏ được số phận dựng lên để nhận về những va đập, sang chấn của kiếp người.

Thế là tôi đã cởi áo lính
Một thanh xuân vô tư
...
Tôi cởi những thập niên máu xanh
đến bao giờ máu tôi đỏ lại
thật đau đớn khi làm lính mà không chết
                                                (Cởi)
Khi em xiết ghì ta
Là khi ta đang mất
Có bàn tay thứ ba
Vẫy vào ta vĩnh biệt
                        (Bàn tay thứ 3)

Tôi gặp Nguyễn Thụy Kha lần đầu vào khoảng những năm 84-85 của thế kỷ trước, qua người bạn trai thân thiết của anh. Lúc đó Nguyễn Thụy Kha còn khá trẻ. Cùng với nhà văn Trần Hoàng Bách, anh ngang qua thành phố miền trung bé nhỏ của tôi ngày ấy còn hiu quạnh như một thị trấn miền núi trong văn Nguyễn Thành Long.

Gầy, cao, gương mặt ít biểu cảm, cặp mắt thông minh nhưng luôn mang cái vẻ nhìn mà không thấy... Nguyễn Thụy Kha đã để lại trong cảm nhận của cô gái mới ngoài hai mươi là tôi lúc bấy giờ, ấn tượng về một tuýp văn sĩ thị thành lớt phớt. Cho đến khi chùm thơ về chuyến đi của anh xuất hiện trên báo.
Có một phần tôi ở đây ký ức
Bạn mang về bụi đường miền Tây
Khi ấy Vinh là anh bộ đội
Quân phục ướt mưa tươi cười lá cây

Có một phần tôi lang thang phố lạ
Em đi ra tận cửa ngập ngừng
Khi ấy Vinh là người yêu nhỏ
Đoá hoa hồng dấu ở sau lưng
                                    (Một nét Vinh)
Râu quai nón ẩn khuất nụ cười
Quán cà phê cây dừa chợt sáng
Rồi rót rượu rồi ngồi im đá tảng
                                     (Khánh ơi)
Em chìm trong tóc xoã
Như bị lãng quên rồi
                       (Chiếc cổng thành)

Một ngày dừng chân, mấy chén rượu nhạt, dăm bảy gương mặt lướt qua... vậy mà hồn anh đã nhận về những vết  hằn thật sâu. Hoá ra ẩn dưới vẻ ngoài thị thành lạnh và kiêu kia là một trái tim đôn hậu, dễ ngân rung, một tâm hồn phóng khoáng, đầy màu sắc hội hoạ.
                        - Thơ với anh là gì vậy?
                        - Là những khám phá vô tận về một thế giới không nhìn thấy trong một thế giới nhìn thấy.

2. Có lẽ ít có nhà thơ nào lại khai rõ lý lịch cuộc đời mình đến thế, trong thơ. Chỉ cần đọc thơ thôi, là đã biết khá rõ về người. Không lựa lọc, dè dữ, Nguyễn Thụy Kha viết thoải mái, đàng hoàng xếp lớp từng khoảnh sống của mình và người đọc nhận ra rất nhanh:
Những dấu vân tay từ đứa con của biển:
Tóc ướt ròng lấp lánh
Ngực phong phanh mang sóng về nhà
                                                (Mẹ cửa biển)
Ta qua ngày đội vôi đội than
Hồn còn nặng nhhững dáng người lối ngõ
Vết dầu loang tiếng còi tàu bờ đá
Sóng ướt mãi vào ta
                                                (Hải Phòng từ xa)
Về Hải Phòng chạm phải tuổi thơ mình
Thằng bé bụi đời lang thang phố xá
Hạt bụi bây giờ đã già đã mong manh quá
Yêu chưa xong mộng mị cũng chưa xong
                                                (Về Hải Phòng)
Những vết xước nơi tâm hồn người lính từng đi qua chiến tranh:
Tôi cô đơn ôm sốt rừng một thuở
Bao tủi mừng còn đầm đìa đường phố
                                                (Cơn sốt ở Sài Gòn)
Đây là lần thứ hai sau lần làm người lính
Anh cầm trong tay một thứ dễ chết người
Ngoe nguẩy năm con rắn
Giữa vỉa hè phe phẩy như sôi

Lặng im anh thương binh ngồi
Như hồi nào phục kích
chỉ có khác súng thì bắn giặc
còn rắn thì để bán thế thôi 
                                    (Người bán rắn ở Văn Miếu)
Cuộc chiến tranh không chịu ra khỏi tôi
Như bụi trong nhà chẳng chổi nào quét sạch
Cả em nữa tận cùng ngóc ngách
                                                (Bụi)
Và còn nữa, tấm hộ chiếu vĩnh viễn của du khách trên xứ sở Thần Ái tình:
Này tóc gió
Này ngực núi
Này thân đường
Những lượn cong đắm mê không cưỡng nổi
                                                (Đêm ướt)
Này nắng mới tay ngà mắt ngọc
Ta ngũ hành năm giác quan em
                                    (Một góc cho mùa hè)
Ta ghé ngực
Đôi khi ta uống
Thấy mình bay trên tóc mùa hè
                                    (Những cánh tay rừng)

Được xếp vào thế hệ những nhà thơ chống Mỹ, nhưng Nguyễn Thụy Kha (cùng với một số tên tuổi khác như Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo, Anh Ngọc...) lại đạt tới đỉnh cao phong độ vào thời kỳ đất nước đã chấm dứt chiến tranh, chuẩn bị bước vào sự nghiệp đổi mới. Khát vọng của hôm qua và tâm thế ngày hôm nay day trở không nguôi trong những câu thơ của Nguyễn Thụy Kha. Viết nhiều, có chút nồng nàn làm dáng của thị thành, chút ồn ào bốc đồng của lính, những câu thơ của Nguyễn Thụy Kha trào dâng miên man... Người đọc có thể nhận ra dễ dàng thi ảnh độc đáo, những câu thơ có sức quyến rũ, ám gợi đã làm nên cá tính nghệ thuật của anh: “Bất ngờ mưa tóc vàng/miên man xuân/từng sợi châu Âu từng sợi ngô đồng/khuấy anh lên hỗn loạn” (Mưa tóc vàng); “Chiều không em mặt hồ buồn tênh/trái tim anh ai ném lên thềm”; “Anh lúc nào cũng sắp ngã vào em”; “Đồ Sơn đấm thẳng ta một cú/mạnh và phóng túng Đường thi”; “Từ trong ta khẽ một con thuyền lướt/trên lớp lớp sóng nhà”...

Nguyễn Thụy Kha viết khoẻ, viết nhanh, là một thi sĩ không có nhiều tìm tòi về mặt thi pháp nhưng lại gây được ấn tượng mạnh về sức rung cảm của tâm hồn, tinh thần tự do trong ngòi bút và đặc biệt: một khát vọng mãnh liệt muốn hoà mình với đời sống.
-Trong lao động thơ, ý thức của anh hướng về đâu?
-Về cái mới. Về việc phá vỡ sự cân bằng. Cân bằng trong thơ là chết.
-Anh có chịu ảnh hưởng của ai không và thi sĩ nào anh ngưỡng mộ nhất?
-Tôi bị ảnh hưởng bởi Văn Cao và Hoàng Cầm, hai thi sĩ trái ngược nhau. Nhưng tôi ngưỡng mộ Hàn Mặc Tử, thi sĩ đã lê tấm thân tàn tạ vào bất tử.

3. Là sinh viên của trường đại học thông tin liên lạc, mê âm nhạc, Nguyễn Thụy Kha vào bộ đội và trở thành chiến sĩ binh chủng thông tin ngày đất nước chiến tranh. Chính anh là người đã thiết kế và chỉ đạo thi công đường dây trần liên lạc xuyên Trường Sơn để quân ta đánh Buôn Mê Thuột.
  Yêu âm nhạc và thơ ca từ khi còn học phổ thông, nhưng bắt đầu con đường sáng tác bằng ca khúc, năm 1971 Nguyễn Thụy Kha đã có bài hát được phát trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam. Cuộc gặp gỡ với nhà thơ cùng đơn vị sớm thành danh là Anh Ngọc và một vài người nữa đã làm anh gắn bó với thơ hơn.
Từ chiến trường trở về, Nguyễn Thụy Kha vào học khoá đầu của trường Viết văn Nguyễn Du. Năm 1982 bài thơ Những giọt mưa đồng hành của anh được giải cuộc thi thơ báo Văn Nghệ. Năm 1990, Nguyễn Thụy Kha rời khỏi quân ngũ trở về làm một thường dân, vừa sáng tác thơ vừa viết báo, viết kịch bản phim, biên soạn sách âm nhạc... tự giát mỏng mình ra trên từng trang giấy.

Những đòi hỏi trong công việc của một cộng tác viên ăn lương nhiều tờ báo nổi tiếng qua các thời kỳ, cộng với khả năng lao động dồi dào và sự tài hoa thiên phú đã giúp Nguyễn Thụy Kha có được một số lượng tác phẩm khá phong phú bên cạnh những sáng tác thơ. Đó là những bộ phim chân dung và những cuốn văn xuôi bao gồm tiểu thuyết tư liệu, phê bình, tiểu luận, tạp văn.
Sự am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật, khả năng sưu tầm và bao quát tư liệu và một bút lực phóng khoáng đã đem lại thành công cho Nguyễn Thụy Kha trên địa hạt này. Những bộ phim về các nhà văn nhà thơ như Nguyễn Bỉnh Khiêm (Cây đại thụ toả bóng 500 năm), Nguyễn Huy Tưởng (Một người Hà Nội), Vũ Trọng Phụng (Chín năm và vĩnh cửu), Hoàng Cầm (Một điệu Kinh Bắc), Yến Lan (Một bến Mi Lăng)... hay những bài viết về Phan Khôi, Nhất Linh, Lê Văn Trương, Đinh Hùng... trong tập Bóng thế kỷ; đặc biệt là một loạt tiểu thuyết tư liệu về các nhạc sĩ được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh như Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Hoàng Việt, Huy Du... đã giúp người đọc, người xem hiểu rõ hơn về cuộc đời cũng như những cống hiến nghệ thuật của nhiều tên tuổi trong nền văn học nghệ thuật nước nhà. Anh đã được nhận giải thưởng cả trong  nước và quốc tế cho bộ phim về Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Thụy Kha nói mình là người có máu giang hồ.
Rượu, bia, gặp gỡ, lang thang, khi làm ăn, khi đàm đạo chuyện chữ nghĩa, rồi tranh cãi, ngợi khen, phán định... đủ cả. Cuối cùng thường là ngồi buồn. Người ít biết về anh có thể cho đó là một cuộc đi hoang và anh đang tiêu đi từng món cuộc đời mình. Còn người biết hơn một chút thì coi đó là một cuộc dấn thân đầy tính mặc định. Sự được thua, còn mất ra sao không rõ, chỉ biết rằng cái hồn thơ vừa lãng đãng mây mưa vừa hùng hồn đau đáu ấy đã được di dưỡng qua thời gian, qua những thăng trầm của cuộc sống:
Cháy thành lửa, tắt thành vuông cỏ
Chín muộn như không thể chín tự nhiên
Những người lính
                 những giọt máu xanh
chảy lặng lẽ trên thân hình bán đảo
                          
(Máu xanh)    
Cay và thơm tinh khiết
ớt xanh
Cái ngọn lửa màu lá biếc
Thiêu đốt anh giống một người tình
                                                (Ớt xanh)
Làm sao quen được hết người mặt đất
Em đi qua em đẹp dửng dưng
Nên anh cứ một mình thiên nhiên
Cứ âm thầm chồi tơ cành biếc
Uống cuộc đời tới chiều tà cạn kiệt
Ngã đã có đêm nâng                                         
                            (Một mình)
Hay nói bằng cái giọng chán đời nhưng thực ra là một người khát sống; tự ném mình vào gió bụi, vào những góc khuất, rồi lại tự mình “lộ sáng”; ky cóp góp nhặt nhưng cũng có lúc tung hê... cứ thế Nguyễn Thụy Kha sống và viết. Và những câu thơ của anh đã có được một hơi thở thật phóng khoáng, trẻ trung, giàu sinh lực.
                        - Một câu thơ thật hàm súc về bản thân, thưa anh?
                        - Một cái đáy không thể chạm tới.
   Hà Nội, ngày 31tháng 3 năm 2005
   N.L.N

(197/07-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".

  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.