AMBROSE BIERCE
Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.
Nhà văn Ambrose Bierce - Ảnh: internet
Hoàn cảnh gia đình có phần khiêm tốn, sống nhờ vào việc canh tác một mảnh đất nhỏ và chẳng phì nhiêu gì. Không có người nô lệ nào, họ không được xếp vào loại “những người khá giả nhất” trong làng xóm, nhưng họ vẫn là những người lương thiện, có giáo dục, lịch sự và đáng tôn trọng như những gia đình khác nếu không kể tới quyền lực sở hữu người nô lệ.
Ông Lassiter vốn nghiêm khắc đến mức thường xem sự tận tụy không tính toán như là bổn phận, và che giấu tính khí ân cần và thân thiết. Ông cứng cỏi như những người tử vì đạo, nhưng bên trong cái vỏ bọc đó ẩn giấu một kim loại quý hơn, có thể nóng chảy ở nhiệt độ thấp hơn, tuy nhiên không hề tô điểm hay làm mềm đi cái vẻ bên ngoài cứng rắn. Do tính di truyền, và cũng do môi trường sống, phần nào tính tình nghiêm khắc của ông cũng ảnh hưởng đến những thành viên khác trong gia đình. Nhà Lassiter, tuy không phải là chẳng có chút tình cảm gia đình nào, thực sự chỉ là thành trì của nghĩa vụ, và nghĩa vụ, - ôi, nghĩa vụ lạnh lùng như cái chết.
Khi cuộc nội chiến xảy ra, trong gia đình này, cũng như bao gia đình khác trong tiểu bang, bùng nổ những tình cảm đối nghịch. Người con trung thành với quân Liên bang, những người khác cương quyết chống lại. Sự chia rẽ bất hạnh này tạo ra một sự đau xót không chịu nổi trong gia đình, và khi đứa con, đứa em lầm lỗi rời nhà đi theo mục đích đã chọn là tham gia đội quân Liên bang, không một ai chìa tay ra bắt, không ai nói một lời từ giã, không một câu chúc lành nào dành cho anh trước khi anh ra đi đến một thế giới mà chưa biết số phận nào đang chờ đợi.
Hướng về Nashville, nơi quân của tướng Buell chiếm đóng, anh xin gia nhập ngay vào đơn vị đầu tiên gặp được, trung đoàn kỵ binh Kentucky, và tuần tự vượt qua những nấc thang trong binh nghiệp, từ binh nhì đến chiến sĩ kỵ binh từng trải. Một kỵ binh giỏi thực thụ là đàng khác, tuy là khi kể về mình anh không hề nhắc đến, mà chỉ do các đồng đội còn sống sót của anh nói lại thôi. Bởi Barr Lassiter đã đáp lại “Có mặt” khi viên trung sĩ tên gọi Thần Chết điểm danh.
Hai năm sau ngày nhập ngũ, trung đoàn của anh quay trở về nơi anh từ đó ra đi. Cả vùng quanh đó đều bị chiến tranh tàn phá nặng nề, do bị liên tục (và đồng thời) chiếm đóng bởi các lực lượng tham chiến, và một cuộc giao tranh đẫm máu đã xảy ra ngay cạnh nhà gia đình Lassiter. Những chuyện này chàng kỵ binh không hề hay biết.
![]() |
Minh họa: Nhím |
Về đóng quân gần nhà, anh mong ước được gặp lại cha mẹ và chị, hy vọng rằng đối với họ, cũng như với chính anh, sự thù hận bất thường thuở trước nay do thời gian và xa cách đã nguôi ngoai đi. Được phép nghỉ, anh vội lên đường vào buổi chiều cuối hạ, và khi vầng trăng tròn vừa ló dạng, anh đã đặt chân lên lối đi rải sỏi dẫn đến căn nhà nơi anh sinh ra.
Lính tráng thời chiến thường già đi rất nhanh, và với tuổi trẻ thì hai năm là một quãng thời gian khá dài. Barr Lassiter tưởng như mình đã già, và nghĩ là về nhà sẽ thấy khung cảnh đổ nát, hoang tàn. Thế nhưng, có vẻ như chẳng có gì thay đổi. Nhìn lại mỗi đồ vật thân thiết quen thuộc, anh thấy lòng xúc động vô cùng. Tim anh đập liên hồi, anh gần như nghẹt thở vì cảm xúc, cổ họng thấy đau rát. Anh vô tình rảo bước, hầu như là đang chạy, cái bóng dài của anh phải gắng hết sức mới giữ được vị trí bên cạnh anh.
Ngôi nhà không bật đèn, cửa để mở. Khi anh tiến gần tới, dừng bước để định thần, cha anh bước ra, đầu để trần đứng dưới ánh trăng. “Cha ơi!”, anh kêu to, lao tới trước, tay dang ra. “Cha ơi!”
Ông già nghiêm khắc nhìn thẳng mặt anh, đứng yên một lát rồi rút lui vào bên trong không nói không rằng. Thất vọng chán chường, nhục nhã, bị tổn thương không chịu nổi và suy sụp hẳn, người lính buông mình xuống chiếc ghế thô, tay run run ôm lấy đầu. Nhưng, không thể chịu như thế được, người lính thiện chiến không thể chấp nhận sự cự tuyệt như một thất bại. Anh đứng dậy đi vào nhà, đi thẳng tới gian “phòng khách”.
Gian phòng chỉ sáng lờ mờ nhờ cánh cửa sổ hướng đông không có màn che. Trên chiếc ghế đẩu thấp cạnh lò sưởi, là đồ gỗ duy nhất trong phòng, mẹ anh đang ngồi, chăm chú nhìn vào bếp lò đầy than đen và tro nguội. Anh lên tiếng nói với bà, nhẹ nhàng, ân cần và ngại ngùng, nhưng bà không trả lời, cũng không nhúc nhích, không có chút gì tỏ vẻ ngạc nhiên. Thực ra, có lẽ đã đủ thời gian để chồng bà báo tin đứa con tội lỗi trở về. Anh tới gần hơn và sắp nắm lấy cánh tay bà thì chị anh đi vào từ phòng bên cạnh, nhìn thẳng vào mặt anh, đi ngang qua anh không có vẻ đã nhận biết, rồi rời phòng bằng cánh cửa khuất sau lưng anh. Anh quay đầu lại để nhìn rõ người chị, khi chị đã đi khuất anh lại hướng nhìn về mẹ. Nhưng bà cũng bỏ đi khỏi nơi này.
Barr Lassiter sải chân đến cánh cửa mà anh đã bước qua để đi vào. Ánh trăng lung linh trên bãi cỏ như mặt biển gợn sóng. Hàng cây và những chiếc bóng đen của chúng lay động như có gió thổi. Con đường lát sỏi nhòe đi những đường viền trông có vẻ gập ghềnh và không an toàn để bước lên. Người lính trẻ nhận ra những ảo giác đó đều do nước mắt. Anh cảm nhận chúng trên má, và thấy chúng đang lóng lánh trên ngực áo. Anh rời khỏi căn nhà và quay trở về doanh trại.
Ngày hôm sau, không có chủ ý rõ rệt gì, không có cảm giác chính xác nào, anh lại tìm về ngôi nhà cũ lần nữa. Đi được nửa đường, anh gặp bạn cũ Bushrod Albro, bạn nồng nhiệt chào hỏi anh.
“Tôi về thăm nhà cũ đây,” anh nói. Bạn nhìn anh thật nhanh, nhưng không nói gì.
“Tôi biết là gia đình tôi không thay đổi gì, nhưng...”, anh nói tiếp.
“Có thay đổi đấy,” Albro ngắt lời, “mọi thứ đều thay đổi. Mình sẽ đi với bạn được không?” Vừa đi ta vừa nói chuyện.
Nhưng Albro chẳng nói gì.
Thay vì ngôi nhà, họ chỉ nhìn thấy những nền gạch cháy đen, bao quanh một khu vực những đống tro đã đông cứng với những vết lõm do nước mưa tạo thành.
Lassiter vô cùng kinh ngạc.
“Mình không biết nói với bạn thế nào đây”, Albro nói. “Trong trận đánh cách đây một năm, nhà bạn đã bị một quả bom của quân Liên bang thiêu rụi.”
“Vậy cả nhà mình - họ đâu cả rồi?”
“Trên thiên đàng, hy vọng vậy. Tất cả đều chết do quả bom đó.”
Việt Phương dịch từ nguyên bản tiếng Anh
(Nguồn: https://americanliterature.com)
(TCSH362/04-2019)
FRANZ KAFKA
L. TOLSTOY
Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.
THOMAS VINT
L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.
JOSHUA BROWN (Mỹ)
“Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”
RAY BRADBURY
Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.
Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.
JORGE LUIS BORGES
Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.
CLAUDE FARRÈRE
Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.
HERMANN HESSE
(Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)
Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.
Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.
ALEKSANDAR HEMON
Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy.
Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.
LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.
LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.
Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.
Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.
LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.
LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.
Nhự Chí Quyên là nhà văn ngoại sáu mươi, từng có tác phẩm những năm 1950. Truyện ngắn Thỏa nguyện (Như nguyện) của ông ca ngợi tấm lòng thương con của một bà mẹ công nhân, được coi là đặc sắc thời ấy.