Ba lần viếng cụ Nguyễn Du

16:16 16/04/2009
PHAN TÂM        (Kỷ niệm 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du 1765-2005)Tháng Hai 1994:Từ Vinh qua cầu Bến Thủy, rẽ trái độ mười cây nữa, đến xã Xuân Tiên (Tiên Điền), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.Khu đất cao ráo ở ngay đầu xã, bên bờ sông Lam, cạnh bến Giang Đình, là khu nhà cũ, khu lưu niệm Nguyễn Du.

Một chiếc khánh đá, ba tấm bia đá, một cột đá khắc bài vị Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du, ngôi miếu nhỏ có bài vị bằng đá “Thanh Hiên Nguyễn Tiên Sinh”, tức Nguyễn Du, một hàng cây quéo nghe nói ngày xưa dùng làm nơi buộc ngựa, nay gốc đã vừa người ôm, đó là những di vật còn lưu giữ được trong khu lưu niệm.
Hai bên cổng ra vào là hai tấm đá “Hạ mã” (xuống ngựa) chữ nổi còn rất rõ nét. Mấy trăm năm trước, đây hẳn là tòa Kim mã ngọc đường một đại gia quí tộc, vị Tể tướng đương nhiệm, khách vãng lai qua cổng xin mời xuống ngựa.
Nay quan gia không còn, ngựa xe vắng bóng, tấm bia đứng đó, khách thăm cũng xin trân trọng kính chào.
Đi theo bìa làng một đoạn nữa, đến mộ Nguyễn Du, nằm giữa nghĩa trang cuối cánh đồng cùng.

Ngày nhỏ, cha ôm trên võng, nghe thánh thót “Giọt sương treo nặng cành xuân la đà”, lớn lên, hơn 40 năm đọc Truyện Kiều, lòng hằng ao ước về thăm Tiên Điền, nay được đến nơi, ngã mũ trước Thiên Tài, xiết bao xúc cảm bồi hồi.
Cụ Nguyễn nằm đó, hẳn là mái tóc bạc phơ, xung quanh quây quần trăm họ.
Lưu niệm và lăng mộ Nguyễn Du, phong sương được vẻ thiên nhiên, không có cảnh sửa sang hoa chăm cỏ xén, vẻ giản dị, hình như không muốn áp đặt, không muốn chinh phục ai.

Đến với lưu niệm là những tấm lòng tha thiết, muốn đến để tận mắt thấy dòng sông Lam cuồn cuộn, cảm nhận cái khí thiêng của Đất Trời đã hun đúc nên một gia đình Trâm Anh thế phiệt vào bậc nhất Bắc Hà, qua bao thế hệ học hành và tu dưỡng, kết tụ cho dân tộc ta và cho nhân loại một thiên tài, một tâm hồn nhân đạo đẹp như gấm như hoa.
Khách nhìn cái nghiên mực của Nguyễn Du, nhìn những trang chữ nôm đã ố vàng, ngắm bức họa “Kim - Kiều thang mây ròn bước”, rồi im lặng mà đón lấy cái phút giây giao cảm.
                        ...Dường như trên nóc bên thềm,
                        Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng...
Tố Như ơi, người còn sống mãi!

Tháng Ba 2002:
Tám năm, trở lại Nghi Xuân.
Được biết di tích Nguyễn Du được nhà nước đầu tư tôn tạo, đúc tượng, xây lăng, bảng vàng bia đá.
Báo đăng công trình đã hoàn thành. Đến nơi, ngước trông toà rộng dẫy dài, định vào tham quan, mà cửa đóng then cài, bày biện chưa xong, chưa mở cửa.
Thế là xăm xăm ra cánh đồng Cùng.

Mộ Nguyễn Du năm xưa Gra-ni-tô, nay ốp đá đen, trầm mặc trong sương khói.
Bức tường cũ không còn, thay bằng rào sắt thành một khuôn viên nhỏ giữa nghĩa trang nhân dân.
Thắp nén hương thơm. Bồi hồi đứng lặng giờ lâu.
Bấy giờ mới quay vào Nhà Bia.
Tấm đá quả là lớn, như bia Tiến sĩ ở Văn Miếu Thăng Long.
Mặt trước bốn hàng chữ:
                        “Danh nhân văn hoá thế giới
                        Đại thi hào
                        Nguyễn Du
                        1765 - 1820”.

Thế giới mang để lên đầu, không có phần dân tộc.
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa: Thi hào là nhà thơ lớn. Chẳng cần thêm chữ “đại”.
Nước ta xưa nay chỉ mới tôn xưng Nguyễn Du là thi hào, thi hào dân tộc. Chỉ có giương cao ngọn cờ dân tộc, đậm đà bản sắc dân tộc thì văn hoá mới đi ra được thế giới, mới thành ra của thế giới.
Mặt trước đã vậy, mặt sau lại trống trơn.
Thông lệ văn hiến của ta, khi lập bia, ngoài phần đề danh, còn khắc bài văn bia (bi kí) soạn thảo kĩ càng, ý tứ sâu xa, lưu truyền hậu thế.
Bác Hồ thăm Côn Sơn, chăm chú đọc văn bia, như trò chuyện cùng người trong cuộc.

Bia Nguyễn Du có đình mái che, nói chi trăm năm trong cõi người ta, mà còn bền lâu mãi mãi, thật là quí giá, hiềm vì không văn không kí, hoá nên bia chẳng ra bia, mộ chí không ra mộ chí, mà trông tựa như một tấm các bằng đá (a stone card) chỉ thiếu có số điện thoại và phần dịch ra tiếng Anh.
Anh “các đá” như một chàng khổng lồ mang trên mình lượng thông tin tí hon soạn thảo vội vàng, lại đứng ngay trên Mảnh - Đất - Văn cạnh lăng mộ được che phủ bằng hơn 3000 câu tuyệt hảo, giống như anh trọc phú nọ đứng bên cạnh Anh- Stanh trong truyện Tiếu lâm Anh.

Tháng hai 2003:
Sau Thượng Nguyên Quí Mùi, tôi lại vào huyện Nghi Xuân.
Nguyễn Du và truyện Kiều là nguồn cảm hứng luôn luôn vẫy gọi.
Đến nơi, di tích Nguyễn Du vẫn thâm nghiêm kín cổng cao tường, chưa mở cửa. Biết làm sao được. Liền bảo cháu xuống xe, dắt bộ qua cái biển “Hạ Mã”, rồi ra khu mộ.

Mùa thiều quang, cánh đồng Ruộng Tiên, lúa non mơn mởn một màu, xanh và thơm, thật là dễ chịu.
Cảnh cũ người xưa, hoa đào năm ngoái.
Hai bác cháu ngồi bên mộ, trong cảm giác thiêng liêng, man mác được kề cận thi hào.

Cụ Nguyễn Du vốn kín đáo, đến vua Gia Long hỏi, còn chẳng muốn nói. Tìm hiểu Nguyễn Du, phê bình Truyện Kiều, khen và chê, hàng trăm năm nay, các đại gia uyên bác, từ Phan Thạch Sơ, Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm đến Đào Duy Anh, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu... viết ra, có lẽ đã đủ hết rồi.

Riêng Đặng Thai Mai lại cho rằng, coi Truyện Kiều như là một sinh mệnh, chỉ nên cảm nhận thẩm thấu cái hay cái đẹp, mà không nên phân tích mổ xẻ. Kiểu tiếp cận này có cái hay của nó. Nhiều người thường đọc một đoạn Kiều, ngâm hay là hát cũng được, thả hết tâm hồn vào tác phẩm, liền được cảm giác lâng lâng, rũ hết ưu tư, thấy bình yên thư thái. Đó là nghệ thuật liệu pháp, hiệu nghiệm và dễ dàng hơn là ngồi thiền. Đó là kì diệu của thiên tài Nguyễn Du, của văn chương Truyện Kiều.
Nguyễn Du nằm đây. Xa kia, bên Bến Thủy, trên rú Quyết, có di tích Nguyễn Huệ, con người trác việt cùng thời. Nguyễn Huệ hơn Nguyễn Du 12 tuổi. Khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh, thì cụ Tiên Điền mới 24 tuổi, đang là một võ quan đồn trú ở Thái Nguyên. Nguyễn Du muốn cứu nhà Lê, không được, lại âm mưu chống Tây Sơn, không thành, rồi định trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh, bị quân Tây Sơn bắt được, may không giết.

Trên sân khấu lịch sử, hai người đứng ở hai cực, dẫu bất tương đồng, rốt cuộc đều thành danh, nhờ hòa vào trong dân tộc. Một người như lửa, gươm vung lên là chảy vàng chảy đá, đánh tan giặc ngoại xâm, thành Anh hùng dân tộc.
Một người như nước, lặng lẽ quên mình mà thấm đến mọi kiếp nhân sinh.
Trong lịch sử dân tộc ta, từng xuất hiện vài ba thanh gươm Nguyễn Huệ.
Mấy ngàn năm lập nước, mới có một ngọn bút Nguyễn Du. 3254 câu Kiều, hơn hai vạn hai ngàn chữ, diễn tả mọi cảnh ngộ cuộc đời, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa nho gia phong kiến lại vừa như “hiện đại thị trường”, dài hơi mà du dương hoa lệ còn hơn cả Thơ Đường, éo le nhiều tình tiết mà khúc chiết trong sáng như văn học cổ điển Pháp.


Đọc Truyện Kiều, người Việt Nam ai cũng thấy như được cảm thông, như có phần mình trong đó và chợt nhận ra, biết mấy tự hào, rằng Việt văn, quốc văn, tiếng Việt của ta lại giàu đẹp, quí giá đến thế.
Công lao đó của cụ Nguyễn có tầm dân tộc.
Nguyễn Du, anh hùng dân tộc về văn hoá.
Nguyễn Huệ, anh hùng dân tộc về quân sự.
Tượng đài Quang Trung đẹp nhất là chiến công một bảy tám chín (1789) trùng hợp với cách mạng Pháp.

Lăng Nguyễn Du là Truyện Kiều.
Bê tông, đá rồi đều xám lại, lăng và tượng trên mãi mãi xanh tươi.
Người ta thường nói đến những “hạn chế lịch sử” của Nguyễn Du.
Nếu như tư tưởng định mệnh là tiêu cực, thì hành thiện, tu dưỡng (chữ Tâm) lại là tích cực.

P.T
(201/11-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • CHÍ CÔNGNghe xã ấy chuẩn bị gặt chiêm, làm được nghĩa vụ lương thực, thuế nông nghiệp và hè thu 1983 sớm hơn các nơi khác, tôi cùng hai cán bộ cơ quan đi về đấy rút kinh nghiệm để có kế hoạch tuyên truyền sát thực tế.

  • VĨNH QUYỀNXe vượt qua một khúc quanh, màu lúa xanh rờn đột ngột hiện ra phía trước. Chúng tôi vừa để lại đằng sau thành phố Huế cổ kính. Hai ngày qua, chúng tôi đã đi thăm và làm việc ở đấy.

  • ĐẶNG THỊ HẠNH                 Tùy bútVề cái thị xã cỏn con mà chúng tôi đến vào cuối đông năm ấy, ký ức tôi giữ lại còn bị giới hạn hơn nữa, do bao giờ không gian về một nơi nào đó ta giữ lại từ ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, cuối cùng cứ hẹp dần lại để chỉ còn rút lại ở không gian ta quen thuộc nhất.

  • PHAN THỊ THU QUỲCách đây trên 80 năm, trên con đường làng ấy, đến tết, dưới hai bụi tre Là Ngà mát mẻ người ta thường đánh bài chòi. Một công tử họ Phan ở làng Đốc Sơ làm trong triều nội với chức Hàn lâm viện Biên tu, và một thiếu nữ họ Bùi con nhà giàu làng Đốc Bưu, ngồi bên chòi thành hai phe. Hễ công tử đi một con bài thì thiếu nữ trúng và ngược lại.

  • HÀ THÀNHChúng tôi chuẩn bị hành trang theo đoàn công tác đặc biệt của tỉnh Thừa Thiên Huế, sang làm việc với tỉnh Xa-ra-van nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Để chuẩn bị đón nhận các hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh ở chiến trường Lào về nước.

  • ĐỖ NGỌC YÊN(Kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế)Vào một sáng đầu thu, tôi tìm đến khu tập thể Trung Tự, Hà Nội, nơi nhà văn Bùi Hiển đang sống cùng con cháu. Ông là một trong số những người đầu tiên tham gia thành lập Phân hội Văn nghệ Thừa Thiên tháng 10 năm 1950, tổ chức tiền thân của Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế hiện nay.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Hồi ký(Kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế)

  • VŨ ĐÌNH HÒE       Trích đoạn trong cuốn Hồi ký "Pháp quyền - Nhân nghĩa Hồ Chí Minh".

  • THÁI KIM LAN       Viết tặng Lisa Eder

  • PHẠM NGỌC CẢNH                        Bút ký Sau này tôi mới biết cụ Đỗ Tất Lợi. Dành dụm mãi tiền sinh hoạt phí của một anh lính, tôi ra cửa hàng sách quốc văn. Mua một cuốn Nam dược... về đặt đầu giường như cái gối. Gối lên những kỷ niệm về cây, về lá để nhớ thương bà. Những trang viết về cây ngải cứu, cây thạch xương bồ, cây bồ công anh hay như những bài thơ. Những trang viết về củ nghệ, củ gừng, quả mướp đắng, trái me chua phúc dày như kinh Phật.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOKim Mai thân nhớ,Ngày giáp Tết, tôi về miền thơ ấu. Cây đa cổ thụ, ngôi miếu rêu phong vẫn đứng giữa đồng quê như đợi như chờ từ vạn kỷ.

  • NGUYỄN THẾ TƯỜNG                               Bút ký Dải đất Việt khi chạy dài vào tới miền Trung thì xép lại trong một khúc eo. Một bên là dãy Trường Sơn hùng vĩ che chắn. Một bên là biển rộng sóng vỗ bờ.

  • NINH GIANG THU CÚC                         Ghi chép Thuở còn bé tí tẹo tôi thường được người lớn kể cho nghe chuyện một anh chồng Cọp đi rước Cô mụ (nữ hộ sinh) cho chị vợ đang đau bụng đẻ.

  • TRÍ NHÂN       Truyện kýNăm 1954, đa số cán bộ, đảng viên ở chiến trường miền đều tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chỉ có một số ít cán bộ, đảng viên cốt cán được bố trí ở lại trong vùng tạm chiếm để xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức lực lượng đề phòng địch phá hoại Hiệp định đình chiến.

  • NHẤT LÂM         Bút ký Năm 1948, từ đồng bằng huyện Triệu Phong, chúng tôi vượt quốc lộ 1A lên một xã miền núi, xã Phong An. Hồi ấy rừng bạt ngàn vô tận, xã Phong An chỉ cách thị xã Quảng Trị chừng mười cây số, do núi rừng ngút ngàn, mà trở nên xa vời như xứ sở lạ lùng ngàn dặm. Chúng tôi bảo nhau: đề phòng cọp từ bụi rậm vồ tươi như đùa. Nhìn núi cao và cây rừng trùng điệp, con người trở nên hồi hộp, lo sợ mơ hồ; lại đi ban đêm, đi lần đầu giữa rừng, sợ là tất nhiên.

  • HƯƠNG GIANG(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • HOÀI NGUYÊNTiếng tiêu trầm của nỗi cô đơn...

  • TRUNG SƠNTrong số những con vật gần gũi với con người, con mèo không đứng vị trí thứ nhất thì cũng nhì. Chỉ riêng việc chú mèo có đặc quyền thỉnh thoảng "chung chăn" với con người lúc trời mưa rét cũng đủ để xếp chú đứng ở thứ bậc cao trong mối quan hệ với con người. Cũng vì vậy, trong thành ngữ và tục ngữ có nhiều câu nói đến con mèo ngẫm ra khá thú vị.

  • ĐOÀN MINH TUẤN                     Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.

  • NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".