Anh hùng di hận

14:23 09/12/2008
NGUYỄN XUÂN HOÀNGĐêm dường như đã xuống từ lâu lắm. Chỉ nghe lao xao tiếng nước suối chảy như một khúc đàn cầm. Nguyễn ngồi một mình trong thư phòng. Đôi cánh tay dài quá gối để hờ hững lên thành ghế tựa được làm từ mây rừng Côn Sơn. Ông hướng đôi mắt sâu thẳm nhìn xoáy vào bóng rừng chập chùng một màu đen nhức mắt. Xa lắc trên cao vầng trăng thượng huyền nhỏ và mỏng như một nét mày duyên nợ.

Chỉ đến ngày lui về đây ẩn cư, xa lánh hẳn chốn phù hoa, không còn nữa gánh nặng công hầu khanh tướng, Nguyễn mới thấy mình được sống thỏa thích với hạc nội mây ngàn. Mùa thu, Nguyễn đi hái măng trúc. Trúc rừng Côn Sơn nhiều vô kể. Một chiếc giỏ mây và chú tiểu đồng, hai thầy trò lên đường vào núi từ sáng sớm. Rừng Côn Sơn mùa thu bàng bạc lá vàng, rơi dày như thảm nệm chốn nội cung. Hài cỏ đi trên thảm lá, lòng Nguyễn ngây ngất như ngày nhỏ được cùng ông ngoại đi xem lễ hội Đền Bà. Tiết lập đông, Nguyễn xắn tay cùng người nhà ủ giá. Những cọng giá trắng ngần trong bữa ăn đạm bạc làm Nguyễn nhớ quá chừng cái đận mười năm ở góc thành Đông Quan. Hồi ấy, Nguyễn rất nghèo nhưng chí lớn, đã trải qua nhiều ba đào, song vẫn còn một sức trẻ mạnh mẽ, cương liệt. Chính những năm tháng ấy đã hoài nuôi giấc mộng kinh bang tế thế, ấp ủ trong lòng Nguyễn một kế sách lớn long trời lở đất sau này. Đạt đến đỉnh cao của quyền lực, được vua ân sủng và bao kẻ ghen ghét tị hiềm, nhưng Nguyễn biết lòng mình không ưa phù hoa, chí hướng của Nguyễn không nhằm vào cái đích vinh thân phì gia như cách nghĩ của phường giá áo túi cơm. Ừ mà làm sao con chim sâu chim sẻ thấy được đường bay của chim hồng chim hộc. Vì trước sau, Nguyễn chỉ muốn là một kẻ sĩ bần hàn. Sinh ra có tài là để giúp đời và quyết không để cái mũ nhà nho đánh lừa mình. Mùa xuân, Nguyễn thường đi tắm hồ sen. Vùng vẫy như trẻ thơ giữa lòng hồ rộng thênh thang, sen trắng sen hồng tỏa hương ngan ngát, Nguyễn thấy lòng mình thơ thới.

Chỉ thỉnh thoảng lòng Nguyễn lại oặn lên một cơn đau. Nguyễn cố quên đi tất lòng ưu ái cũ, cố quên đi là con đỏ đang còn cần Nguyễn, là lẽ ra Nguyễn phải ở giữa dòng chính sự, không được từ bỏ con thuyền vận mệnh của dân tộc. Về Côn Sơn hưởng nhàn có phải là Nguyễn đã làm một cuộc chạy trốn mà không bao giờ Nguyễn tha thứ cho mình. Nhưng làm sao Nguyễn có thể sống giữa một đám quần thần gian xảo, lấy xu nịnh làm hoạn lộ, lấy tham tàn mưu xảo làm lẽ sống ở đời. Nguyễn khác họ nhiều quá, cái đám kênh kênh mũ mão cân đai ấy làm Nguyễn tởm lợm đến tận cổ. Thôi thì Nguyễn về đây tắm ao sen, âu cũng là để giữ mình tránh xa vòng gươm đao oan nghiệt. Sự thông tuệ đưa Nguyễn về Côn Sơn để sống nốt những ngày còn lại, nhưng tấc lòng son vẫn không thôi lên án, dày xéo, mỉa mai Nguyễn. Thảo bút hùng văn một thời, Nguyễn chưa bao giờ là kẻ hèn, nhưng người quân tử phải sống theo thời và vận, nếu muốn còn giữ mệnh để phụng sự. Như là thế giặc lớn thì phải tạm lui, muốn lấy ít mà địch nhiều thì phải rèn sâu thâm kế, bền lâu gốc rễ.

Từ ngày về Côn Sơn, Nguyễn bắt đầu hay rượu. Sở thích của Nguyễn là ẩm thứ rượu gạo ngâm với hoa cúc cuối mùa. Màu rượu khi rót ra cốc nhỏ sóng sánh vàng như màu mật ong rừng. Chiêu từng ngụm nhỏ, Nguyễn chơi cờ một mình, một mình đi cả hai phe, mồ hôi mướt vai áo Nguyễn. Mới ngày nào Nguyễn một mình tự thảo hùng thư, đánh giặc bằng ngòi bút, hùng tâm tráng khí ngất trời, khi dụ hàng Vương Thông, khi răn đe Phương Chính, trọng nhân nghĩa mà khinh quyền mưu. Thư viết gửi giặc ở thế yếu mà không bỉ, ở thế thắng mà không kiêu, khi mềm như nước, khi cứng như đá, trọng ý, trọng lời, bóc trần giã tâm của giặc, khiến giặc hoảng sợ thất bại từ trong tư tưởng. Ôi! những ngày tháng ấy, Nguyễn đã dốc hết tài trí giúp đời, thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Nguyễn không hề tiếc nuối một chút nào cái chốn phồn hoa mà Nguyễn đã quay lưng. Tài trí Nguyễn quá đủ để phiếm lượng cái hư vô bèo bọt của áo mão cân đai, lưng không uốn lộc nên từ. Nguyễn dứt áo từ quan sẽ rất nhẹ nhàng nếu như không có tấc lòng ưu ái cũ, và nếu như không có cuộc gặp gỡ định mệnh với người đẹp Thị Lộ.

Năm ấy. Nguyễn đã ngoài năm mươi, được vua ban cho quốc tính, ở đỉnh cao của danh vọng. Chiều ấy, làm việc ở tòa Tam tri quán sự, Nguyễn thấy ruột nóng như lửa đốt. Vốn giỏi Thái ất thần kinh, Nguyễn bấm độn thấy sao đào hoa chiếu mệnh mình đã lạc vào Cung Hằng. Nguyễn rùng mình sợ hãi lẽ nào có một nhân duyên đang được tiền định. Lòng rối bời, Nguyễn cởi chiếc áo tam phẩm nặng nề vắt lên ghế ngồi, đánh chiếc áo lụa trắng, ông đi về phía phố Dâm Đàm, nằm ven hồ. Và ở đây, ông đã gặp nàng.

Mười sáu tuổi, Thị Lộ đẹp rực rỡ, nàng như một bông hoa trắng muốt được ném xuống hạ giới này. Cố giữ vẻ mặt bình thản, nhưng Nguyễn biết trái tim mình đang đập mạnh, hơi thở gấp gáp, mạch máu ở thái dương ông dồn lên giần giật buốt nhức. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, Nguyễn biết nàng đã là của ông, ông không thể thiếu nàng và nàng sẽ đi cùng ông trong cuộc tử sinh này. Nguyễn chưa từng biết ái tình, cả cuộc đời mình ông đã vắt kiệt cho vận mệnh dân tộc. Cái điều mà ông gọi rất giản dị rằng ăn lộc thì phải đền ơn kẻ cấy cày. Lần đầu tiên trái tim băng giá của Nguyễn tháo bỏ những hạt cườm lóng lánh đạo đức nho giáo. Ông đã qui hàng trước đôi mắt ngây thơ với ánh nhìn trong vắt của nàng, trước làn da trắng ngần và đôi môi đỏ như một nụ hồng mỏng manh. Rồi mái tóc đen như màu gỗ mun uy nghiêm. Chỉ có đôi bàn chân của nàng hơi to, nhưng với Nguyễn điều đó không hề gì. Ông thấy mình bị kích thích dữ dội bởi đôi bàn chân ấy. Nó vững chãi kỳ lạ như là không phải nàng đã đứng bằng đôi bàn chân thô kệch, đã đon đả chào mời ông mua một đôi chiếu gon với chút đùa cợt phạm thượng, và mùi mồ hôi con gái như tính hương làm lay động lòng ông.

Phút giây tiền định ấy đã gắn liền hai con người, hai thân mệnh mà về sau lịch sử không bao giờ phải hối tiếc.
Thị Lộ thông minh kỳ lạ, nàng hiểu ông như thể chính là ông vậy. Không bao giờ Nguyễn phải diễn đạt một điều gì đó bằng lời nói. Anh mắt của ông đã được nàng đón nhận và hiểu còn nhanh hơn. Ông hiểu không phải là cái đẹp đoan trinh của nàng đã quyến rũ ông mà điều gì đó rất u uẩn trong đôi mắt của nàng đã cuốn hút ông. Nó như một ma lực kéo ông run rẩy đi về phía nàng, buột môi ông phải nói với nàng những lời vô nghĩa, những lời nói mà khối óc uyên bác của ông chưa từng biết đến, chỉ có trái tim là hiểu vì sao như vậy. Nguyễn như trẻ ra từ khi ông gặp nàng. Ông bình tĩnh đón nhận hạnh phúc như là ông sẽ đón nhận sau đó một định mệnh oan nghiệt. Và chính trên chiếc chiếu gon của nàng, Nguyễn đã nếm trải một niềm hạnh phúc kỳ dị, những khoái cảm dâng trào xen lẫn một nỗi hiu quạnh, nó khiến ông ứa nước mắt, giọt nước mắt của khách anh hùng biết ơn nàng. Đó là giọt nước mắt dự cảm cho một biệt ly. Đắm đuối ngắm khuôn ngực trần của nàng trễ nãi lụa là giữa đám chăn gối bề bộn, Nguyễn mơ hồ nghe có tiếng trống trận ầm vang, người ông nóng rực như một khối than đỏ khao khát đốt cháy hình hài tuyệt diễm của nàng...

Đêm đã khuya.
Nguyễn mệt mỏi gạt bàn cờ sang một bên.
Ông uống thêm một chung lớn rượu cúc nữa. Tiếng vượn hú từ suối Côn Sơn vọng lại làm đau nhói lòng ông. Nguyễn nhớ nàng ray rứt. Có phải là đêm cuối cùng trước khi lai kinh vâng mệnh vua, nàng đã ngồi đây trên chiếc ghế mây nhỏ này, đối diện cùng ông. Nhỏ nhắn trong chiếc áo lụa mỏng để lồ lộ khuôn ngực trần, Thị Lộ vẫn đẹp như ngày họ gặp nhau ở phố Dâm Đàm. Duy có đôi mắt của nàng u uẩn hơn và trên mái tóc đen dày đã lớm chớm vài sợi bạc. Nguyễn im lặng. Nỗi buồn của ông đã đanh cứng, vón cục lại từ khi nàng vào cung. Ông mừng rỡ như con trẻ khi nàng trở về thăm ông, rồi ra đi nàng để lại cho ông một khối tương tư. Nguyễn buồn cười khi nhận ra tình yêu mà ông dành cho nàng quá ư sâu nặng. Mỗi bận nàng ra đi, ông quay quắt và trống rỗng nhiều tháng trời. Gió lay những tàu lá chuối xanh mướt dưới ánh trắng đêm Côn Sơn làm lòng ông chết điếng. Đêm nào, Nguyễn cũng ngồi đó uống rượu một mình, ngắm chiếc bóng gầy trên vách mà nhớ nàng khôn nguôi “Tình thư một bức phong còn kín. Gió đâu đây gượng mở xem”. Nguyễn làm bài thơ thất tình duy nhất trong cuộc đời mình rồi ông nhếch mép cười ngày sau hậu thế nếu còn đọc nó sẽ thấy rằng ông quá đa cảm nhưng sẽ hiểu ông nhiều hơn.

Và lúc này, Thị Lộ đang ở bên ông. Tính hương từ người nàng tỏa ra khêu gợi và ấm áp. Trực giác báo cho Nguyễn biết có thể đây là lần cuối cùng họ gặp nhau. Dường như Thị Lộ cũng linh cảm được điều ấy. Nàng im lặng như Nguyễn, chỉ có đôi mắt sâu vời vợi dấu kín một nỗi sầu thảm. Chưa bao giờ Nguyễn thấy Thị Lộ cuồng nhiệt đến như vậy. Nàng ập lên người ông, bất ngờ như một đợt triều dâng, cuốn ông xoáy vào mê lộ. Nguyễn nghe tiếng vải lụa sột soạt. Ông chậm rãi và cốt cách đi sâu vào người nàng. Nỗi cô độc đá núi gặp phút bừng dậy của đam mê đã làm sống lại trong Nguyễn cơn khát chiếm hữu mụ mị. Ông áp sát hơn nữa vào người nàng, đưa đôi bàn tay với những chiếc ngón tay dài kỳ dị ôm lấy gương mặt trái xoan ngại ngần. Nàng cười như khuyến khích ông, khuôn ngực trần với đôi nhũ hoa thơm màu mật ong lóe sáng trong đêm tối...

Họ còn gặp nhau một lần nữa.
Đó là ngày mười chín tháng chín năm một ngàn bốn trăm bốn mươi hai. Ngày kết thúc vụ án Lệ Chi Viên oan nghiệt. Nguyễn lúc này đã bước sang tuổi sáu hai. Mấy tháng cầm cố và tra khảo đã làm Nguyễn gầy đi rất nhiều. Duy vầng trán vẫn cứ rộng và vuông vức một cách ngạo nghễ. Phía dưới vầng trán đồ sộ xa thư ấy là một đôi mắt sáng quắc. Đám quan lại xu nịnh mà ngày thường Nguyễn vẫn xem là những con kênh kênh thối tha không bẻ gãy được ý chí của Nguyễn. Không ai có thể kết tội được Nguyễn. Vì đơn giản là Nguyễn vô tội. Và hơn nữa Nguyễn là một bậc kỳ tài mà mấy trăm năm mới có được một người.
Người ta kể rằng trước giờ chết, Nguyễn vẫn còn cười với nàng. Đôi mắt sáng nheo lại với ánh nhìn tràn ngập yêu thương. Đó là lần gặp nhau cuối cùng trước khi Nguyễn và nàng, cả hai cùng trở về cát bụi. Năm ấy, Nguyễn vừa bước sang tuổi sáu hai, còn nàng vừa tròn hai mươi tám...
 N.X.H

(nguồn: TCSH số 208 - 06 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.