HERMANN HESSE
(Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)
Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.
Ảnh: internet
Ziegler luôn luôn giống những con người như thế về mọi thứ và luôn luôn làm tất cả những gì mà họ làm. Anh không phải là người bất tài, nhưng cũng không có tài, anh ta thích tiền và thú vui, thích mặc quần áo đẹp và cũng e sợ như phần lớn mọi người: cuộc sống và hành động của anh bị chi phối qua những khao khát và ước vọng ít hơn so với qua những sự ngăn cấm, qua nỗi sợ hãi trước sự trừng phạt. Anh cũng có một số đức tính tốt và nói chung là một người dễ mến bình thường mà chính bản thân anh cũng thấy mình rất đáng yêu và quan trọng. Anh coi mình là một con người như bất cứ người nào trong khi anh chỉ là một cá thể, và nhìn thấy tâm điểm của mọi người trong con người mình, trong số phận của mình như bất kỳ ai. Anh chả bao giờ hoài nghi, và nếu các sự việc trái với nhân sinh quan của anh thì anh chỉ nhắm mắt tỏ ý không không tán thành.
Là người thức thời, ngoài việc rất quý trọng đồng tiền Ziegler còn rất coi trọng sức mạnh của khoa học. Thực ra, anh chẳng biết nói khoa học là gì, tuy nhiên anh nghĩ đến cái gì đó như phép thống kê và cũng nghĩ một chút đến vi khuẩn học. Có lẽ anh biết nhà nước dành bao nhiêu tiền và danh dự cho khoa học. Anh đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu ung thư, vì cha anh chết vì bệnh này, và Ziegler nhận định, nền khoa học phát triển ở trình độ cao ngày nay sẽ không cho phép điều ấy một ngày nào đó xảy ra đối với anh.
Bề ngoài Ziegler nổi bật qua việc cố gắng mặc thứ gì đó vượt quá khả năng tài chính của mình, luôn hợp mốt của năm. Đương nhiên anh coi khinh những mốt của quý và của tháng như là sự đua đòi ngu ngốc vì vượt quá nhiều khả năng của anh. Anh chú trọng nhiều đến tư cách, dám chửi cấp trên, chửi chính quyền cùng với những người ngang hàng với mình và ở những nơi an toàn. Có lẽ tôi đang mô tả quá lâu về con người này. Nhưng Ziegler thực sự là một người trẻ hấp dẫn, và chúng tôi đã mất đi nhiều thứ ở anh. Vì anh đã gặp phải kết cục chóng vánh và lạ lùng, trái với những dự định và những niềm hy vọng chính đáng của anh.
Không lâu sau khi Ziegler đến ở thành phố của chúng tôi, một hôm anh quyết định tổ chức cho mình một ngày chủ nhật vui vẻ. Anh chưa kết thân với ai và chưa gia nhập hội nào vì còn đang do dự. Có thể đó là tai họa của anh. Thật không may khi người ta chỉ có một mình. Vì vậy Ziegler buộc phải nghĩ đến các danh lam thắng cảnh của thành phố mà anh đã dò hỏi kĩ lưỡng. Và sau khi kiểm tra cẩn thận anh quyết định đi chơi ở Bảo tàng lịch sử và ở vườn thú. Vào các buổi sáng chủ nhật thì bảo tàng mở cửa miễn phí, còn vườn thú thì giảm giá vé tham quan vào buổi chiều.
Trong bộ comple mới có cúc bọc nỉ mà anh rất thích Ziegler đi đến Bảo tàng lịch sử vào chủ nhật. Anh mang theo chiếc ba toong mảnh mai của mình, một chiếc ba toong bốn cạnh, được đánh véc ni màu đỏ mang lại cho anh phong thái đĩnh đạc và sự sang trọng, nhưng anh cảm thấy rất khó chịu khi bị người gác cửa thu giữ trước khi anh đi vào các phòng trưng bày của bảo tàng.
Ở trong các phòng rộng người ta có thể xem đủ thứ, và Ziegler, một người ngoan đạo, vô cùng khâm phục nền khoa học toàn năng cũng đang chứng tỏ sự xác thực đáng kinh ngạc của nó ở đây, khi anh tự tìm hiểu được các thông tin về nó qua những sự ghi chép cẩn thận ở các tủ trưng bày hiện vật. Những món đồ cũ như các chìa khóa cổng han gỉ, những cái kiềng đeo cổ màu xanh gỉ đồng bị gãy và những thứ tương tự mang lại cho Ziegler một sự thích thú lạ thường. Điều tuyệt vời là những người làm khoa học quan tâm đến tất cả mọi thứ khi họ am hiểu tất cả và ghi chép lại. Ziegler nghĩ, chắc chắn chẳng bao lâu nữa khoa học sẽ loại bỏ được bệnh ung thư và có thể là cả cái chết nữa.
Trong phòng trưng bày thứ hai Ziegler thấy có một cái tủ kính, bề mặt của nó phản chiếu rất rõ, nên Ziegler có thể đứng lại một lát để ngắm bộ comple, ngắm kiểu tóc, ngắm cổ áo, ngắm chiếc quần là li thẳng tắp của mình, kiểm tra xem cà vạt có còn được thắt ngay ngắn hay không với sự cẩn thận và mãn nguyện. Anh hít thở thật mạnh, vui vẻ bước tiếp và chăm chú ngắm nghía một vài sản phẩm của những thợ chạm khắc gỗ thời xưa. Anh thầm khen những người thợ tài hoa đã tạo ra những sản phẩm tinh xảo này. Anh cũng chiêm ngưỡng một cái đồng hồ đứng cổ có những bức tượng nhỏ làm bằng ngà voi đang nhảy điệu mơnuet khi điểm giờ và hết sức khâm phục những người thợ đã làm ra nó. Sau đó Ziegler cảm thấy bắt đầu hơi chán với việc đi tham quan, anh ngáp dài và liên tục rút chiếc đồng hồ bỏ túi của mình ra ngắm nghía, có lẽ anh muốn khoe nó với mọi người, nó được làm bằng vàng và là một món đồ thừa kế từ cha anh.
Ziegler thấy mình vẫn còn nhiều thời gian cho đến lúc ăn trưa nên anh đi vào một phòng trưng bày khác, nơi có thể khơi dậy lại sự tò mò của anh. Tại đây người ta trưng bày các đồ đạc của sự mê tín dị đoan thời trung cổ, những quyển sách ma thuật, những cái bùa, trang phục phù thủy và ở trong một góc phòng có cả một xưởng giả kim thuật với lò luyện, những chiếc cối, những chiếc cốc phình bụng, những chiếc bàng quang lợn khô đét, các ống bệ và nhiều thứ khác. Góc phòng này được ngăn cách bởi một dây thừng bằng len, ở đó còn có một cái bảng để dòng chữ “Cấm sờ vào hiện vật”. Nhưng vì chỉ có một mình anh ở trong phòng nên anh không ngần ngại với tay qua sợi dây thừng và sờ vào một vài thứ trong số những đồ vật ngồ ngộ. Anh đã nghe nói và đã đọc về thời trung cổ và sự mê tín dị đoan đến tức cười ở thời đó; anh không thể hiểu được, làm sao con người thuở ấy lại có thể làm việc với những dụng cụ nực cười như vậy, và tại sao người ta không làm một việc đơn giản là cấm toàn bộ những trò quỷ thuật và các dụng cụ đó. Tuy nhiên cũng từ giả kim thuật mà môn hóa học rất hữu ích ra đời. Chúa ơi! Thật lạ là người ta nghĩ rằng có thể những chiếc lò nấu kim loại của nhà giả kim thuật và toàn bộ món đồ ma thuật nực cười kia đã thực sự cần thiết, vì nếu không có những thứ đó thì ngày nay sẽ không có thuốc aspirin và bom ngạt!
Ziegler vô tư cầm trên tay một viên nhỏ màu đen, khô kiệt, nhẹ bẫng, hơi giống một viên thuốc, vân vê nó và vừa mới định đặt nó xuống thì anh nghe thấy tiếng chân người ở phía sau mình. Anh quay người lại, nhìn thấy một vị khách tham quan đã bước vào phòng trưng bày. Ziegler thấy ngượng về việc anh cầm trên tay viên thuốc, vì rõ ràng là anh đã đọc bảng “Cấm sờ vào hiện vật”. Do đó anh nắm bàn tay lại, đút tay vào túi quần và đi ra khỏi phòng trưng bày.
Mãi đến khi đi trên đường phố Ziegler mới lại sực nhớ đến viên thuốc ở trong túi quần. Anh móc nó ra và định vất nó đi, nhưng sau đó anh đưa nó lên mũi ngửi. Nó có mùi thơm nhẹ giống như mùi nhựa thông mà anh rất thích, vì vậy anh lại đút nó vào túi quần.
Bây giờ Ziegler đi vào nhà hàng, gọi món ăn, lật giở vài tờ báo, tay mân mê cà vạt và ném những cái nhìn vừa kính cẩn vừa kiêu ngạo về phía những thực khách, tùy kheo cách ăn mặc của họ. Nhưng khi đợi bồi bàn mang thức ăn cho mình Ziegler móc viên thuốc của nhà giả kim thuật mà anh đã vô tình đánh cắp ra và ngửi nó. Sau đó anh cạo nó bằng móng của ngón tay trỏ, cuối cùng anh nảy sinh sự thèm muốn ngu ngốc và đưa nó lên miệng; nó nhanh chóng tan trong mồm Ziegler mà không có vị khó chịu, cho nên anh nuốt nó xuống bụng cùng với một ngụm bia. Ngay sau đó bồi bàn cũng mang thức ăn cho anh.
Vào lúc hai giờ Ziegler nhảy xuống từ một toa xe điện, bước vào sân trước của vườn thú và mua một vé vào cửa ngày chủ nhật. Anh khoan khoái mỉm cười đi đến khu nuôi nhốt khỉ và đứng trước cái chuồng lớn của tinh tinh. Con tinh tinh nháy mắt với Ziegler, thân thiện gật đầu với anh và nói bằng giọng ồm ồm các từ: “Khỏe chứ, người anh em?” Ziegler vô cùng ngạc nhiên, hoảng sợ quay ngoắt mặt đi và nghe thấy con tinh tinh chửi ở phía sau mình khi anh bỏ đi: “Đồ kiêu ngạo ngu ngốc!”
![]() |
Minh họa: Nhím |
Ziegler đi nhanh sang chỗ những con khỉ đuôi dài. Chúng tinh nghịch nhảy nhót và gào lên: “Đưa đường đây, anh bạn!” Và khi Ziegler không có đường cho chúng, chúng nổi giận, bắt chước điệu bộ của anh, gọi anh là kẻ nghèo kiết xác và nhe răng ra với anh. Ziegler không chịu nổi điều đó, anh sửng sốt, luống cuống bỏ chạy và đi sang chỗ nuôi nhốt hươu nai và hoẵng, những con vật mà Ziegler hy vọng sẽ đối xử tử tế hơn đối với anh.
Một con nai to, dáng đẹp đứng gần lưới sắt và nhìn Ziegler. Khi đó anh vô cùng hoảng sợ. Vì từ khi anh nuốt viên thuốc ma thuật cổ thì anh hiểu được tiếng nói của các loài vật. Và con nai nói bằng đôi mắt to màu nâu của mình. Cái nhìn lặng lẽ của nó nói lên sự quý phái, sự hiền lành và sự buồn rầu, nó đang bày tỏ một sự khinh bỉ tột cùng đối với Ziegler, một sự khinh bỉ đáng sợ. Qua cái nhìn lặng lẽ, oai vệ của con nai Ziegler hiểu rằng nó muốn nói, anh, một kẻ ăn mặc lịch sự có mũ, gậy ba toong và đồng hồ thì cũng chẳng hơn gì một con bọ chét, một loài côn trùng kinh tởm và đáng ghét.
Từ chỗ con nai Ziegler bỏ chạy đến chỗ con sơn dương, từ đó đến chỗ những con linh dương, con lạc đà không bướu, con linh dương đầu bò, đến chỗ những con lợn rừng và những con gấu. Anh không bị những loài vật này lăng nhục, nhưng bị tất cả bọn chúng khinh bỉ. Anh lắng tai nghe chúng nói chuyện và qua các cuộc đối thoại của chúng biết được chúng nghĩ về con người kinh khủng như thế nào. Chúng đặc biệt ngạc nhiên về việc chính những con người xấu xí, bốc mùi hôi hám, đáng khinh kia lại được phép tự do đi lại trong những những lớp vải bao bọc cơ thể tức cười của mình.
Ziegler nghe thấy một con sư tử châu Mỹ nói với con của mình, một câu chuyện đầy nhân phẩm, khôn ngoan và sáng suốt mà anh hiếm khi nghe được ở con người. Anh nghe thấy một con báo đen đẹp bày tỏ ý kiến ngắn gọn, rành mạch trong những lời lẽ thâm thúy về lũ khách tham quan vườn thú vào ngày chủ nhật. Anh nhìn vào mắt của con sư tử lông vàng và biết được thế giới hoang dã tuyệt diệu và rộng lớn như thế nào, nơi không có các khu nuôi nhốt thú và con người. Anh nhìn thấy một con chim cắt buồn bã, kiêu hãnh đậu trên cành cây khô trong sự sầu muộn tê tái và nhìn thấy những con chim giẻ cùi chịu đựng sự giam cầm cùng với sự thắc mắc, sự nhún vai và sự hài hước.
Đờ đẫn và bứt ra khỏi những suy nghĩ của mình Ziegler lại quay về với con người trong sự tuyệt vọng. Anh tìm một ai đó hiểu được sự lo lắng và nỗi sợ hãi của anh. Anh lắng tai nghe các câu chuyện của con người để nghe được một điều gì đó dễ hiểu, gần gũi và thân mật. Anh để ý đến điệu bộ của nhiều người khách tham quan vườn thú để cũng tìm thấy ở ai đó trong số họ nhân phẩm, bản tính, sự cao thượng và tình yêu đồng loại.
Nhưng Ziegler bị thất vọng. Anh nghe thấy các giọng nói và các lời nói, nhìn thấy những cử chỉ, những điệu bộ, những cái nhìn của con người, và vì bây giờ anh nhìn mọi thứ như nhìn bằng mắt của một con vật nên anh chẳng thấy gì ngoài một đám đông xấu xa, đồi bại, giả tạo, dối trá của những sinh vật giống thú mà hình như là sự pha trộn nực cười của tất cả các loài.
Ziegler đi lang thang một cách tuyệt vọng, vô cùng xấu hổ về bản thân. Từ lâu anh đã vứt chiếc ba toong vào bụi rậm, sau đó là găng tay. Nhưng giờ đây, khi anh vứt chiếc mũ của mình đi, cởi giày, giật cà vạt ra và khóc nức nở tựa người vào lưới sắt của chuồng nai, thì anh bị bắt trong sự ngỡ ngàng của mọi người và bị đưa vào một nhà thương điên.
Phạm Đức Hùng
dịch từ nguyên bản tiếng Đức
(TCSH353/07-2018)
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.
AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.
Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…
Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.
HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.
SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.
KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.
FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.
MIKHAIN SÔLÔKHỐP Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.
KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.
ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.
GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.
GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.
JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.
SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.
DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.
S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.
WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?
SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar trong một gia đình nông dân thuộc tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.