“Cắm mặt” xin chứng nhận, hậu “di sản” ra sao… không cần biết!

15:40 09/09/2013

Vài năm trước đây, Việt Nam hân hoan rùm beng với việc 10 hồ sơ xin UNESCO chứng nhận là di sản thế giới, đã mang lại kết quả mỹ mãn. Nào Hạ Long, nào Huế, Hội An… đến nhã nhạc cung đình, ca trù, quan họ… 

Nhưng rầm rộ là thế khi nhận bằng công nhận, rồi sau đó các di sản ấy bị “đối xử” thế nào sau khi mang danh về cho đất nước?. Có lẽ không nói ai cũng biết, đến nỗi nhiều người phải xót xa thốt lên rằng: “cứ cái gì được công nhận di sản xong đều xuống cấp hơn xưa”. Điều này cũng được ông Cục trưởng cục di sản thừa nhận: Chúng ta đang còn có quá nhiều thực hành văn hóa xấu trong bảo tồn di sản.

Hình như Bộ Văn hóa đang coi chuyện xin chứng nhận di sản là một “chiến công” hàng năm. Vì vậy, họ cứ đều đặn làm hồ sơ xin chứng nhận với UNESCO về các loại di sản. Nhưng theo một tiến sĩ của Viện nghiên cứu văn hóa phát biểu trên Thanh niên cho hay: Chúng ta đang trong tình trạng, cứ được công nhận xong là lại “chúi mũi” đi làm hồ sơ mới.
 
Đáng lẽ được chứng nhận rồi thì anh phải có kế hoạch bảo tồn cho những di sản này khiến nó phát triển nhưng Việt Nam lại coi việc chứng nhận di sản như những “trận đánh”, giành “chiến thắng” xong là để lại một “bãi chiến trường”, ai dọn mặc kệ, ta lại kéo quân đi đánh tiếp. Trong khi đó, UNESCO rất quan trọng việc thực hành tốt trong bảo tồn di sản. Thậm chí, họ còn hỗ trợ chuyên gia và tiền bạc nhiều hơn số tiền mang về từ việc di sản được công nhận, bởi cứu di sản là điều UNESCO quan tâm hơn cả. Đáng tiếc là Việt Nam không quan tâm đến vấn đề này.
 
Theo GS.Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng di sản quốc gia, cho hay thực chất việc bảo tồn di sản và phát triển không hề mâu thuẫn nhưng chính cách quản lý đã làm nảy sinh xung đột. Nhà quản lý “xăm xăm” thâu tóm di sản, di tích, gạt người dân đang sinh sống và làm việc dựa trên di tích qua một bên. Và tệ hơn cả là sau khi “khẳng định chủ quyền”, họ không làm gì để khiến di sản tốt lên mà trái lại ngày càng khiến sức sống của di sản èo uột, xuống cấp mà làng cổ Đường Lâm là một ví dụ rõ nhất.
 
Bên cạnh đó, những di sản văn hóa phi vật thể cũng nằm trong tình trạng tương tự. Ca trù là một ví dụ cụ thể nhất trong việc di sản bị “nhốt tủ kính” và chẳng còn cơ nào phát triển trong cộng đồng. Dù L’Espace (Trung tâm văn hóa Pháp) đã cố bảo tồn giúp Việt Nam trong việc tổ chức nhiều cuộc hội thảo và biểu diễn ca trù tại trung tâm, song ca trù vẫn như một “vật thể lạ” được bày trong tủ kính, chỉ để người xem chiêm ngưỡng chứ không cảm nhận được sự quý giá của loại hình nghệ thuật này. Ca trù có thể đi nước ngoài, hoặc được biểu diễn trong chương trình “Viet Nam’s got Talent” như một “vị” đặc biệt, xong đối với người dân, ca trù vẫn xa lạ như để dành cho người hoài cổ.
 
TS. Nguyễn Thế Hùng, Cục trưởng cục di sản cho biết, Việt Nam đã 2 lần bị UNESCO “nhắc nhẹ” về việc quản lý di sản văn hóa Huế và Hạ Long tại các cuộc họp hội đồng di sản. Thế nhưng ngoài 2 di sản trên, chúng ta cũng còn có những di sản có vấn đề trong quản lý, mà thông tin chưa lộ ra ngoài. Nói như ông Hùng là chúng ta đang “đóng cửa bảo nhau” để chưa bị nhắc nhở thôi, lấy ví dụ như quan họ đang ngày càng xô bồ, chính nhà quản lý văn hóa ở Bắc Ninh cũng chưa nhận thức đúng về giá trị di sản này và vẫn làm như cũ, thậm chí còn kém hơn cũ. Còn Xẩm – đang được nỗ lực đệ trình UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể - hiện cũng đang héo mòn vì những buổi diễn mà nghệ sĩ đeo kính đen giả mù, rất xúc phạm người hát xẩm, bởi đôi mắt hỏng không phải là đặc trưng của nghệ thuật này...
 
Và khi mà các nhà quản lý còn chẳng hiểu cái thứ nghệ thuật mình đang xin bảo tồn và chẳng có ý thức với các thắng cảnh xin được công nhận di sản, thì mãi mãi việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận các di tích khác trở thành di sản thế giới chỉ là chuyện các vị chạy theo thành tích, hơn nữa hình như điều này cũng có thể mang lại cả lợi ích tiền bạc vì nghe đâu cũng tốn hơn 50 tỷ đồng cho một hồ sơ xin chứng nhận.
 
Có thể nói, việc chứng nhận di sản thế giới hình như dành cho ai chứ không phải dành cho người dân vì quả thực, họ chẳng được hưởng lợi gì trong việc được công nhận di sản cả, và vì thế sự tự hào chắc cũng không có nốt. Ngay cả đến người dân làng cổ Đường Lâm cũng khóc ròng khi mới được chứng nhận di tích mà cuộc sống đã khổ cực rồi, “bây giờ mà Đường Lâm được UNESCO công nhận di sản thế giới thì… chúng tôi chết!”.
 
 
 

 

 
Theo songmoi.vn
 
 
Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.