Nguyễn Tài Cẩn trên nền thi học Việt Nam

15:11 04/06/2009
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

GS Nguyễn Tài Cẩn

Bài này giới thiệu những đóng góp vào nền Thi Học Việt Nam của nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, qua tác phẩm mới xuất bản: Một số Chứng Tích về Ngôn Ngữ Văn Tự và Văn Hoá (1), viết tắt là Một số Chứng Tích. Chúng tôi cũng sẽ nhắc qua 7 tác phẩm trước đây của anh, và nhấn mạnh vào những trước tác xuất bản gần đây nhất.

Một số Chứng Tích, 430 trang, gồm 34 bài báo đã đăng rải rác trong và ngoài nước, dưới nhiều đề tài ngữ học và văn bản học, phản ánh những quan tâm của anh về văn hoá từ 40 năm nay. Nhất là về ngôn ngữ Thơ.

Thành phần thiết yếu trong Thơ là cách gieo vần, đã được Nguyễn Tài Cẩn đặc biệt chú tâm: "cách đọc Hán Việt (thế kỷ VIII và IX) (...) cho phép các nhà thơ Việt đi ngược lại thi pháp Hán tạo ra một lối gieo vần riêng biệt cho Việt Nam" (tr. 422) dựa theo những nguyên âm thuận tai, như ở ca dao tục ngữ, chứ không theo khuôn mẫu Quảng Vận của Trung Quốc; lối gieo vần này không phải lúc nào cũng thành công, "thơ chữ Hán nhưng đọc lên nghe có âm hưởng thuần Việt (...) ngay những trường hợp không thật hài hoà cũng được chấp nhận. Và chính những trường hợp này đã ảnh hưởng đến cả cách gieo vần trong thơ thuần Việt, và đôi khi ảnh hưởng (ngược lại) đến cả cách đọc Hán Việt (tr. 421). Nói khác đi, ngữ học soi sáng cho thi học, nhưng có lúc, thơ ca minh hoạ cho ngữ học. Tác giả đã dựa vào thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, như anh đã trình bày rõ trong một tác phẩm khác về Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), có thể xem như là công trình nghiên cứu cặn kẽ nhất về bước đầu của ngành Thi Học Việt Nam(2). Trong sách này, anh có nhắc lại bài thơ Việt Nam áp dụng sớm nhất lối cách tân này là bài Cảm Hoài của Vương Hải Thiềm (1046-1100) kết hợp vần ca, qua với ma, giai, ngoài khuôn khổ Quảng Vận phương Bắc.

Ngoài đề tài gieo vần, công trình của Nguyễn Tài Cẩn về ngữ âm lịch sử(3), nguồn gốc cách đọc Hán Việt(4) giúp các nhà nghiên cứu thơ cổ điển Việt Nam lý luận, bình giải xác thực hơn. Ví dụ chúng ta biết rõ tiếng Hán có 4 thanh (bình, thượng, khứ, nhập) chuyển sang tiếng Hán Việt thành 8 thanh (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc khứ, sắc nhập, nặng khứ, nặng nhập)(4). Nền ngữ âm học hiện đại xác nhận điều này(5). Nhờ đó chúng ta có cơ sở cụ thể nhìn rõ đặc tính, nhạc tính, của thơ Việt so với nền thơ gần với chúng ta nhất là thơ Trung Quốc. Chưa kể là Nguyễn Tài Cẩn vạch cho chúng ta thấy nguồn gốc và quá trình của từng phụ âm, từng nguyên âm, là những thành tố cơ bản của Thơ.

Trong Một số Chứng Tích, Nguyễn Tài Cẩn còn lưu tâm về Câu Thơ. Như câu thơ sáu chữ xen giữa thể thất ngôn của Nguyễn Trung Ngạn, trong một cấu trúc không thấy ở thơ Trung Quốc (tr.308). Kỹ thuật này mở đường cho thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau, tạo nên nét đặc thù của nền thơ Việt Nam so với thơ Đường, thơ Tống.

Anh đã dành một chương dài cho câu thơ lục bát, phân tích cấu trúc nội tại của nó, từ vần điệu, thanh điệu đến nhịp điệu, đi đến những "bước" hai tiếng, trong đó xen kẽ những tiếng chính và phụ theo từng vị trí. Và một cặp lục bát, theo anh, có thể biến hoá thành 256 trường hợp khác nhau (tr. 331).

Thông thường, trong thơ các nước và theo lý thuyết, Vần là cách bắt nhịp và phân định ranh giới. Nhưng trong thi luật Việt Nam, vần lưng không đủ cơ sở làm đường ranh giới cắt đôi đơn vị chứa đựng chúng (tr. 320). Âu cũng là nét khu biệt của Thơ Việt Nam trong khoa Thi Học đối chiếu. Trong tinh thần đối chiếu, Nguyễn Tài Cẩn đã lưu tâm đến thể Ca Trù, một thể loại dân gian Việt Nam, được Nguyễn Khuyến sử dụng để làm thơ chữ Hán, uốn nắn câu thơ Đào Tiềm, Lý Bạch, thành thơ Việt, qua hai bài Bùi Viên cựu trạch và Bùi Viên đối ẩm. Sau đó, Nguyễn Khuyến tự dịch ra quốc âm, cũng trong thể ca trù. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra thích thú khi viết về thể hát nói, làm người đọc tiếc rằng anh không đi xa hơn: thế hệ nghiên cứu sau này sẽ không còn những rung cảm như anh khi viết về một thể loại đã mai một; và trong địa hạt thẩm mỹ Hán Việt đối chiếu, sẽ khó có người vừa uyên bác vừa mẫn cảm như anh, dù rằng thao tác này là trách nhiệm của người làm văn học, đúng hơn là của người làm ngữ học.

Anh đã để tâm đến Câu Đối, qua câu đối quốc ngữ hiện đại: Tết tới túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế, mà anh phân tích và tìm câu đối lại. Đây là bài viết mua vui, nhưng cũng là một gợi ý về Thi Học: câu đối là cách khai thác triệt để hình thức của ngôn từ. Ra câu đối, mục đích chính không phải là đối thoại, mà là để bắt bí người khác, để cho đối phương không thể, hoặc khó có thể trả lời. Ra câu đối, là áp đảo đối phương bằng bạo lực của ngôn từ, dựa trên bạo lực của quyền thế: người trên, kẻ mạnh, thách thức người dưới, kẻ yếu - ít khi có đối thoại bình đẳng và dân chủ. Sử dụng quyền thế, người ra câu đối (thường là ông quan) đã đẩy chức năng thẩm mỹ của ngôn từ đến tận cùng của tình huống.

Do đó, hơn cả Thi Ca, Câu Đối minh hoạ rõ nét chức năng thi pháp của ngôn từ, theo lý thuyết Jakobson. Câu Đối xuất sắc vì tính cách hóc hiểm, kết hợp ngôn từ với tình huống, chứ không phải xuất sắc vì tư tưởng cao siêu: Da trắng vỗ bì bạch là một điển hình.

Nguyễn Tài Cẩn đã đối lại: Rừng sâu mưa lâm thâm, rất chỉnh; tuy không sát với tình huống, câu đáp có giá trị văn học, là một câu thơ hay, man mác u hoài trong vũ trụ mông mênh.

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu cũng vậy thôi, nó nói lên thân phận nhỏ nhoi của con người trong lịch sử đa đoan, không nhất thiết phải quan hệ với chuyện Ngô Thời Nhậm - Đặng Trần Thường mà tình huống, thật sự, cũng chưa chắc đã có thực. Những câu đối được truyền tụng, xuất sắc vì văn bản; còn tình huống, đôi khi người đời sau bịa đặt, ngụy tạo một hoạt cảnh, trở thành "giai thoại". Các giai thoại văn học về câu đối, thường tái lập ưu thế cho kẻ yếu, tạo cho họ nét thông minh, nhạy bén, dũng cảm, nhưng đây là chuyện xã hội hơn là ngôn ngữ.

Khi luận về Câu Đối, anh Cẩn cao hứng, nhưng vì cả tâm tình và tư duy anh bị điều kiện hoá trong thi pháp, nên anh vẫn tiếp tục đóng góp vào lập thuyết mà không ngờ là mình lập thuyết.

Từ Vựng học, cách sử dụng ngữ vựng, tham dự vào việc phân biệt thơ và văn xuôi: một từ có thể mang giá trị khác nhau trong thơ hay văn xuôi. Trong địa hạt này, Nguyễn Tài Cẩn đã đem lại những kiến thức lịch đại quan trọng, như trong công trình nghiên cứu thơ chữ Hán và chữ Nôm Nguyễn Trãi, hay khi anh phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, trên 27 bài tồn nghi, không rõ của người nọ hay người kia. Anh đã mang lại hai thành tựu: phương pháp khảo sát và phẩm chất những khám phá.

Về phương pháp khảo sát từ vựng, anh đưa ra thống kê: trong 250 bài thơ quốc âm, Nguyễn Trãi dùng 11067 lượt từ, trong đó có 2235 từ khác nhau (tr.197), và những từ lặp lại nhiều lần: Nguyệt (62), Xuân (55), Thu (39), Thế (đời) (42). Nguyễn Trãi chỉ dùng từ rau một lần trong sáu lần nói đến rau, những lần khác dùng từ chính xác: muống, niềng niệng, mồng tơi,... Tỷ lệ từ đơn âm rất cao: 71,2 %, số từ đa âm còn lại, phần lớn là từ thuần Việt: phơ phơ, thơn thớt,... Tóm lại, rất ít từ Hán Việt. Để phân biệt thơ Nguyễn Trãi với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, anh đề nghị dựa trên cách dùng từ và kết hợp từ trong câu, tức cái ngôn ngữ riêng biệt của mỗi tác giả, những chi tiết góp phần làm nên cái gọi là idiolecte (tr. 221) (anh dùng tiếng Pháp trong văn bản). Ví dụ: ở Nguyễn Trãi ao là nơi trồng rau nuôi cá, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi tắm mát.

Phương pháp này tỉ mỉ, khoa học và khách quan. Nó gạt ra hai lối biện luận văn học mà ngày nay ta vẫn còn thấy rơi rớt đâu đó: một là lối tán tụng theo ấn tượng và gây ấn tượng, dựa trên khả năng thêu hoa dệt gấm của người biên khảo; hai là lối phản ảnh: dùng gia thế, sự nghiệp, giai cấp, lập trường, đường lối,... để giải thích, đồng thời "đánh giá" (tr. 220). Phương pháp của Nguyễn Tài Cẩn đáp ứng lại sự "thèm thuồng" của một Nguyễn Tuân: "Tôi vẫn thèm đọc những bài phê bình bàn bạc thêm về văn chương, về phong cách văn tự, về thủ pháp văn học, về nhãn quan mỹ học của tác giả, sau khi mình đã nhận định xong cái phần chất lượng tư tưởng của họ"(6). Câu này Nguyễn Tuân viết năm 1960, lúc đó chưa đọc
Nguyễn Tài Cẩn.

Phương pháp Nguyễn Tài Cẩn đề xuất, tự nó, đã mang phẩm chất về mặt khoa học và thẩm mỹ, nó có tầm quan trọng đặc biệt mà giới làm văn học ngày nay chưa chắc đã lãnh hội và đánh giá đúng mức. Còn những đóng góp cụ thể của anh thì vô cùng vô tận, chỉ người làm công tác học thuật khi đọc, mới thấu triệt được công ơn của anh trong việc tìm hiểu thi ca.

Trong thơ, mỗi một từ có giá trị riêng, và âm vang riêng, tuỳ thuộc vào cái vỏ âm thanh và nội dung đa nghĩa, gọi là nội hàm của nó. Bên cạnh đó, nó còn chịu ảnh hưởng giao thoa về ngữ âm và ngữ nghĩa của những chữ chung quanh. Ví dụ như chữ mùa giàu âm vang và có nhiều nghĩa: Mùa ổi, mùa Gió Chướng, Ba Mùa, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng, Mùa xưa, Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà... Từ mùa do chữ “vụ” tiếng Hán, là một từ cổ Hán Việt, có trước thời kỳ Hán Việt thế kỷ VIII - IX. Thời xa xưa đó, hai chữ là một, theo Nguyễn Tài Cẩn: “viết vụ đọc mùa”(7). Như vậy mùa có nghĩa mùa màng:

Rồi mùa toóc rã rơm khô
Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm

Về sau, mới thêm nghĩa bốn mùa, thời tiết, thời gian, không gian và đèo thêm nội dung tình cảm, u hoài hay hy vọng. Tiếng Anh, Pháp season, saison, cùng một âm vang thi cảm, có lẽ cũng theo quy trình như vậy. Nguyễn Tài Cẩn tỏ ra tâm đắc với chuyện vụ/mùa này nên thường nhắc đi nhắc lại nguồn gốc trong nhiều tác phẩm. Và chúng ta thêm được một kiến thức, hiểu sâu sắc hơn âm vang của chữ mùa trong thi ca dân gian hay hiện đại, hay trong những bài hát của Văn Cao: Từng hẹn mùa xưa..., ngày mùa vui thôn trang..., khi gió mùa thơm ngát....

Trong Một số Chứng Tích có hai bài ước lược và bổ sung cuốn sách(8) Nguyễn Tài Cẩn đã viết về bài thơ chữ Hán của vua Thiệu Trị, bài thất ngôn bát cú tên Vũ Trung Sơn Thuỷ, đọc được 64 cách khác nhau, và anh cho rằng có thể khai triển thành 256 bài. Để người đọc tiện theo dõi anh đã dịch ra tiếng Việt, trong thể tám câu bảy chữ, mà lại đọc được ngần ấy cách, thành ngần ấy bài khác nhau. Âu cũng là một tuyệt chiêu.

Đây là thể thơ “hồi văn” đọc quanh co đi lại đều thành câu, thành bài; đã hồi văn thì phải liên hoàn: lấy câu, hay chữ, cuối bài trước làm câu, hay chữ đầu bài tiếp theo, v.v....

Bài thơ là một "kỹ xảo" của Thiệu Trị, nhưng trong lý thuyết Thi Học có giá trị đặc trưng: thơ là ngôn ngữ dẫm chân tại chỗ, không theo tuyến tính (linéaire). Khi đọc lên thành tiếng thì dĩ
nhiên phải theo thời gian như mọi lời nói. Nhưng nếu chỉ đọc bằng mắt, thì từ ngữ có thể hoán chuyển ngược xuôi. Valéry đã nói đâu đó, đại khái: văn xuôi là đi tới, thơ là khiêu vũ (la poésie est à la prose, ce que la danse est à la marche ), nghĩa là khua đôi chân mà không tiến tới đâu. Văn xuôi là mũi tên phóng về phía trước, thơ là đường kiếm biến hoá không cùng, nhưng vẫn tiến thoái trong vòng tròn của tầm tay.

Văn xuôi thẳng tới: “ta đi tới trên đường ta bước tiếp” theo Tố Hữu; thơ thì lại “lui đôi vai tiến đôi chân, riết đôi vai ngã đôi thân" theo kiểu Vũ Hoàng Chương. Thơ là lối “hồi văn” đi vòng để trở về khởi điểm. Kỹ xảo của Thiệu Trị, vô hình trung, minh hoạ điều này. Càng lý thú hơn nữa khi nghe Nguyễn Tài Cẩn lập luận:

“Bản thân Thiệu Trị chưa hình dung hết tổng số các bài có thể có, các khả năng hồi văn liên hoàn có thể có. Đây là điều không có gì đáng lấy làm lạ, vì cái chuyện ngay tác giả mà cũng không tưởng tượng hết được tất cả các hệ quả của sản phẩm do mình sáng tạo, là một chuyện rất dễ xảy ra, trong cuộc đời, trong khoa học cũng như trong nghệ thuật"(tr. 353).

Đây là lời Nguyễn Tài Cẩn nói về Thiệu Trị. Nay tôi “cóp” nguyên si câu văn để nói về anh, e rằng anh cũng không biết cãi vào đâu. Dành trọn một đời người cho ngữ học, anh chỉ lao tác trong những chuyên đề giới hạn trong nghề nghiệp. Nay nói rằng anh là người nghệ sĩ đặt những nền móng đầu tiên và thiết yếu cho ngành Thi Học lịch đại, nới rộng thành nền Thi Pháp Việt Nam hiện đại, có thể làm anh ngạc nhiên. Nhưng trên thế giới đã có nhiều tiền lệ, như Propp, Jakobson, Kristeva, và bao nhiêu bậc thầy tài danh khác.

Theo lý thuyết ngữ học, ta có thể xem từng mảng đóng góp của Nguyễn Tài Cẩn như những đoản ngữ (syntagme), và toàn bộ trước tác của anh như một từ hệ (paradigme) mà Thi Học là một thành phần thiết yếu. Trong các tác phẩm ngữ học đầu tay, anh là chuyên gia về đoản ngữ(9); trong trước tác về sau, anh ngao du giữa những từ hệ làm nên nền văn học và văn hoá dân tộc, trong tương quan hữu cơ với các nguồn văn hoá của các sắc tộc anh em, của lân bang và thế giới. Từng tác phẩm là Lời Nói (parole), toàn bộ trước tác của anh làm nên Tiếng Nói (langue).

Trên hành trình ngữ học, Nguyễn Tài Cẩn đã nhiều lần ghé lại Bến Thơ. Càng cao tuổi, anh dừng lại càng lâu hơn; cuối cùng, những đoản đình trường đình lại làm nên duyên phận. Ngữ Học của Thơ, với Nguyễn Tài Cẩn, đã hoá thân thành Thơ của Ngữ Học.
Nghĩ cho cùng, con người là toàn diện và duy nhất, làm nghề gì, và sinh sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng vậy thôi.

Đ.T
(243/05-09)


-----------------
(1) Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 2001, Hà Nội
(2) Ảnh hưởng Hán Văn Lý Trần qua Thơ và Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, 300 trang, Nxb Giáo dục, 1998, Hà Nội
(3) Lịch sử Ngữ âm Tiếng Việt, 350 trang, Nxb Giáo dục, 1995, Hà Nội
(4)
Nguồn gốc và Quá trình hình thành Cách đọc Tiếng Việt, 360 trang, nxb Đại học Quốc Gia, 2000, Hà Nội.
(5) Đoàn Thiện Thuật, Ngữ Âm Tiếng Việt, tr.143, Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, 1980, Hà Nội.
(6) Nguyễn Tuân, Chuyện Nghề, tr.72, Nxb Tác Phẩm Mới, 1986, Hà Nội
(7) Một số vấn đề về chữ Nôm, tr.25, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 300 trang, 1985, Hà Nội
(8) Tìm hiểu Kỹ xảo trong bài Vũ Trung Sơn Thủy của Thiệu Trị, 450 trang, Nxb Thuận Hoá, 1998, Huế.
(9) Từ loại Danh Từ trong tiếng Việt hiện đại (1960) 300 trang, Nxb Khoa học Xã hội, 1975, Hà Nội.
Ngữ Pháp Tiếng Việt, tiếng, từ ghép, đoản ngữ, 400 trang, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1975, Nxb Đại học Quốc gia tái bản, 1996, Hà Nội.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.

  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.