HỒ THẾ HÀ
Nguyên Quân song hành làm thơ và viết truyện ngắn. Ở thể loại nào, Nguyên Quân cũng tỏ ra sở trường và tâm huyết, nhưng thơ được mọi người yêu quý và ngưỡng mộ hơn.
Có lẽ thơ là tiếng nói tâm trạng, là điển hình của cảm xúc trong những kinh nghiệm quan hệ người cụ thể, xúc động nên dễ đồng cảm và nội cảm trong tiếp nhận chăng? Nhưng đó là lý thuyết, còn thực tế, thì dù gì, thơ phải hay mới mong được người đọc đón nhận và xem đó như là tình cảm và sức mạnh tinh thần của mình. Từ Tĩnh vật đêm đến Lục bát rời, Nguyên Quân đã có 6 thi tập được ấn hành. Đó là kết quả của hành trình sống và hành trình sáng tạo liên tục của anh, chúng chuyển hóa trong nhau để tạo thành chất thơ của một hồn thơ giàu nghiệm sinh, triết mỹ.
Có thể nhận thức khái quát chất thơ của Nguyên Quân qua 6 thi tập, đó là sự hòa quyện giữa hiện thực và ký ức tâm trạng đa phân của chủ thể trữ tình trên cái nền văn hóa xứ Huế cùng vốn ngôn ngữ mang dấu ấn riêng của anh để tạo nên cấu trúc thơ, giọng điệu thơ vừa thâm trầm day dứt, vừa giãi bày chiêm cảm, vừa tự vấn hoài nghi về những gì anh chiêm quan được từ cõi người đa đoan và hệ lụy, nhưng vô cùng tin yêu và nhân hậu này.
Thi tập Lục bát rời của Nguyên Quân hội đủ chất thơ nói trên trong cảm quan hiện thực và tâm trạng đa chiều, được chứa đựng trong thể loại lục bát - thể loại mà mã câu thơ (code of verses) cố định của nó là 6 - 8 rất dễ hay nhưng cũng rất dễ trở thành nhàm chán, đơn điệu nếu chủ thể sáng tạo không biết điều tiết và gia giảm, không biết biến thể và cách luật, không biết phân khổ và bậc thang một cách linh hoạt và nghệ thuật. Công bằng mà nói, với Lục bát rời, Nguyên Quân đã chứng minh được khả năng làm chủ lục bát của mình khá vững vàng qua những phá và thay nói trên một cách chủ động và tự nhiên theo nhịp điệu bên trong của cảm xúc và nhịp điệu bên ngoài của hiện thực. Vấn đề còn lại là tư tưởng và tâm hồn của nhà thơ chân thật như thế nào, hướng về những đối tượng thẩm mỹ nào, từ đó, chiếm lĩnh và lý giải chúng trên chất liệu ngôn ngữ và cảm quan triết mỹ sâu sắc đến đâu để thể hiện tầm vóc và sức sống cho thi phẩm. Thiết nghĩ, những yêu cầu trên khó lắm thay!
Qua Lục bát rời, Nguyên Quân đã giải quyết được yêu cầu chỉnh thể thi pháp học nói trên một cách hài hòa qua sự phản ánh các chủ đề đa dạng và chọn cho chúng những hình thức mang tính quan niệm tương ứng. Vì vậy mà ý nghĩa của từng chủ đề hiện lên những thông tin thẩm mỹ mới mẻ, có chiều sâu hiện thực và tâm trạng đáng được chú ý. Trong bài viết ngắn này, tôi muốn đề cập đến một chủ đề có sức ám ảnh nghiệm sinh của Nguyên Quân, đó là chủ đề tâm linh trong Lục bát rời. Đây là chủ đề mà thơ hiện đại thời hậu chiến đến nay thường được các tác giả quan tâm thể hiện, như một thông điệp nhân sinh mới để liên hệ và nối kết con người hiện tại với những vùng tâm tưởng thiêng liêng và nhân hậu thường hằng mà thơ cần phải vươn đến để giúp con người an bằng tâm thế.
Bài Thơ tôi có thể xem là tự nguyện/tâm nguyện của Nguyên Quân để hướng về phía những lam lũ đời thường, nhưng có khả năng đánh thức những tiềm lực nhân ái: “thơ tôi quyện lẫn mồ hôi - trưa đứng gió nên đất trời nẩy nung - gốc bồ đề cũng khật khùng - co cong mái lá buông chùng vai quen”, để rồi, thơ tiếp tục hòa vào thiên nhiên như một niềm ân huệ.
thơ tôi cười nói huyên thuyên
với cây lá
với tuổi tên của mình
nắng xao nửa ngọn rập rình
nhìn thiên hạ cứ vô tình trôi xuôi
mồ hôi nhòe nhoẹt quanh tôi
thơ nhòe nhoẹt tựa lưng đời oằn cong
chuông xe rác gõ long… cong
ném tôi và chữ vào vòng sinh ly.
Trong nhộn nhịp đời thường, con người nhiều khi muốn được tìm về những bình yên trong thế giới tâm linh thánh thiện. Nguyên Quân thường trực liên hệ mình và cảnh vật chung quanh bằng cái nhìn lánh tục, tìm linh.
cơn mưa phố thị vô tình
xô người về phía hiển linh cũ càng
(Thời đã cũ)
Từ độ cao của tầng 12, tác giả đã liên hệ với những đứt nối của giấc mơ trong đêm mất ngủ để thấy sự lênh đênh của phận người giữa trời cao và đất rộng. Rồi lại liên tưởng đến một cuộc cầu hồn đầy phiêu lưu và bất trắc.
vòng quay chậm của một đời
tầng mười hai của cuộc chơi cầu hồn
(Cao độ)
Tâm linh là trạng thái tinh thần có liên quan đến tiềm thức, vô thức, trực giác và linh giác, thể hiện những gì đồng nghĩa với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong cuộc đời thường nhật, đồng thời cũng thể hiện đức tin thành kính, thiêng liêng trong tôn giáo hoặc cõi siêu hình nào đó. Và con người hướng vào chúng để sống tốt, sống thánh thiện, dù trước mắt, con người còn chứng nghiệm nhiều ngang trái.
phóng sinh
vài chú sẻ nâu
bầu trời rộng tiếng
lau nhau tìm bầy
còn ta!
cánh cụt thân gầy
biết tìm đâu
những tháng ngày tự do
(Phóng sinh)
Tác giả như thấy được một sợi dây vô hình giữa niềm tin tâm linh và những gì có thật ở cõi trần, qua những ngọn hoa đăng trên mặt nước như ngàn con mắt nguyện cầu cùng tiếng vọng của khúc cổ bản buồn lai láng.
đêm.
thơ dại ướp mùi trăng
vo tròn báng sáng hoa đăng
nguyện cầu
sông.
thả ngàn đóm mắt sâu
níu khúc cổ bản chợt sầu
ẩm ương
(Đêm hun hút)
Tâm linh trong thơ Nguyên Quân không phải là ý niệm tinh thần bí ẩn, đối lập với ý thức lý tính khả giải, mà trong những trường hợp cụ thể, nó còn là những hiện thực có ý nghĩa thông qua những trạng thái tiềm thức, vô thức; có khi là bản năng, trực cảm, linh giác thiên phú của con người. Vì vậy mà, nhà thơ Chế Lan Viên có lý khi cho rằng “thi sĩ không phải là Người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xáo trộn dĩ vãng. Nó um trùm tương lai. Người ta không hiểu được nó, vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” trong thơ.
mây từ đại mộng hoài sinh
thổi qua bãi vắng
câu kinh đại ngàn
một con mắt
đã cũ càng
nhìn thu
mới thấy
ngổn ngang tơ trời
mê sâu
bật tiếng gọi người
chỉ nghe âm vọng
những lời yêu ma
(Trang trại tím)
Trạng thái thức tỉnh qua giấc mơ thường giúp nhà thơ ghi lại những ấn tượng hoặc biểu tượng trong giấc mơ để khôi phục lại ý nghĩa của những hiện thực sống qua (réalités vécues) hoặc những ước mơ sẽ đến, có khi là những hiện thực pha màu sắc hư ảo, hoang đường, nhưng tất cả đều rất thực.
nửa khuya đánh thức câu kinh
hồn ma bóng quế
lung linh ánh đèn
điểm chung mặt lạ mặt quen
có ma nào gọi đúng tên vô thường
ta dâng hương ảo cúng dường
mọc dài đôi cánh mười phương bay vèo
(Ảo giác chim)
Nguyên Quân thường liên hệ với “thế giới tâm linh” trong cái nhìn liên hệ với bản thân mình và hiện thực chung quanh. Có lẽ do vốn ký ức cá nhân của một người sinh ra và lớn lên ở Huế, được tắm gội trong không gian văn hóa Huế, được chứng kiến cảnh thành quách, đền đài u buồn, trầm mặc nên những hình ảnh ấy luôn hiện về trong hữu thức và cả “vô thức tập thể” của anh. Và chúng ám ảnh thành hình tượng thơ.
- Thanh âm vi vút ngang tàng
Trầm âm chững lại dưới hàng gạch nâu
(Đêm thập lục)
- khắc dòng đại tự vĩnh hằng
những ông vua cũng sợ trăng khuyết tròn
đêm nay thành nội ươi lười
con trăng mười bốn khóc cười tùy duyên
(Khuya thành nội)
Quá khứ, nhiều lúc là bài học bi thương, dẫu không phải nó không mang lại cho hậu thế những kinh nghiệm triết lý nhân sinh cho cuộc sống thực tại.
dưới hàng sứ trắng ngây ngây
rót ly rượu để kịp say với chiều
bước qua thềm gạch tiêu điều
võ - văn quan hóa đá liêu xiêu buồn
hồn vương vía đế im lìm
nâng ngang chén nổi chén chìm mời ta
phi tần từ cõi mù sa
dưới hiên ngũ phụng cầm ca giọng buồn
tỳ bà từng ngón tay suông
màu vàng son vọng u hương dạt dài
bên hồ ngự nắng phôi phai
hoa xưa dáng cũ mơ hoài gót sen
(Chiều đại nội)
Liên hệ đến thành Đồ Bàn điêu tàn ngả bóng u tịch, anh cũng có cảm quan thời gian đang phôi phai và tàn lụi như kinh thành Huế để thấy rằng con người không liên hệ với quá khứ để hiểu hiện sinh trần thế trong hiện tại của mình thì con người sẽ không có ký vãng và không có điểm tựa tinh thần bền vững: “lụi tàn - như lẽ tự nhiên/ những ngôi hoang tháp - còn nguyên dáng Chàm/ tượng thần - ngả bóng về Nam/ ánh mắt đá tạc - nhuộm lam khói chiều”. Vậy mà những viên gạch Chàm đã đánh thức được cảm thức thời gian và không gian hư vô trong anh.
từng viên gạch
vỡ hoang liêu
chìm trong lối cỏ
ít nhiều xót xa
hư vô điệu múa giọng ca
cầu hồn vóc ngọc dáng ngà
Chiêm nương
(Cảm nhận Đồ Bàn)
Những liên hệ gần và liên hệ xa mang tính ảo giác, tâm linh có khả năng lây lan trong thơ Nguyên Quân như những vết loang của vô thức mà từ những bức tượng, chúng đã giúp nhà thơ hiểu được cái đã mất, cái hiện tồn. Và cuối cùng, chúng không mất đi, chúng trở thành vật chất khác, hội tụ trong âm thanh vang vọng của một loài côn trùng đang đánh thức giấc ngủ của đêm. Một quan hệ và liên hệ tâm linh khác lại hiện lên.
mặt người
nửa nhớ - nửa quên
mặt hoang thú
ánh trăng đêm gởi hồn
cái hư vô
cái hiện tồn
từ góc khuất
chỉ giọng côn trùng buồn
(Tượng)
Tâm linh vô thức theo lý thuyết phân tâm học lại là một bản năng khác trong đời sống con người, thể hiện bản chất sinh học tự nhiên của mỗi chủ thể khi họ liên hệ mình với những gì thiêng liêng, nguồn cội, có ảnh hưởng nhân quả đến hiện sinh đời mình. Chính điều này giúp thơ mở được tình cảm và ngôn ngữ thi ca vào những vùng mờ xa, huyền nhiệm của ý thức. Và đấy cũng là một cách phát hiện chiều sâu bí ẩn của tâm hồn con người.
đêm tôi trở giấc
thất thần
gọi thầm tiếng mẹ
phù vân khóc òa
(Cấm)
Cái tôi cá nhân cá thể thời hiện đại có khác với cái tôi cá nhân cá thể các giai đoạn trước. Họ muốn tự mình đào sâu vào bên trong bản thể để tự vấn và tự đáp, tự mình phát hiện ra những khách thể ngoài mình, nhưng có liên quan mật thiết với mỗi chủ thể ý thức.
từ cơn đau đẻ vô minh
một thân xác ruỗng
một linh hồn mù
chiều ra phố nhẹ như ru
cụng ly với cả thiên thu
mơ màng
mùa của những kẻ đốt nhang
gọi hồn nhau
giữa hỗn mang mặt người
tạ ơn tôi
tạ ơn đời
níu vô nhau giữa cuộc chơi
thất thường
(Tạ ơn)
Có lúc, nhà thơ muốn tìm một nơi trú ngụ, an ủi qua hình ảnh người tình hư ảo: “em từ lối cũ tôi tìm/ trên thanh âm - của loài chim gọi tình” (Đêm thị trấn). Mượn tiếng chim để hiện hữu một mối tình đã trôi vào quên lãng cũng là cách để đi tìm lại thời gian đã mất, rồi đồng hiện nó trong hiện tại trái ngang. Một âm thanh khác hiện lên trong khắc khoải, lê thê.
giọng người
nhão nhoẹt lê thê
vọng qua âm sóng rè rè
vô ngôn
ta nâng ly cụng cõi tồn
sinh
ly với cả linh hồn lạnh tênh
(Uống tận)
Tất cả là hư ảo, phù du: “một vòm mây trắng lặng trôi/ phù du đến vậy - thì thôi hẹn hò”. Đây cũng chính là hướng tìm tòi của thơ theo “tâm lý học chiều sâu” của phân tâm học.
bàn tay khuyết ngón ơ thờ
vẽ lên nỗi chết
đang chờ hóa sinh
từ cơn đau của phù linh
một thân xác mới vô tình hoài thai
(Tử tù)
Giấc mơ vô thức cũng là cách thể hiện có thành tựu của Nguyên Quân trong Lục bát rời. Những ấn tượng trùng phức trong thơ thường diễn ra trong giấc mơ “quờ tay tìm một chỗ ngồi/ tụng câu thơ cũ bồi hồi tuổi thơ/ gánh gồng tất cả giấc mơ/ lấp không đầy một khuyết bờ cho nhau” (Quờ). Cũng qua giấc mơ, nhà thơ triết nghiệm về quá khứ, lịch sử và cội nguồn của dân tộc để hiểu thêm về tang thương, dâu bể cuộc đời:
ngửa bàn tay với bình minh
nước xao ngọn sóng vô tình chạm đau
hồn linh trôi dạt đáy sâu
mẹ tìm trăm trứng bể dâu lạc lòng
bàn chân giao chỉ long đong
mấy ngàn năm rướm một dòng máu tươi
ôm lòng hào khí bao đời
chỉ mơ thôi
cũng lưng trời tang thương
(Chỉ là mơ)
Liên hệ xa đến liên hệ gần. Mà gần nhất là tình yêu - những trạng thái xúc cảm còn lại sau những yêu đương và mơ mộng, sau những liên tưởng thành bại trong trường tình: “buồn em - thả sợi tóc buồn/ khỏa tay - vớt mộng lênh đênh giữa dòng/ sương khuya - bủa lưới trên sông/ lạnh lùng đánh bắt - tiếng chuông không bờ” (Đêm trên sông Hàng Bè). Nhưng rồi tất cả cũng chỉ là thủy chung ảo ảnh mù xa: “từ trong trí nhớ u mê/ con đom đóm - nhớ câu thề thủy chung” (Ở núi).
Tâm linh lục bát thơ Nguyên Quân thường xuất hiện tâm lý chản nản và đi tìm ruồng rú, truông, hồ để rong ruổi qua đêm cùng bóng ma ẩn hiện. Câu hỏi và tiếng rú như là những hòa âm không cần câu trả lời vì mọi thực tế được nhà thơ nhìn qua thao thức bóng âm và lang thang đêm trắng.
- thao thức đom đóm lửa mù
hong tay đón
những cánh phù du rơi
sáu năm làm bóng ma trơi
dốc rừng truông núi
cạn hơi suối nguồn
(Đi trầm)
- đêm ni chán ngán đất trời
hú lên một tiếng
nghe rười rượi sương
môt mai đi đứng tầm ruồng
soi đêm hỏi bóng
hỏi luôn tên mình
(Say cùng)
Đi là hành trình tìm và gặp. Gặp người và gặp ma cũng là cảm thức tâm linh trong thơ Nguyên Quân. Đó cũng là âm bản của cõi dương mà thôi. Nhưng nhìn bằng con mắt âm bản sẽ dễ gặp thế giới tâm linh và dễ ẩn dụ những hiện thực trần thế hơn là nhìn bằng con mắt dương bản. Thơ lục bát Nguyên Quân, vì vậy, có chút phù phép của ngôn từ.
phố khuya
lú lẫn tiếng người
ngậm tăm đi đứng
nói cười với ma
đèn trong thành cổ vàng nhòa
mùi thơm hoa mộc thoảng qua huyền hồ
thao thức một ngõ phù trầm
phố khuya
ai thắp hương trầm cúng ai
(Khuya)
Tôi đã thử đi tìm thông điệp lục bát Nguyên Quân ở góc nhìn tâm linh, vô thức nhưng chưa chắc đã nói hết những gì mình cảm nhận. Vì ngôn từ là một vô thức mông lung và ảo ẩn, như cách phát hiện kỳ thú của Jacques Lacan: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ”. Hy vọng sẽ có nhiều cách đọc đồng sáng tạo khác với nhiều hướng tiếp cận khác để có cách giải mã hiệu quả riêng về lục bát của Nguyên Quân.
Lục bát rời của Nguyên Quân đã để lại những ấn tượng thi pháp đặc biệt. Tâm linh lục bát mà chúng tôi tìm hiểu cũng chỉ là một trong những ấn tượng, chứ không phải là tất cả. Nhưng đây là ấn tượng có tính đặc thù của tâm thức sáng tạo trong thơ Nguyên Quân. Tìm hiểu hết chiều sâu của tâm linh lục bát qua các phương thức, phương tiện hình thức như: ngôn ngữ, mô hình câu thơ, vần điệu, nhịp điệu, biểu tượng, biểu trưng, cách vắt dòng, bậc thang… càng làm sáng tỏ “hình thức mang tính quan niệm” cho các dạng thái tâm linh trong Lục bát rời, nhưng rất tiếc, trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể thực hiện được những nội dung khó khăn đó. Vì vậy, đây chính là hướng nghiên cứu bổ sung khác cho nhưng ai quan tâm đến lục bát của Nguyên Quân.
Vỹ Dạ, đêm 23/11/2015
H.T.H
(TCSH325/03-2016)
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.
VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời làm người Phạm Duy
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.
MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.
NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.
LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.
MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.
LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH
MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.
LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.
NGUYỄN KHẮC PHÊ (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.
NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.