LÂM HẠ
Tôi có một mối giao tình kỳ lạ với Karen.
Minh họa: Nhím
Tôi quen cô trên một trang mạng dành riêng cho mấy con mọt sách, và tình cờ vào một buổi chiều mưa bay bay, tôi lướt qua một tấm ảnh chụp mấy cuốn sách của nhà văn Kim Thúy, một nhà văn Canada gốc Việt. Tôi vào trang cá nhân của Karen, đọc thông tin biết cô là công dân Canada, có sở thích đọc sách khá giống tôi. Đắn đo cả buổi chiều, tôi quyết định kết bạn.
Tôi thường đắn đo trong việc kết bạn mới. Khi người ta trưởng thành, việc kết bạn dường như trở nên khó khăn. Nó không đơn giản như tình bạn thuở hàn vi, bạn hồi mẫu giáo, các cấp học phổ thông hay bạn bè vô tình gặp trong những cuộc phiêu du trên những miền đất mới. Kết bạn trên các kênh mạng xã hội lại càng khó hơn, vì thậm chí cả đời chúng ta chẳng biết gì về người đó, nhưng lại bị người đó chi phối đời sống của mình.
Vậy tại sao tôi kết bạn với Karen?
Tôi không rõ lắm, một phần vô thức thôi thúc tôi muốn có sự liên kết với con người này, một người xa lạ, ở một đất nước xa lạ. Chỉ vì cô ấy đọc sách của một nhà văn gốc Việt ư?
Cuộc truyện trò của chúng tôi, hẳn nhiên là bằng tiếng Anh, ngôn ngữ thông dụng nhất thế giới.
“Xin chào, cho tôi làm quen với bạn được không? Tôi là Yên Chi, tôi là người Việt Nam”.
“Ồ, hân hạnh được làm quen bạn, tôi vừa đọc xong hai tác phẩm của một nhà văn gốc Việt, và tôi rất thích”.
“Bạn thật may mắn, tôi chưa được đọc những tác phẩm đó, vì chúng chưa được dịch”.
“Thật sao? Tại sao quốc gia của bạn lại không dịch sách của nhà văn gốc Việt”.
…
Tôi thực sự không biết phải trả lời cho Karen thế nào, vì bản thân tôi cũng không lý giải được tại sao lại như vậy. Có thể ngành xuất bản chưa mua được bản quyền, hay vì một lý do nào khác, tôi hoàn toàn không biết.
Thấy tôi không trả lời, Karen chuyển chủ đề.
“À, tôi thích đọc văn học châu Á lắm, tôi cũng thích tìm hiểu về ngôn ngữ vùng đất ấy, và tôi cũng thích tiếng Việt nữa, sau khi đọc Mãn và Ru của Kim Thúy”.
“Vậy khi nào có thời gian bạn kể cho tôi nghe về hai cuốn sách ấy nhé”.
“Ok”.
Cuộc trò chuyện buổi ban đầu chỉ dừng lại ở đó, tôi có thể hỏi Karen về nội dung của hai cuốn sách ấy, sơ lược thôi, nhưng tôi đã phải kiềm chế niềm háo hức đó lại. Vì sao?
Vì xấu hổ, vì sự xấu hổ khi một người Việt lại hỏi người nước ngoài về nội dung những cuốn sách của một nhà văn gốc Việt. Nếu muốn tôi có thể đặt hàng trên các kênh trực tuyến mua về, nhưng tôi vẫn hy vọng chúng được dịch hơn, đọc ngôn ngữ mình tạo cho tôi có một cảm giác an toàn.
Vài ngày sau, tôi đọc được bài viết sơ lược về hai cuốn sách ấy, Karen dành khá nhiều tình cảm cho chúng, và muốn hiểu ý nghĩa của tên sách như chính ngôn ngữ ấy.
Tôi gọi video cho Karen, hỏi cô có muốn tôi phát âm bằng Tiếng Việt tên sách không, cô đồng ý.
“Ru, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là hát ru, ở Việt Nam các bà mẹ thường hát nho nhỏ, những điệu hát dân ca ru trẻ con”.
Tôi vừa phát âm, vừa diễn tả hành động ôm một đứa trẻ, đưa qua đưa lại, nựng nịu.
“Ồ, thật thú vị”.
Tôi phát âm tiếng Anh từ “lullaby” và cảm giác như từ ấy cũng du dương như một điệu hát ru.
Câu chuyện của chúng tôi dần trở nên thân mật hơn, khi tôi phát hiện ra Karen có một kho sách mà tôi mơ ước, những cuốn sách tôi mong đợi mà mãi chẳng được dịch.
Một buổi sáng đẹp trời, cô đăng một tấm ảnh toàn bộ sách của nữ nhà văn Toni Morrison mà cô đã đọc, tôi sững người ngắm nhìn tài sản của cô ấy, cảm thấy vô cùng ghen tị.
“Tôi mới được đọc ‘Beloved’, ở tôi không dịch nhiều tác phẩm của bà lắm”.
“Thật vậy ư? Bà ấy có rất nhiều sách mà bạn mới chỉ đọc một cuốn ư?”
“Ừ”.
“Ôi trời, bạn thật tội nghiệp”.
Tôi không biết phản ứng của Karen là thương hại hay thương thật tôi. Tôi có tội nghiệp không khi không được đọc những cuốn sách đó? Có bao nhiêu người trên thế gian này cả cuộc đời không đọc sách, nhưng chắc gì họ đã tội nghiệp?
Hay tất cả chúng ta đều tội nghiệp, theo cách này hay cách khác, theo cái nhìn của người này người khác?
Bẵng đi một thời gian, tôi không trò chuyện với Karen nhiều nữa. Có lẽ vì cái thói ích kỷ và hay tự ái. Tôi có bệnh tự ái từ khi còn bé, hễ ai động đến mình hay nói bóng gió xa xôi gì là tôi cho rằng họ đang mỉa mai mình. Một thói tật xấu.
Tôi nhớ hồi cấp một, hôm đó là ngày nghỉ, cô giáo xuống nhà bảo tôi đi tập văn nghệ. Vào phòng tập tôi gặp lũ bạn đang chơi đùa, một đứa quay lại hỏi tôi.
“Sao Chi biết hôm nay tập văn nghệ mà tới vậy?”
Mặt tôi đỏ dần lên, hai tai lùng bùng. Trong đầu tôi lúc đó xoay mòng mòng hàng ngàn câu hỏi, tại sao tôi lại không có quyền được biết và đi tập văn nghệ? Chẳng lẽ chỉ có các bạn xinh đẹp giỏi giang con nhà khá giả có ba mẹ đưa đón đi học mỗi ngày mới được diễn văn nghệ ư?
Tôi không trả lời quay người đi thẳng về nhà.
Hôm sau, cô hiệu trưởng gọi riêng tôi lên văn phòng.
“Chi này, bạn hỏi vậy không phải vì bạn có ý gì với con, chỉ là bạn muốn biết tại sao con biết chuyện tập văn nghệ, thì con có thể trả lời bạn rất đơn giản là các cô đã xuống nhà chở con lên. Con hiểu không?”
Tôi ngồi im không trả lời, tôi biết cô giáo đã nhìn thấu cái tính tự ti của mình. Nhưng tôi là đứa bướng bỉnh, nên chỉ gật đầu ra chiều đã hiểu, và vẫn nhất quyết không tập văn nghệ nữa.
Khoảng một tháng sau, tôi lướt qua trang Karen thì thấy cô đang đọc và xem phim chuyển thể từ sách của Margaret Atwoot, một nhà văn gốc Canada. Chẳng lẽ tôi lại đi ghen tị cả cái gốc gác của Karen? Chúng ta đâu có quyền quyết định nơi chúng ta sinh ra cơ chứ.
“Bạn thật sung sướng, quốc gia của bạn có nhiều nhà văn tài giỏi quá”.
“Bạn cũng thích Margaret Atwoot hả?”
“Ừ, rất thích. Nhưng ở tôi dịch ít sách bà lắm, và chưa thấy cuốn thơ nào của bà được dịch”.
“Ồ thật sao, thơ bà rất tuyệt”.
Tôi dừng cuộc nói chuyện lại, vì sợ hai từ “tội nghiệp” lại được cô bạn thốt ra.
Một buổi tối, Karen viết cảm xúc của mình về bộ phim “The Lady”, phim về cuộc đời nữ nhà văn Aung San Suu Kyi, một chính trị gia người Myanmar. Cô nói cô đã khóc khi xem đến đoạn bà ấy nghe tin chồng mình đã mất.
Tôi thấy lần này mình may mắn hơn, vì đã xem bộ phim đó, nên đủ tự tin nói chuyện với cô.
“Tôi cũng rất thích bộ phim đó, cảnh quay khi bà nhận được điện thoại báo chồng mình mất thật đẹp và cô độc, cả lúc bà cố gắng nghe qua radio về tin mình được nhận giải Nobel”.
“Đúng, nhưng đó là giải Nobel Hòa bình”.
“Ý bạn là sao?”
“Nếu là một nhà văn bạn muốn mình nhận Nobel Văn chương hay Nobel Hòa bình?”
Tôi giật mình, tôi chưa từng đặt ra câu hỏi đó khi xem phim cũng như tìm hiểu về cuộc đời của bà ấy hay khi đọc sách bà viết. Bà ấy là một nhà văn hay một chính trị gia? Một nhà văn có thể làm chính trị hay một nhà chính trị có thể làm nhà văn? Hay chẳng có bất cứ tên gọi chính xác nào cho một số phận phải gánh chịu sứ mệnh của lịch sử.
Nếu bà không trở lại quê hương nhận lấy trách nhiệm cho số phận mình thì bà có được ở bên cạnh chồng khi ông mất không?
Tôi bắt đầu sợ những lần trò chuyện cùng Karen, cô làm tôi có những cái nhìn thật khác lạ, khác hoàn toàn điểm nhìn của tôi trước ngày quen biết cô. Tôi tự hỏi đó là kết quả của quá trình giáo dục tại quốc gia cô, hay tự thân cô ấy có những suy nghĩ ấy? Tôi sợ mình trở nên ngốc nghếch, trở nên bé nhỏ, và luôn hoang mang sau những cuộc trò chuyện ấy.
Tôi bắt đầu nhìn nhận mọi việc qua đôi mắt của Karen.
Nếu đọc cuốn sách này cô ấy sẽ nghĩ gì? Nếu xem bộ phim này cô ấy sẽ có cảm nhận thế nào?
Tôi thú nhận điều đó với Karen.
“Dạo gần đây, tôi thường suy nghĩ giống như bạn, khi đọc sách hay xem phim, hoặc làm gì đó”.
“Ồ, vậy sao? Rồi bạn thấy thế nào?”
“Khá thú vị, không giống như tôi trước kia nữa”.
“Vậy bạn nói chuyện với tôi làm gì khi bạn giống tôi?”
…
Tôi câm lặng.
Tôi bắt đầu đi tìm chính bản thân mình.
Làm sao để sống giữa chốn lao xao, mình vẫn là mình, vẫn học được những điều thú vị từ người khác mà không giống họ?
Tôi lại nhớ về thói tật ngày bé của mình, tính tự ái vị kỷ. Sống với cái tôi quá lớn sẽ gây hiểu lầm và đôi khi làm tổn thương những người xung quanh, nhưng sống giống kẻ khác thì mình sẽ là ai, là ai?
Một ngày nắng lung linh, tôi thấy Karen chụp ảnh cùng Kate Tempes, là một nhà thơ người Anh, một nghệ sĩ âm nhạc, tiểu thuyết gia và nhà viết kịch. Tôi tìm hiểu về Kate Tempes và khá bất ngờ, cô ấy không phải là một nhà văn dịu dàng mà là một rapper cá tính.
“Ở nơi tôi, chẳng mấy nhà thơ nữ như thế đâu, người ta nghĩ nhà thơ thì nên dịu dàng”.
“Ồ, thật vậy sao? Tại sao lại nghĩ nhà thơ nên như vậy?”
Tôi cũng hoàn toàn không thể lý giải nổi, một nhà thơ thì nên thế nào.
Cả tuần, tôi không trò chuyện cùng Karen, mà đi tìm câu trả lời cho những suy nghĩ mông lung của mình. Nghĩ mãi rồi cuối cùng tôi cười chào thua, nhà thơ thì là nhà thơ thôi, vốn dĩ thế nào thì nên thế ấy.
Đôi khi tôi thấy mình hơi vu vơ.
Cách đây vài hôm, Karen khoe với tôi là đã đọc xong những tác phẩm của David Foster Wallace và đang xem phim về ông, bộ phim “The end of the tour” (Những ngày cuối của chuyến lưu diễn), kể về ít ngày cuối cùng của chuyến lưu diễn giới thiệu cuốn sách Infinite Jest (Trò đùa vô tận) của Wallace năm 1996, khi nhà báo của tờ Rolling Stone là David Lipsky (bút danh của Jesse Eisenberg) theo sát gót để viết tiểu sử sơ lược về nhà văn này.
“Tôi thích ông ấy lắm”.
“Rất tiếc, tôi chưa biết gì về ông ấy cả”.
“Ôi, vậy bạn phải tìm hiểu về ông ấy đi, ông ấy thú vị lắm đấy”.
“Hình như sách ông ấy chưa được dịch ở nơi tôi”.
“Buồn quá, vậy bạn xem phim cũng được, hoặc đọc bài diễn văn của ông ấy trước vậy”.
Tôi tìm kiếm trên các trang mạng và đọc được bài diễn từ của David Foster Wallace tại buổi lễ tốt nghiệp ở trường Kenyon College, Gambier, Ohio, Mĩ, vào ngày 21/5/2005. Bài diễn từ ấy bắt đầu với một hình ảnh rất thân quen nhưng lại vô cùng kỳ lạ:
There are these two young fish swimming along, and they happen to meet an older fish swimming the other way, who nods at them and says, “Morning, boys, how’s the water?” And the two young fish swim on for a bit, and then eventually one of them looks over at the other and goes, “What the hell is water?”
(Có hai con cá con đang bơi cùng nhau, và chúng nó tình cờ gặp một con cá già hơn đang bơi theo hướng khác, con cá này gật đầu chào tụi nó và nói, “Chào buổi sáng các chàng trai, nước thế nào rồi?” Và hai chàng cá bơi tiếp một đoạn, sau đó rốt cuộc một con nhìn con kia rồi nói, “Nước là cái quái gì nhỉ?”)
Tôi tự hỏi nếu mỗi sớm tôi thức dậy, gặp một người già người ấy sẽ hỏi tôi điều gì?
Hôm nay không khí thế nào cháu? Hôm nay đất thế nào cháu? Hôm nay gió mây thế nào cháu?
Chưa người lớn nào hỏi tôi như vậy. Tôi chỉ nhận được những câu hỏi rất thông thường như: Sao chưa lấy chồng cháu? Công việc ổn định không cháu? Hàng tháng thu nhập bao nhiêu cháu?
Thú thực là chưa ai hỏi tôi những câu hỏi đơn giản đến khó trả lời nhường kia, tôi giật mình vì chính bản thân cũng chưa bao giờ tự hỏi mình những câu hỏi ấy.
“Karen này, bạn có thấy tôi và bạn giống hai con cá đó không?”
“À, có thể, giá mà chúng ta được ngồi nghe ông ấy đọc bài diễn từ đó. Nhưng tôi biết ‘Water’, ngôn ngữ của bạn đọc nó là gì?”
“Nước”, tôi viết rõ tiếng Việt.
“Bạn đọc nó lên đi”.
Tôi đánh vần và đọc lên, Karen trên màn hình mỉm cười, phát âm theo.
“Hay quá, tiếng Việt thật hay”.
Từ buổi ấy, mỗi sớm ngủ dậy, tôi bắt đầu ngày mới bằng cách đánh vần từ “Nước”.
N-Ư-Ớ-C: nó có chứa vần “ước”, đọc gần như “ướt”.
Và bây giờ, tôi nghĩ mình sẽ xem bộ phim mà Karen đã giới thiệu, vừa xem phim tôi vừa đi tìm câu trả lời cho bài diễn từ của David Foster Wallace.
“Nước là gì?”
L.H
(SHSDB31/12-2018)
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.