Với Thạch Lam

09:08 06/08/2014

HỒ DZẾNH
         Hồi ký

Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                             NGUYỄN DU

Nhà văn Thạch Lam - Ảnh: internet

Mỗi độ giao mùa, gió heo may trở lạnh, tôi lại xao xuyến nhớ tới Thạch Lam. Tôi nhớ anh những hôm đi qua phố Hàng Đào, Hàng Ngang, tưởng chừng như phong vị một "Hà Nội băm sáu phố phường" vẫn còn phảng phất đâu đây. Trước Thạch Lam, chưa mấy ai phát hiện được đầy đủ cái thi vị, tinh hoa của những món quà thổ ngơi Hà Nội, khoan nói đến nghệ thuật thưởng thức như anh, với tấm lòng nâng niu, trân trọng. Và cũng ít có cây bút nào như anh, mất rồi mà cũng còn lưu lại trong lòng độc giả những cảm xúc bâng khuâng, những cái "rùng mình đột khởi theo ngọn gió mùa", trước số phận hẩm hiu của lớp người nghèo khổ.

"Lòng tôi se lại khi nghĩ rằng chỉ một chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đủ nâng đỡ, an ủi những con người cùng khổ ấy".

Ai viết câu đó?

Thạch Lam.

Tôi quen Thạch Lam, hay đúng hơn, đến với Thạch Lam trước sau năm lần. Ba lần đầu, tôi "đến" bằng hai bài viết đăng báo và một tập truyện còn trong bản thảo. Hai lần sau, tôi đến thăm anh tại nhà riêng, một ngôi nhà nhỏ xây trên Hồ Tây, nối con đường làng lát gạch bằng một lối nhỏ chạy vào sân, phía trước trồng một cây dương liễu. Tôi còn đến thêm một lần, lần thứ sáu, nhưng lần này, Thạch Lam không còn ngồi nói chuyện với tôi nữa. Anh đã ra đi...
 

Thạch Lam qua nét vẽ Đinh Cường - Ảnh: internet

Hồi đó, vào khoảng năm 1940, tôi cho đăng thiên truyện hồi ký của tôi trên tập san "Mùa gặt mới" của Nhà xuất bản Tân Việt ở phố Hàng Cót, Hà Nội, truyện nhan đề là "Người chị dâu tôi" Thạch Lam để ý đến bài đó và nhắn Như Phong bảo tôi đến tòa soạn báo Ngày Nay nhận bức thư khen do anh viết. Khi ấy, tôi còn trẻ, nhiều tự ái, nên không đến. Sau này tôi cứ ân hận mãi về cái thái độ thiếu nhã nhặn của mình.

Lần thứ hai, tôi "đến" với anh qua bài thơ "Mầu cây trong khói" (sau này đổi tên thành bài "Chiều"), đăng trên tờ báo "Người Mới", một tờ báo nhỏ chuyên sống bằng quảng cáo, ở phố Hàng Chiếu. Tuy nhỏ, nhưng "Người Mới" vẫn được trao đổi với đủ các tờ báo đương thời, kể cả báo Ngày Nay. Chính vì thế mà Thạch Lam đã đọc bài thơ tôi viết. Sau này, khi đã quen nhau rồi, anh hỏi tôi khá tỉ mỉ về xuất xứ bài thơ, thời gian làm ra nó. Tôi kể với anh là tôi làm bài thơ đó ở Bằng Tường, hồi tôi theo người anh ruột sang đặt đường sắt nối liền Quế Lâm với Lạng Sơn để quân đồng minh vận chuyển vũ khí phòng thủ Đông Dương. Tôi đứng ở biên giới Việt - Hoa, ngay cạnh "ải Nam Quan", trước một khung cảnh rừng núi âm u. Hai bên tôi là hai đất nước - hai đất nước của tôi - mà sao lòng tôi lúc bấy giờ cảm thấy ngậm ngùi, đơn độc, tưởng đâu mình chỉ là một lữ khách tha hương! "Tôi là người lữ khách, mầu chiều khó làm khuây...". Chiều núi rừng yên ắng quá, cơ hồ chỉ cần một tiếng động vừa, cũng đủ vang vọng về xa. Cảm hứng chợt đến, tôi xé vội bao thuốc lá, lấy bút chì ghi những ý nghĩ trong đầu, rồi gấp lại cho vào túi. Mấy hôm sau, đem áo ra giặt, thấy bài thơ, tiếc rẻ, tôi chép lại. Tôi còn nhớ, nghe tôi kể xong, Thạch Lam mỉm cười, giọng thủ thỉ:

- Có thể thế lắm. Trong văn chương vẫn có những phút bất ngờ. Tôi thích bài đó vì cái hơi thơ tự nhiên của nó, và vì nhạc điệu nữa.

Thạch Lam chú ý đến nhạc điệu bài "Chiều", thì hơn ba mươi năm sau, Dương Thiệu Tước cũng đem ra phổ nhạc. Từ đây, tôi thường bâng khuâng man mác khi nghe giọng ai đó ngân lên từ một nơi nào tưởng chừng như không thật! Và tôi lại liên tưởng đến lần gặp gỡ với Thạch Lam.

Rồi tới một hôm, đáp chuyến xe lửa từ Hải Phòng về Hà Nội. Tôi thấy một hành khách lên nửa đường, từ ga Cẩm Giàng, tới ngồi cạnh tôi. Lúc đó tôi vừa đọc lại xong tập bản thảo của mình còn lấy nhan đề chung là "Người chị dâu tôi", thì người khách hỏi mượn xem, vì hôm ấy toa tàu chúng tôi ngồi rất vắng. Đến khi tàu từ từ dừng lại ở ga đầu cầu Long Biên, chuẩn bị xuống, anh ta ướm hỏi tôi xem có thể mượn về nhà đọc được không, và hứa một tuần sau sẽ đem trả tận nhà. Vì còn giữ lại được bản thảo viết lần thứ nhất nên tôi đưa ngay, sau khi trao địa chỉ của tôi cho anh, nhưng lại quên khuấy không hỏi địa chỉ người mượn. Đúng một tuần sau, anh đến trả lại cho tôi thật, niềm nở bắt tay tôi và ngỏ ý, nếu tôi muốn, anh sẽ viết cho bài tựa. Và anh tự xưng tên anh: Thạch Lam. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa xúc động mạnh. Tại sao một nhà văn lúc bấy giờ đã có tên tuổi, có uy tín như anh, lại có thể đến với tôi một cách giản dị, tự nhiên và cởi mở đến thế? Điều băn khoăn của tôi về sau này đã được giải đáp, qua câu chuyện tâm sự nhẹ nhàng của anh, khi chúng tôi chính thức gặp nhau lần thứ nhất.

Quê Thạch Lam ở Quảng Nam. Trong họ hàng anh, có người từ mấy đời trước, đã sống trong làng "Minh hương", giữa lớp người đầu tiên di cư sang Việt Nam từ Trung Quốc, sau khi triều đình nhà Minh bị lật đổ. Thì ra, trong tình yêu một nước Việt Nam thân thương gần gũi, vẫn bàng bạc mối quan hoài về một nơi chốn xa xôi... Tôi nghĩ rằng, trước đây, nếu tôi viết "dở" hơn là viết "được", thì Thạch Lam vẫn cứ có thể là người anh tìm đến với tôi, khuyến khích tôi trong bước đầu sáng tác.

***

Thoạt đặt chân lần đầu đến nhà Thạch Lam, tôi không ngờ anh lại sống giản dị và thanh bạch đến thế: bộ bàn ghế thô sơ bằng mây, mấy cái bát da lươn đựng nước chè xanh mời khách, và đây đó trên tường vài bức tranh tĩnh vật. Sóng hồ Tây vỗ đều đều vào ba phía móng nhà, làn gió vuốt ve mái tóc rũ dài của cây dương liễu. Đây là một nơi nằm giữa vùng Yên Phụ, mà sao tôi cảm thấy như xa cách hẳn với Hà Nội phồn hoa.

Thạch Lam có vẻ gầy hơn hôm đến trả sách cho tôi. Đôi mắt anh thường ngày sáng, lúc này đã đượm buồn, giọng nói đã yếu - anh đang bị bệnh phổi, một căn bệnh lúc bấy giờ chưa có thuốc điều trị. Tuy vậy, anh vẫn vui vẻ tiếp tôi, cho tôi biết những điều tôi muốn biết về anh, về tác phẩm của anh. Giữa lúc chúng tôi đang ngồi nói chuyện, thì có một người khách đến chơi. Thạch Lam nhẹ nhàng lấy ngay tờ báo bên cạnh, kín đáo che lại tập bản thảo tôi mang tới nhờ anh đề tựa, như anh đã hứa. Cử chỉ đó thật nhã nhặn và lịch sự.

Trái hẳn lại với cái mạch văn trôi chảy và cốt truyện giản dị của mình, Thạch Lam là người viết rất khó khăn vì rất thận trọng. Có những truyện anh phải viết đi, sửa lại tới bốn lần như truyện "Sợi tóc", "Một cơn giận", "Nhà mẹ Lê". Anh ưa dùng lối kể chuyện để mào đầu, dần dần đi sâu vào những tình tiết và cuối cùng kết thúc bằng một hình tượng tổng quát, nó là cái nền cho truyện anh thêm phần bền chặt và đặc sắc. Bút pháp này thường thấy ở Ăngdrê Môroa. Càng nghe anh kể, người đọc càng bị cái duyên thầm, cái đẹp lôi cuốn cho đến khi cây bút của anh dừng lại.
 

Nhà văn nhà thơ Hồ Dzếnh - Ảnh: internet

Tôi nhớ mãi những điều anh nói với tôi về cái truyện "Sợi tóc", chuyện tả một anh chàng này ra ý định lấy cắp hai tờ giấy một trăm trong chiếc ví tiền của bạn, chỉ vì vô tình cầm nhầm áo của nhau. Sự nhầm lẫn không đâu ấy đã dẫn tới một cuộc giao tranh thầm lặng mà day dứt, trước cái ví tiền lấp ló thò ra ngoài miệng túi, - giữa cái xấu và cái tốt luôn luôn tiềm ẩn trong con người: lấy hay không lấy? Thạch Lam thích thú với những tình tiết, tâm trạng éo le, phức tạp đó, nó có thể xảy ra cho mọi người, cho chính tác giả nữa, vì nó rất "người", rất hiện thực. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở tình tiết không thôi, truyện ngắn chưa đủ sức tồn tại. Thạch Lam thao thức, suy nghĩ, và cuối cùng anh đã tìm ra "Sợi tóc", cái sợi tơ mỏng mảnh đi xuyên suốt câu chuyện, và trở thành một dạng triết lý đầy mầu sắc lãng mạn tự nhiên. Sợi tóc đó, theo tôi nghĩ, "đắt" hơn là hình tượng chiếc lá phân định ranh giới giữa địa ngục và thiên đường, như trong một truyện ngắn của Xômớcxét Môôm.

Thạch Lam là một nghệ sĩ say mê ngôn ngữ. Anh chắt chiu, chọn lọc, mài giũa từ ngữ, âm thanh, cho kỳ chúng diễn đạt được thanh thoát những điều anh suy ngẫm mới thôi. Có những đoạn văn anh viết, đến bây giờ, gần nửa thế kỷ đã qua, đọc lên ta vẫn còn thấy như mới: "Chợ họp giữa phố vãn từ lâu rồi... Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát, bụi quen thuộc quá, khiến chị em liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này"...

Đọc đoạn văn đó, tôi chợt nghĩ đến mấy câu trong lá thư của một người từ bên Úc gửi về cho bạn: "Mình nhớ quá, nhớ đến xót xa, thấm thía, cái mùi phân trâu lẫn với mùi rơm rạ nồng nàn trên những nẻo đường thôn xóm. Ôi, đất nước, quê hương sao mà xa vời vợi!"

***

Tôi quen biết Thạch Lam hơi muộn và quá ít, tổng cộng những lần chúng tôi gặp nhau, nói chuyện với nhau, chỉ có mấy tiếng đồng hồ. Nhưng đó là mấy tiếng đồng hồ quý báu trong đời một người cầm bút như tôi. Và lần thứ sáu tôi đến, mang theo bản in bài tựa anh viết cho tập truyện "chân trời cũ" của tôi để anh xem lại, thì tôi chỉ còn thấy một quang cảnh vắng ngắt, một chiếc giường nhỏ trống trơn. Đợi một lát sau, tôi mới thấy bóng chị Thạch Lam lặng lẽ bước ra, đầu vấn khăn tang, nghẹn ngào cho tôi hay là anh đã mất được hơn một tháng!

Hóa ra bài tựa anh viết cho tôi mới hôm nào, lại là những nét chữ cuối cùng của anh - "Sợi tóc" đã bay đi, nhưng duyên tơ còn vương lại: Sóng hồ Tây vẫn vỗ đều vào ba phía móng nhà, và làn gió mơn man rung rinh cành cây dương liễu.

Tôi nhớ mãi hôm đưa tiễn tôi ra về - đưa tiễn lần sau chót - Thạch Lam dừng lại bên cây liễu, nói với tôi bằng một giọng thân mật:

- Nghề văn khó nhọc lắm đấy anh ạ. Hãy luôn luôn khiêm tốn và chân thực. Cần nhất là đừng hào nhoáng - anh dùng chữ "briller" - vì khi ta hào nhoáng cũng chính là khi ta bắt đầu...hết!

Anh Thạch Lam! Xin cảm ơn anh lần nữa, và mãi mãi cảm ơn anh!

Hà Nội, mùa thu 1996
H.D
(SH31/06-88)








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BỬU Ý

    Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.

  • LÊ QUANG KẾT
                   

    Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).

  • VŨ THU TRANG

    Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.

  • HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
                                      Đoản văn

    Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!

  • LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ

  • BÙI KIM CHI

    Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.

  • KIM THOA

    Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên        
          
                       (Hàn Mạc Tử)

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Hôm nay có một người du khách
    Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên         
     

    (Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.

  • LÊ QUANG KẾT                
                      Tùy bút

    Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.

  • TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.

  • LÊ QUANG KẾT

    Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.

  • HUY PHƯƠNG

    Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên         
                          
                                              (Tố Hữu)

  • PHAN THUẬN AN

    Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.

  • MAI KIM NGỌC

    Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.

  • HOÀNG HUẾ

    …Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…

  • QUẾ HƯƠNG

    Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.

  • THU TRANG

    Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.