Về hai văn bia ở Thanh Bình Từ Đường, nơi thờ tổ nghề hát bội triều Nguyễn

15:19 05/07/2019

VÕ VINH QUANG     

Thanh Bình từ đường, thờ tổ nghề hát bội của triều Nguyễn, tọa lạc ở kiệt 281 đường Chi Lăng, thành phố Huế là một địa điểm quan trọng trong truyền thống văn hóa nghệ thuật của đất Cố đô.

Thanh Bình từ đường - Ảnh: internet

Từ đường Thanh Bình thuở đầu triều Nguyễn được lập nên để vừa là nơi thờ cúng các vị tiên hiền nghề Tuồng cổ, và cũng là nơi tập hợp những quan viên của Thanh Bình thự (sảnh công Thanh Bình - đội Nhã nhạc triều Nguyễn) sinh hoạt và cư ngụ.

Nói về lai lịch Thanh Bình thự, sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 143: Doanh hiệu quân ở Kinh, mục “thư Thanh Bình” cho biết: “Gia Long năm đầu, mộ lập đội Việt Tường, để sung vào hầu trực ca múa. [Gia Long] năm thứ 5, nghị chuẩn: Đội Việt Tường, liệt vào hạng tòng tinh binh. Minh Mạng năm thứ 7, trích lấy biền binh ở vệ Vũ Thành 44 tên sung bổ vào đội Việt Tường. [Minh Mạng] năm thứ 9, đổi đội Việt Tường làm thự Thanh Bình. Những con cái ca kỹ ở các hạt Quảng Nam, Quảng Nghĩa [Ngãi], Bình Định, Phú An [Yên] cũng cho lệ thuộc thự ấy…1.

Lịch sử hình thành và trùng tu ở thế kỷ XIX, XX của Thanh Bình từ đường được biên thuật trong hai văn bia hiện đặt ở khuôn viên từ đường ấy. Hiện nay (tháng 11 năm 2018), từ đường đang được tiến hành trùng tu, sửa chữa và nâng cấp. Nhận thấy việc tìm hiểu quá trình tồn tại và biến đổi của Thanh Bình từ đường không thể không nắm rõ nội dung hai văn bia này, vậy nên chúng tôi xin được giới thiệu, dịch thuật và bước đầu khái lược về giá trị của các văn bia liên quan nói trên.

Hai văn bia hiện đặt ở hai phía (nhìn từ ngoài vào) trái, phải trước mặt từ đường Thanh Bình. Bên phải là tấm bia dựng năm Minh Mạng thứ 5 (1824) và bên trái là tấm bia dựng năm Mậu Tuất (1958). Hai bia có kích cỡ tương đương nhau, gồm: bia cao 110cm, rộng 62cm, trán bia dật góc và cao 62cm, diềm bia rộng 8cm. Về mỹ thuật trang trí, bia đá năm 1824 được tạo tác bằng hoa lá lượn sóng cách điệu; phía trán bia trang trí bằng đôi chim phượng chầu mặt trời. Phần dưới chân bia tạo hình bằng hoa lá cách điệu uốn lượn trên sóng. Bia đá năm 1958 là bia trơn, không trang trí. Dưới đây là bản dịch.

1. Văn bia năm Minh Mạng thứ 5 (1824)

Hán văn:


Phiên âm:

Minh Mệnh ngũ niên tứ nguyệt cát nhật tạo bi, ư Quý Mùi niên tam nguyệt sơ cửu nhật trùng tạo từ đường bi văn. Trường trung xuân thự, nghiễm nhiên vũ dật
2 uy nghi; Đường thượng vân khai, hòa chỉ thanh âm liệu lượng. Lịch số cổ kim lạc sự; Tẫn vi thiên hạ kì quan. Đường hoàng nhã điệu sạ khai, vận tuyên kim thạch; Cổ xúy hòa âm sơ thính, hưởng triệt vân tiêu. Tranh công đoạt diễm, quyết thái kham khoa. Ngoạn hí thưởng tâm bất nhất; nhi túc quân tể thiên thu. Tưởng tượng hoảng nhược diện tiền, anh hào vạn cổ; Y hi 3 nhan đồng mục hạ, mai tự lịch triều. Hữu tác tư đào, thanh nhạc điệt hứng. Giải dân uấn vu Ngu huyền 4, khánh vân trùng đổ; Truy thái giao 5 vu Chu yến, trạm lộ tái ca. Thẩn thời kiến: Khái thóa cung thương 6, bộ xu đạc luật. Điện đình bái vũ, chiêu gia mỹ chi quốc tường; Lang miếu hòa canh 7, bái uông dương chi đế trạch. Hạnh kim: Từ đường trùng tạo, trở đậu nhất tân. Kiêm hạt quan đa, lại đức công vô vong bội phục; Tân bi tạo vĩnh, lưu trần tích điên bá 8 canh ca.

Việt Tường đội Phân suất Cai quan Quang Đức bá Trương Văn Hiền, Ty quan Nghi Đức tử Nguyễn Văn Nhân, Viên chức Tống Phước Lân, Nguyễn Văn Uyên, Hoàng Văn Viết, Nguyễn Văn Phượng, Nguyễn Văn Nghiễm, Mai Văn Thống, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Bá Phú, Lê Công Huy, Nguyễn Văn Của, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Nương, Tống Phước Cải, Nguyễn Văn Phái, Lê Phúc Trạch, bổn đội đồng kiến lập.

Dịch nghĩa:


Ngày lành tháng 04 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) tạo dựng bia đá, [đây là] văn bia trùng tạo từ đường [hoàn thành] vào ngày 09 tháng 03 năm Quý Mùi (1823).

Trong sân xuân rạng, uy nghi múa dật chỉnh nghiêm; Trước điện mây bày, trong trẻo thanh âm hòa điệu. Trải khắp xưa nay hoan hỉ, tận cùng thiên hạ kỳ quan. Đường hoàng nhã nhạc chợt vang, lời xuyên vàng đá; Kèn trống hòa âm vừa vọng, tiếng thấu trời mây. Khéo tranh diễm lệ, quyết giữ khoa trương. Vờn giỡn, hân hoan muôn một; Vẹn tròn nghiệp đế thiên thu. Trước mặt tưởng tượng tựa hồ, anh hùng vạn cổ; Dưới mắt tỏ mờ tranh biện, quân ngựa lịch triều. Tạo tác kép đào, nhạc vang khởi hứng. Dân hết giận bởi Ngu cầm, mây lành cùng tỏ; Nước thái hòa nơi Chuyến, mưa móc lại ca.

Cũng thấy đây: Thổi tiếng cung thương, bước cùng âm luật. Điện đình lạy múa, tỏ điềm nước thịnh rạng ngời; Tông miếu nối lời, rưới ân vua tươi lênh láng.

May nay: Từ đường trùng tạo, lễ khí mới tươi. Quan quản lo nhiều, cậy đức công không quên khâm phục; Dựng bia còn mãi, lưu dấu cũ lay động hòa ca.

Đội Việt Tường [gồm]: Phân suất Cai quan là Trương Văn Hiền, tước Quang Đức bá; Ty quan là Nguyễn Văn Nhân, tước Nghi Đức tử; Viên chức là Tống Phước Lân, Nguyễn Văn Uyên, Hoàng Văn Viết, Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Nghiễm, Mai văn Thống, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Bá Phú, Lê Công Huy, Nguyễn Văn Của, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Nương, Tống Phước Cải, Nguyễn Văn Phái, Lê Phước Trạch cùng quan viên bổn đội đồng tạo lập.

2. Văn bia năm Mậu Tuất (Việt Nam Cộng Hòa, 1958)

Hán văn: 
越南共和戊戌年八月二十日,清平弟子等竊念: 酬恩報德, 改設重修, 奉事祖業賢哲 偉人陶成教化, 並諸前輩普及同業男女過故先靈永留後世, 以表功勳。所有謹受其人, 案分其事,以壯觀瞻,列計于左。計

督工黃玉璣,書記阮文坡,財政阮仲謹,弟子仝造立.
 


Phiên âm: 


Việt Nam Cộng Hòa Mậu Tuất niên bát nguyệt nhị thập nhật, Thanh Bình đệ tử đẳng thiết niệm: Thù ân báo đức, cải thiết trùng tu, phụng sự tổ nghiệp, hiền triết vĩ nhân, đào thành giáo hóa, tịnh chư tiền bối phổ cập đồng nghiệp nam nữ quá cố tiên linh, vĩnh lưu hậu thế, dĩ biểu công huân. Sở hữu cẩn thụ kì nhân, án phân kì sự, dĩ tráng quan chiêm, liệt kê vu tả. Kê: Đốc công Hoàng Ngọc Cơ; Thư kí Nguyễn Văn Pha, Tài chánh Nguyễn Trọng Cẩn, đệ tử đồng tạo lập.

Dịch nghĩa:


Việt Nam Cộng Hòa, ngày 20 tháng 08 năm Mậu Tuất (1958), các đệ tử của Thanh Bình [từ đường] trộm nghĩ: [nhằm] trả ơn báo đức, [các đệ tử] thiết đặt trùng tu từ đường, để phụng thờ tổ nghiệp, cùng các hiền triết, vĩ nhân đã giáo hóa cho nghiệp đào hát (hát bội), và các tiền bối khắp nơi, đồng nghiệp nam nữ, tiên linh đã khuất, để mãi truyền lưu hậu thế, tỏ ngời nghiệp lớn công cao. [Ghi chép] hết thảy người nào đã kính trao nhận, những việc khảo phân, để xem xét đầy đủ rõ ràng, liệt kê dưới đây. Kê:

Đốc công là Hoàng Ngọc Cơ, Thư ký Nguyễn Văn Pha, Tài chính Nguyễn Trọng Cẩn cùng các đệ tử đồng tạo lập.

3. Sơ lược nhận định về giá trị của hai văn bia từ đường Thanh Bình

Qua nội dung hai văn bia ở từ đường Thanh Bình, đối chiếu với những ghi chép về thự Thanh Bình trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, ta thấy thự Thanh Bình vốn tên là đội Việt Tường, một đơn vị Nhã nhạc (cùng đơn vị thự Hòa Thanh) thuộc bộ Binh của Kinh sư, được thành lập vào năm đầu niên hiệu Gia Long (1802). Có lẽ từ đường vốn đã được lập từ những năm đầu triều Nguyễn, và đến 22 năm sau, tức ngày 09 tháng 03 năm Minh Mạng thứ 4 (1823), từ đường Thanh Bình được chính thức hoàn thành việc trùng tạo; rồi cho khắc bi văn vào tháng 4 năm 1824 nhằm di lưu dấu tích. Bốn năm sau, vào năm Minh Mạng thứ 9 (1828), đội Việt Tường được đổi làm thự Thanh Bình. Đấy cũng chính là tên gọi chính thức của ngôi từ đường thờ tổ ngành Hát Bội triều Nguyễn cho đến hôm nay.


Trong hai văn bia ở từ đường, chúng tôi thấy văn bia năm Minh Mạng thứ 5 (1824) không chỉ có giá trị “khắc ghi” lịch sử tạo dựng từ đường, mà giá trị văn chương của văn bia này cũng rất đáng quan tâm tìm hiểu. Văn bia được viết theo thể tứ lục, biền ngẫu đầy tính nhạc, âm điệu nhịp nhàng, ngôn từ uyển chuyển, với nội dung ca ngợi, tự hào với nền thái hòa thịnh trị của vương triều cùng đất nước. Chẳng hạn như các đoạn: “Trường trung xuân thự, nghiễm nhiên vũ dật uy nghi/ Đường thượng vân khai, hòa chỉ thanh âm liệu lượng” 場中春曙,儼然舞佾威儀; 堂上雲開, 和止聲音嘹喨 (Trong sân xuân rạng, uy nghi múa dật chỉnh nghiêm; Trước điện mây bày, trong trẻo thanh âm hòa điệu); hay như cặp câu chuẩn đối “Điện đình bái vũ, chiêu gia mỹ chi quốc tường/ Lang miếu hòa canh, bái uông dương chi đế trạch” 殿庭拜舞,昭嘉美之國祥; 廊廟和賡; 沛汪洋之帝澤 (Điện đình lạy múa, tỏ điềm nước đẹp rạng ngời; Tông miếu nối lời, rưới ân vua tràn lênh láng)… Có thể nói tính đăng đối chuẩn mực tạo nên giai điệu trầm bổng, luyến láy, khiến độc giả tưởng chừng như bắt gặp những ca từ du dương, uyển chuyển đầy hào sảng ở văn bia này. Đấy có thể xem là điểm nhấn quan trọng trong quá trình tìm hiểu về các di vật ở nhà thờ tổ nghề Hát Bội nơi đây.

Đối với văn bia năm Mậu Tuất (1958), mặc dù nội dung ngắn gọn song cũng giúp ích cho độc giả và những người quan tâm thêm phần hiểu rõ quá trình trùng tu từ đường sau tầm 150 năm tồn tại (khoảng 1802 - 1958). Đợt trùng tu này (1958) diễn ra một thời gian sau khi triều Nguyễn cáo chung (1945), do các đệ tử của thự Thanh Bình hưng công góp của, chứng tỏ rằng nghề hát Bội (tuồng) ở Huế vẫn tiếp tục được duy trì khá tốt vào nửa cuối thể kỷ XX.

Tóm lại, bằng việc giới thiệu nội dung hai văn bia trên, chúng tôi mong muốn cung cấp thêm một nguồn tư liệu căn bản về từ đường Thanh Bình, nhằm cùng các di vật liên quan ở nơi đây (như các hoành phi câu đối, sắc phong, ảnh tượng, linh vị, tờ lưu chiểu…) góp phần làm rõ hơn một số giá trị độc đáo hiện tồn ở ngôi nhà thờ chư tổ nghề Tuồng cổ.

Huế, 15/11/2018
V.V.Q  
(TCSH363/05-2019)

---------------
1. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 9 (Viện Sử học dịch), Nxb. Thuận Hóa, tr. 221.
2. Vũ dật 舞佾: múa bát dật. Bát dật 八佾 là điệu múa dùng cho Thiên tử nhà Chu, Lễ định của Thiên  tử được bắt sáu mươi tư người múa bài bông, tám hàng, mỗi hàng tám người.
3. Y hi 依稀: phảng phất (彷彿), trạng thái không rõ ràng, lúc mờ lúc tỏ.  
4. Ngu huyền 虞絃: tiếng đàn cầm 5 dây đời Ngu Thuấn (cũng viết Ngu huyền 虞弦). Tiếng đàn của  Ngu Thuấn tượng trưng cho sự thanh bình thịnh trị, lễ nhạc vượng hưng.
5. Thái giao 泰交: tức chỉ đời thịnh trị (thịnh thế 盛世). Chữ này lấy ý từ lời Kinh ở quẻ Thái 泰卦 của  Kinh Dịch 易經: “Tượng viết: Thiên địa giao, THÁI” 象曰: 天地交,泰 (Lời Tượng nói rằng: Trời đất GIAO hòa là quẻ THÁI).
6. Cung thương 宮商: hai âm trong 5 âm của nhạc lý cổ, gồm cung 宮, thương 商, giốc 角, chủy 徵, 羽.  
7. Hòa canh 和賡: dùng thơ ca để tặng đáp, cũng viết là canh hòa 賡和. Chữ này cũng tương đương  với canh ca 賡歌 (hát nối, họa đáp lại thơ ca), canh xướng 賡唱(xướng họa lại thơ ca).
8. Điên bá 顛播: lay động không ngừng (diêu động bất định 搖動不定). Sách Tam quốc diễn nghĩa 三 國演義, hồi thứ 47 có đoạn: “Bắc binh bất quán thừa chu, thụ thử điên bá, tiện sinh tật bệnh” 「北兵 不慣乘舟,受此顛播,便生疾病」(quân phương Bắc chẳng quen đi thuyền, bị thuyền lay động không ngừng, khiến sinh ra bệnh tật).  



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐỖ XUÂN CẨM 

    Thành phố Huế khác hẳn một số thành phố trên dải đất miền Trung, không chỉ ở các lăng tẩm, đền đài, chùa chiền, thành quách… mà còn khác biệt ở màu xanh thiên nhiên hòa quyện vào các công trình một cách tinh tế.

  • KỶ NIỆM 130 CHÍNH BIẾN THẤT THỦ KINH ĐÔ (23/5 ẤT DẬU 1885 - 23/5 ẤT MÙI 2015)

    LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Huế, trong lịch sử từng là vùng đất đóng vai trò một trung tâm chính trị - văn hóa, từng gánh chịu nhiều vết thương của nạn binh đao. Chính biến Thất thủ Kinh đô 23/5, vết thương lịch sử ấy ăn sâu vào tâm thức bao thế hệ người dân Cố đô.

  • KIMO 

    Café trên xứ Huế bây giờ không thua gì café quán cốc ở Pháp, những quán café mọc lên đầy hai bên lề đường và khi vươn vai thức dậy nhìn xuống đường là mùi thơm của café cũng đủ làm cho con người tỉnh táo.

  • LTS: Diễn ra từ 10/6 đến 22/6/2015, cuộc triển lãm “Thừa Thiên Huế: 90 năm báo chí yêu nước và cách mạng” do Hội Nhà báo tổ chức tại Huế, trưng bày các tư liệu báo chí hết sức quý giá do nhà báo, nhà nghiên cứu Dương Phước Thu sưu tập, đã thu hút đông đảo công chúng Huế. Nhiều tờ báo xuất bản cách đây hơn thế kỷ giờ đây công chúng được nhìn thấy để từ đó, hình dung về một thời kỳ Huế đã từng là trung tâm báo chí của cả nước. Nhân sự kiện hết sức đặc biệt này, Sông Hương đã có cuộc phỏng vấn ngắn với nhà nghiên cứu Dương Phước Thu.

  • MAI KHẮC ỨNG  

    Một lần lên chùa Thiên Mụ gặp đoàn khách có người dẫn, tôi nhập lại để nghe thuyết minh. Nền cũ đình Hương Nguyện trước tháp Phước Duyên được chọn làm diễn đài.

  • LÊ QUANG THÁI

    Việt Nam giữ một vị thế trọng yếu ở ngã tư giao lưu với các nước của bán đảo Ấn Hoa và miền Viễn Đông châu Á.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
                            Tùy bút

    Mối cảm giao với Túy Vân khởi sự từ sự tạo sinh của đất trời trong lớp lớp mây trắng chảy tràn, tuyết tô cho ngọn núi mệnh danh thắng cảnh thiền kinh Cố đô.

  • PHẠM THÁI ANH THƯ

    Trong giai đoạn 2004 - 2013, nền kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH) đạt mức tăng trưởng khá cao so với mức bình quân của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng du lịch, dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. Đồng hành với mức tăng trưởng đó, nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đã đến đầu tư tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Một số nhà nghiên cứu đã chú tâm tìm kiếm nơi an táng đại thi hào Nguyễn Du ở Huế, sau khi ông qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820).

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN 

    Sông Hương vừa là cột mốc làm chứng vừa là biểu tượng cho dáng đẹp sương khói, “áo lụa thinh không” của lịch sử thăng trầm về hình bóng Huế.

  • ĐỖ XUÂN CẨM

    1. Đôi điều tản mạn về Liễu
    Người Á Đông thường coi trọng luật phong thủy, ngũ hành âm dương, họ luôn chú trọng đến thiên nhiên, cảnh vật và xem đó là một phần của cuộc sống tinh thần.

  • TRƯỜNG PHƯỚC  

    Đất nước hòa bình, thống nhất, thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đã 40 năm. Những thành tựu là có thể nhìn thấy được. Tuy nhiên, muốn phát triển, công cuộc đổi mới cần được thúc đẩy một cách mạnh mẽ có hiệu quả hơn nữa.

  • LƯU THỦY
     
    KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ (26/3/1975 - 2015)

  • LÊ VĂN LÂN

    Một mùa xuân mới lại về trên quê hương “Huế luôn luôn mới” để lại trong tâm hồn người dân Huế luôn trăn trở với bao khát vọng vươn lên, trả lời câu hỏi phải tiếp tục làm gì để Huế là một thành phố sáng tạo, một đô thị đáng sống. Gạt ra ngoài những danh hiệu, kể cả việc Huế chưa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, vấn đề đặt ra đâu là cái lõi cái bất biến của Huế và chúng ta phải làm gì để cái lõi đó tỏa sáng.

  • THANH TÙNG

    Ở Việt Nam, Huế là thành phố có tỉ lệ tượng lớn nhất trên diện tích tự nhiên và dân số. Không chỉ nhiều về số lượng mà còn đạt đỉnh cao về chất lượng nghệ thuật, phong phú về đề tài, loại hình, phong cách thể hiện.

  • ĐỖ MINH ĐIỀN

    Chùa Hoàng giác là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng nhất xứ Đàng Trong, được đích thân chúa Nguyễn Phúc Chu cho tái thiết, ban sắc tứ vào năm 1721. Tuy nhiên, vì trải qua binh lửa chiến tranh chùa đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Dựa trên nguồn sử liệu và kết quả điều tra thực tế, chúng tôi cố gắng để phác thảo phần nào nguồn gốc ra đời cũng như tầm quan trọng của ngôi chùa này trong đời sống văn hóa cư dân Huế xưa với một nếp sống mang đậm dấu ấn Phật giáo.

  • TRẦN VĂN DŨNG

    Cách đây đúng 500 năm (1514 - 2014), tại ngôi làng ven sông Kiến Giang “nơi cây vườn và dòng nước cùng với các thôn xóm xung quanh hợp thành một vùng biếc thẳm giữa màu xanh mênh mông của cánh đồng hai huyện”(1) thuộc xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, cậu bé Dương Văn An, sau này đỗ Tiến sĩ và làm quan đến chức Thượng thư được sinh ra đời.

  • DƯƠNG ĐÌNH CHÂU – TRẦN HOÀNG CẨM LAI

    Danh lam thắng cảnh, nơi cảnh đẹp có chùa nổi tiếng, khái niệm này càng rõ hơn ở Huế.

  • PHẠM HẠNH THƯ

    Du lịch Huế xưa
    Du lịch Huế có một lịch sử thơ ca dân gian gắn liền với những bước phát triển của mình.

  • LÊ VĂN LÂN 

    Khi nói đến xây dựng và phát triển Huế, không ai không nghĩ đó là một “thành phố xanh”. Đó không chỉ là suy nghĩ của những nhà đô thị hiện đại mà là một chuỗi trăn trở từ những người đầu tiên xây dựng Huế, những người dân bản địa đến các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, du khách đến Huế trong và ngoài nước.