Vận may

15:06 25/05/2009
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

Văn hào Mark Twain

Khoảng thời gian nội chiến, chuyển sang làm thợ mỏ ở bang Nevada. Suốt mùa đông lạnh giá, tiêu khiển bằng cách viết những bài viết ngắn, ký tên là Josh và gửi chúng cho tờ Enterprise (Kinh doanh) ở thành phố Virginia, Nevada. Joseph T.Goodman, chủ báo tờ Enterprise, dùng những bài viết của Clemens, thừa nhận khả năng của ông và nhận ông làm thông tín viên địa phương với số lương 25 đô-la một tuần. Thế là anh chàng thợ mỏ Clemens lội bộ 125 dặm trên những con đường gập ghềnh đến nhận việc. Thành công ngay từ đầu và được phái đi tham dự kỳ họp thứ nhất Viện lập pháp liên bang Nevada ở thành phố Carson với tư cách là phóng viên. Chính tại đây, bắt đầu ký bút danh Mark Twain cho các tác phẩm của mình. Làm việc ở San Phrancisco một thời gian, rồi lại quay về công việc khai mỏ. Trở thành nhà diễn thuyết cao giá, những bài viết rất được ưa chuộng. Năm 1870, lập gia đình với Olivia Langdon ở Elmira. Những khó khăn về tài chính buộc Clemens phải tìm một cuộc sống ít tốn kém hơn ở Châu Âu. Sau một chuyến đi nói chuyện vòng quanh thế giới, đến sống ở London và Vienna trong 4 năm. Năm 1904, quay về lại New York. Sau đó, tậu một mảnh đất ở Redding, Connecticut, trên đỉnh đồi có xây một căn nhà xinh xắn, sống nốt hai năm còn lại của đời mình tại đây. Mất vì bệnh tim.

Twain là người mở đường cho chủ nghĩa tự nhiên trong văn học, lấy châm biến và hài hước làm vũ khí. Ông phê phán sâu sắc nhiều mặt xã hội Mỹ cuối thế kỷ XIX.

Tác phẩm chính: Con ếch nhảy trứ danh của hạt Calevaras (1865), Thời đại hoàng kim (1873), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (1876), Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (1885), Hoàng tử và chú bé nghèo khổ (1882), Một người Mỹ vùng Connecticut trong triều đình vua Arthur (1889)...



Câu chuyện xảy ra ở London, trong một bữa đại tiệc chào mừng một trong số những quân nhân Anh sáng chói nhất của thời đại chúng ta. Vì những lý do tôi sẽ kể ra sau này, tôi xin được giấu tên thật của nhân vật đặc biệt này mà chỉ gọi ông là trung tướng Arthur Scoresby. Điều lý thú của câu chuyện nằm trong chính tước hiệu cao quí đó, ở đằng kia chính là con người ấy, một người bằng xương bằng thịt, người mà tôi đã nghe danh tiếng có đến hàng ngàn lần từ 30 năm trước, khi tên tuổi của ông đột nhiên trở nên lừng lẫy sau trận đánh Crimean, và sẽ còn được ghi nhớ mãi. Tôi ngắm nhìn con người huyền thoại đó, cố xét đoán và ghi nhớ dáng vẻ trầm tĩnh, dè dặt, sự trang nghiêm cao quí toát lên từ con người ông; cả sự trung thực một cách giản đơn, sự vô tư dễ mến của một con người vĩ đại. Hàng trăm cặp mắt ngưỡng mộ của những vị khách đang có mặt lúc đó dán chặt vào ông, những ánh nhìn tôn thờ chân thành và sâu sắc.

Bên cạnh tôi là một vị linh mục, một người quen cũ của tôi, người đã dành nửa đời mình sống trong các trại lính, xông pha nơi trận mạc và cũng từng là một giáo sư của một trường quân sự tại Woolwich. Đúng lúc tôi chợt nhận thấy một tia sáng là lạ, như che giấu điều gì le lói trong cặp mắt ông, ông bỗng nghiêng người, nói nhỏ vào tai tôi, phác một điệu bộ chỉ vào người anh hùng của buổi tiệc: "Bí mật nhé, ông ta là một tay đại ngốc".

Nhận định đó làm tôi sửng sốt. Nếu đó là nói về Napoleon hay Socrates, Solomon, tôi cũng không thể kinh ngạc hơn được. Có hai điều tôi biết râát rõ là: Vị linh mục là một người trung thực, những nhận xét của ông về mọi người luôn luôn đầy thiện chí. Chính vì vậy, không một chút hoài nghi tôi tin rằng thế giới này hẳn đã nhầm lẫn về vị anh hùng này: ông ta là một tên ngốc. Tôi nảy ra một ý định, vào một dịp thích hợp sẽ tìm hiểu xem làm thế nào mà vị linh mục, người luôn sống một cuộc đời xa lánh cô đơn lại phát hiện ra bí mật này. Vài ngày sau, cơ hội đến. Và đây là những gì vị linh mục kể lại cho tôi: 40 năm trước, tôi là một giáo sự giảng dạy ở Học viện Quân sự tại Woolwich. Tôi đã có mặt trong buổi hỏi thi sơ tuyển chàng học viên Scoresby. Tôi cảm thấy thực sự thương hại khi mà hầu hết cả lớp anh ta có thể trả lời các câu hỏi một cách sáng rõ và chính xác, thì anh ta lại chẳng biết một chút gì cả và không nói nên lời. Trông anh ta thật tội nghiệp khi đứng ở đó, câm lặng như một pho tượng, thốt ra những lời ngu ngốc, sai lạc một cách đáng kinh ngạc. Sự thương hại trong tôi trỗi dậy. Tôi nghĩ: Cho dù có thi lại đi nữa, cậu ta cũng chẳng khá khẩm hơn được. Tốt hơn là thử làm một việc nhân đạo vô hại, giảm bớt phần nào thất bại của anh ta xem sao. Tôi liền cho phép anh ta đứng cạnh mình, và nhận ra rằng anh ta có biết chút ít về lịch sử Cesar. Vì ngoài điều đó ra anh ta chẳng biết gì khác cả, tôi liền đưa ra một loạt câu hỏi cũ mèm về Cesar. Anh có thể tin được không, anh ta đã qua được kỳ thi đó một cách xuất sắc, tất nhiên chỉ ở vẻ ngoài, và nhận được vô số lời khen ngợi. Trong khi đó những người khác, những người hiểu biết gấp cả ngàn lần anh ta thì lại nếm mùi thất bại. Chính nhờ "sự cố" may mắn kỳ lạ, một "sự cố" ngàn năm có một, anh ta đã được hỏi những câu hỏi không nằm ngoài vốn hiểu biết vô cùng hạn hẹp của mình.

Thật không thể tin nổi. Thế đấy, trong suốt kỳ sát hạch, tôi đã luôn đứng cạnh anh ta, giang tay che chở như một người mẹ đối với đứa con bé bỏng, què quặt của mình. Và rồi anh ta đã tự cứu mình bằng một phép màu huyền diệu. Còn bây giờ, môn có thể làm lộ tẩy tất cả chân tướng của anh ta sẽ là môn Toán. Tôi quyết định sẽ nương nhẹ anh ta hết mức có thể. Tôi liền đưa ra dồn dập hàng loạt câu hỏi mà tôi biết rằng mọi thí sinh có thể trả lời một cách mĩ mãn, sau đó sẽ mặc cho số phận anh ta định đoạt. Và anh có thể hình dung nổi kết quả như thế nào không: trước sự kinh ngạc, sửng sốt của tôi, anh ta đã giành giải nhất. Và cả những lời khen ngợi, tung hô không ngớt.

Giấc ngủ ư? Đã một tuần rồi tôi không hề chợp mắt. Lương tâm dày vò tôi cả ngày lẫn đêm. Tôi đã làm gì, đã làm gì chỉ vì lòng thương hại, chỉ vì muốn cứu giúp một cậu học trò tội nghiệp? Làm sao có thể hình dung nổi một kết quả phi lý đến vậy. Tôi cảm thấy mình mắc tội và vô cùng đau khổ. Đó chỉ là một cái đầu mít đặc, vậy mà tôi đã dọn sẵn cho anh ta một tương lai sáng lạn và cả những trọng trách to lớn. Nhưng rồi một điều tất yếu sẽ xảy ra: anh ta và cả những trách nhiệm nặng nề sẽ cùng sụp đổ trước những thử thách đầu tiên.

Chiến tranh nổ ra. Một cuộc chiến tranh tất yếu phải xảy đến. Tôi tự nhủ. Chúng ta không thể có hoà bình và để cho con lừa ngốc nghếch này cơ hội được chết trước khi sự thật được phơi bày. Tôi chờ một cuộc động đất. Nó đã đến và làm tôi choáng váng. Anh ta được bổ nhiệm làm đại uý một trung đội bộ binh. Kể cả những người giỏi giang hơn anh ta rất nhiều cũng phải bạc đầu trong quân ngũ mới có thể leo lên cấp bậc cao gần bằng như vậy. Rồi họ sẽ phải xoay xở ra sao dưới sự chỉ huy của một người hoàn toàn không xứng đáng như vậy?

Nếu họ chỉ giao cho anh ta một chân thổi kèn đồng trong quân đội cũng đủ khiến tôi choáng váng. Nhưng đây lại là chức đại úy. Chỉ nghĩ đến điều đó thôi, tóc trên đầu tôi cũng đã dựng ngược.

Cứ tự dày vò mình mãi, tôi, một con người quá ư mềm yếu, quá ư trắc ẩn, tôi phải chịu trách nhiệm trước Tổ quốc mình vì việc làm này. Tôi phải đi cùng anh ta để bảo vệ đất nước khỏi con người dốt nát ấy. Suy nghĩ như vậy, tôi liền đem toàn bộ số tiền ít ỏi dành dụm được trong suốt bao năm làm lụng vất vả, thở dài, mua một chiếc kèn đồng, xung vào trung đội anh ta. Thế là cả hai chúng tôi cùng ra trận. Tại đó, lạy Chúa, thật kinh khủng! Nhầm lẫn? Tại sao anh ta không thể làm điều gì khác ngoại trừ sự nhầm lẫn. Nhưng anh biết đấy, chẳng một ai biết được bí mật của anh ta. Họ để anh ta toàn quyền đưa ra những quyết định sai lầm và lại cho những nhầm lẫn ngu xuẩn ấy là những sáng kiến tuyệt vời của một thiên tài. Họ làm tôi phát khóc, và cả phẫn nộ nữa, tất nhiên một cách bí mật. Một điều khiến tôi luôn ở trong trạng thái lo sợ một cách ngọt ngào là mỗi một sai lầm của anh ta lại càng tăng thêm danh tiếng lẫy lừng của anh ta. Tôi tự nhủ, hắn ta sẽ còn leo cao tới mức khi sự thật cuối cùng bị phơi bày thì điều đó cũng tựa như vầng mặt trời chói lọi bị sa khỏi bầu trời vậy.

Anh ta cứ leo lên cao mãi, hết cấp này sang cấp khác, và cuối cùng vào thời điểm gay cấn nhất của cuộc chiến, khi những vị chỉ huy cao hơn đã lần lượt ngã xuống, anh ta được cất nhắc lên chức đại tá. Tim tôi muốn nhảy khỏi lồng ngực. Chuyện này mà xảy ra được thì việc chúng ta đặt chân lên cung trăng chỉ trong một tích tắc là hoàn toàn có thể tin được.

Trận chiến vô cùng ác liệt. Quân liên minh chiếm mọi ngả đường mặt trận. Trung đội tôi nắm giữ một vị trí then chốt. Một sự nhầm lẫn nhỏ nhất cũng có thể dẫn đến sự hủy diệt. Tại thời điểm sống còn đó, những gì mà con lừa ngu ngốc ấy đã làm là ra lệnh cho trung đội di chuyển khỏi vị trí an toàn, tiến sang quả đồi bên cạnh nơi chẳng có một mống kẻ thù nào.

Thế đấy, rồi sẽ đến hồi kết. Tôi thầm nhủ.

Chúng tôi bắt đầu đi, cố vượt qua sườn đồi trước khi sự di chuyển điên rồ này bị phát hiện và chặn đứng. Chúng tôi sẽ thấy gì? Toàn bộ quân đội Nga, không nghi ngờ gì nữa, sẽ mai phục ở đó. Rồi sau đó? Chúng tôi sẽ bị xơi gọn. Khả năng đó lên tới 99,9%. Nhưng mọi chuyện lại không diễn ra như vậy. Quân Nga khi đó hẳn đã phán đoán rằng, không một trung đội đơn lẻ nào lại dám dù chỉ là mon men đến khu vực đó.

Vậy chắc chắn phải là toàn bộ quân đội Anh. Những bí mật của quân Nga hẳn đã bị lộ tẩy. Và thế là quân Nga bắt đầu tháo chạy, vượt qua quả đồi, lao xuống cánh đồng, và nhờ một sự nhầm lẫn có một không hai, chúng tôi đi theo sát họ. Chính quân Nga đã tự xé lẻ, phá vỡ thế đóng quân vững chắc của mình. Và đó quả thực là một mũi tấn công tuyệt vời nhất, chưa từng thấy của quân Anh. Từ thế thắng cầm chắc trong tay, quân Nga đã chuyển vinh quang đó sang quân Anh một cách quá đỗi dễ dàng. Vị tổng nguyên soái của chúng tôi, kinh ngạc, sung sướng và ngưỡng mộ, đã lao thẳng tới chỗ Scoresby, ôm chầm lấy anh ta, gắn những tấm huân chương cao quí lên ngực áo anh ta, trước sự chứng kiến của toàn quân đội!

Vào thời điểm lịch sử đó, sự nhầm lẫn của Scoresby là gì vậy? Đó là nhầm bên tay phải thành bên tay trái, có thế thôi. Một mệnh lệnh đã được truyền tới chỗ anh ta là phải lui quân lại, hỗ trợ cho cánh quân bên phải. Nhưng thay vào đó, anh ta lại tiến quân lên phía trước, vượt qua quả đồi về phía tay trái. Nhưng vòng hào quang mà anh ta đạt được ngày hôm đó - một thiên tài quân sự lỗi lạc - đã vang dội khắp thế giới, vinh quang đó hẳn sẽ không bao giờ phai nhạt chừng nào những cuốn sách sử còn tồn tại.

Anh ta đơn giản chỉ là một người tốt bụng, dễ mến, thậm chí dễ thương, không xảo trá, nhưng anh ta thậm chí không biết nổi cần phải trú ẩn khi trời đổ mưa! Nhưng giờ đây một sự thật hiển nhiên đã được khẳng định, đó là một trong những nhân vật quan trọng nhất của toàn thế giới. Và chỉ mới nửa giờ trước thôi, không một ai hay biết bí mật này của anh ta, trừ chính anh ta và tôi. Hết ngày này sang ngày khác, năm nay sang năm khác, anh ta đã gặp may một cách kỳ lạ. Anh ta, một quân nhân sáng chói nhất của cả một thế hệ thời kỳ chiến tranh, người đã lấp đầy cuộc đời quân ngũ của mình bằng những nhầm lẫn không thể nào hình dung nổi. Nhưng không một sai lầm nào mà lại không tô điểm anh ta thành một chàng hiệp sĩ, một vị quí tộc đáng kính hay một danh hiệu khác đại loại như vậy. Hãy nhìn tấm áo ngực kia. Biết bao nhiêu là huân chương, huy chương cao quí của Anh quốc và thế giới. Vâng thưa ông, mỗi tấm huân chương đó là hiện thân của một sai lầm ngu xuẩn. Tất cả những tấm huân chương đó khẳng định một điều rằng: điều tốt đẹp nhất trên thế gian này có thể xảy đến với một người được sinh ra dưới ánh sáng của một ngôi sao may mắn. Và tôi xin nhắc lại một lần nữa điều tôi đã nói trong bữa tiệc rằng, Scoresby là một tay đại ngốc.

NGÔ BÍCH THU dịch
(173/07-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.

  • FRANK O’CONNOR  

    Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.


  • E. RUXACỐP (Nga)

  • ABDULRAZAK GURNAH    

    Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.

  • Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới ln thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chng phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
    Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.

  • JENNIFER WALKUP   

    Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
    Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.

  • GRAHAM GREEN

    Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.

  • ELISABETH SILANCE BALLARD

    Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.

  • Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…

  • KATE CHOPIN

    Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.

  • Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.

  • O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.

  • JASON HELMANDOLLAR

    Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.

  • TIMUR JONATHAN KARACA

    Timur Jonathan Karaca được sinh ra ở San Francisco. Ông là bác sĩ y khoa khoa gây mê tại UCSF. Ông sống ở Oakland, nơi ông hành nghề. Karaca theo học sáng tác tại Studio Hi Nhà văn San Francisco.

  • Naguib Mahfouz (1911 - 2006) sinh ra trong một gia đình nghèo tại Cairo. Ông học triết học tại Đại học Cairo và làm công chức cho tới khi về hưu năm 1971. Mahfouz là nhà văn lớn của Arab và của thế giới. Ông có 35 tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn và nhiều tác phẩm kịch. Tác phẩm của ông rất phổ biến ở phương Tây. Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
    Truyện ngắn dưới đây diễn tả bi kịch của cá nhân khi bị phụ thuộc vào kẻ khác. Tuy nhiên, như rất nhiều tác phẩm khác của văn học Arab, nó còn mang tính ẩn dụ và nghĩa hàm ẩn.

  • ALBERT LAMORISSE (Pháp)

    Albert Lamorisse là một nghệ sĩ đa tài của nước Pháp. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện "Quả bóng đỏ" (Le Ballon Rouge) này đã được chính Albert Lamorisse dựng thành phim, rất nhiều người hâm mộ.