Tại Đà Nẵng, được sự uỷ quyền của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Công nghệ Thông tin vừa tổ chức hội thảo khoa học “Quản lý chất lượng sản phẩm văn hóa qua công tác xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật”.
Tham dự Hội thảo có trên 150 đại biểu đại diện các Cục, Vụ, Viện, các nhà hát thuộc Bộ VHTTDL, các Trung tâm chiếu phim, các hãng phim nhà nước và tư nhân, Phòng Quản lý Xuất phập khẩu trực thuộc Bộ VHTTDL và đại diện Tổng cục Đo lường Chất lượng, Hội bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam.
Đông đảo các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình, các văn nghệ sĩ đã tới dự Hội nghị - Hội thảo, đại diện các Sở VHTTDL, UBND các tỉnh, thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung.
Hội thảo nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng sản phẩm hàng hóa đối với các sản phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật và trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các sản phẩm hàng hóa nhóm 2 theo qui định gồm: ấn phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật tại lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm và kiểm tra nhập khẩu phim.
Đánh gíá sự ảnh hưởng của chất lượng sản phẩm văn hóa trong đời sống tinh thần hiện nay.
Hội thảo cũng nhằm tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong việc đánh giá và xác định tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá thuộc lĩnh vực văn hóa.
18 bản tham luận công phu đã được gửi về Ban tổ chức và được trình bày tại Hội thảo. Các tham luận đã đề cập tới những nội dung căn cốt về tầm quan trọng thiết yếu của văn hóa, về chất lượng các sản phẩm văn hóa thuộc đủ mọi loại hình văn hoá- văn học- nghệ thuật gồm: sách- âm nhạc- hội họa điêu khắc- sân khấu- điện ảnh… Những ý kiến tại Hội thảo không chỉ trên phương diện lý luận mà còn nêu nhiều liên hệ, dẫn chứng rất đang diễn ra trong lĩnh vực đời sống văn hoá- nghệ thuật hiện nay của nước ta giữa bối cảnh mở cửa, hội nhập toàn cầu và cơ chế thị trường. Đặc biệt những suy nghĩ sâu sắc về chất lượng sản phẩm văn hóa và chất lượng các hoạt động văn hóa, quy chuẩn văn hóa phẩm Việt Nam trong thế giới hiện đại, trong cơn bão thông tin toàn cầu cũng cũng đã được trình bày tại Hội nghị - Hội thảo.
Nhà LLPB Ngô Thảo- nguyên Phó tổng thư ký Hội Sân khấu Việt Nam cho rằng, trong xã hội hiện đại, người làm tiêu chuẩn và quy chuẩn cho văn hóa không thể yên tâm với những văn bản đã ban ra mà còn phải cập nhật những phát triển nhanh chóng của cơ sở vật chất của từng loại hình văn hóa nghệ thuật. Ngay một ngành rất cổ điển như xuất bản sách văn học nghệ thuật (Lĩnh vực này có một bộ phận do Bộ Thông tin- Truyền thông quản lý) cũng có rất nhiều vấn đề từ chất liệu giấy, mực, máy in, kỹ thuật in các loại sách trên các chất liệu khác nhau, đến sách điện tử, rồi vấn đề bản quyền trên mạng…Từ thực tiễn hoạt động của Văn hóa và VHNT hiện nay, đòi hỏi những người làm tiêu chuẩn- quy chuẩn của Nhà nước cho các vật chất được sử dụng trong lĩnh vực phải hết sức sâu sát tình hình cụ thể và linh hoạt trong các công thức ngôn từ để tạo điều kiện cho VHNT nước nhà phát triển tươi tốt.
“Điều chắc chắn phải có là mỗi thời kỳ phát triển, xã hội nói chung và văn hóa cũng cần có những tiêu chí xã hội rõ ràng, minh bạch để người dân cũng như người làm nghề biết để an tâm trong cuộc sống, trong tìm tòi, sáng tạo và thưởng thức. Trên thực tế người ta không thể đòi cái mà điều kiện cũng như quy chuẩn xã hội không cho phép. Nhưng như đã nói, đời sống văn hóa trong xã hội đương đại với nhiều biến động mới và đang diễn biến liên tục, đòi hỏi các cơ quan quản lý có một cách nghĩ khác, cái nhìn khác về cái gọi là tiêu chuẩn, quy chuẩn trong văn hóa và hoạt động văn hóa.
Trong xã hội hiện đại, khi mở cửa, hòa nhập với cộng đồng quốc tế, gìn giữ các bản sắc dân tộc, nhưng cũng không thể kỳ thị, tự cô lập, theo những tiêu chí quá riêng biệt…Muốn thế giới tôn trọng bản sắc văn hóa của mình khi giới thiệu ra với quốc tế, thì cũng không thể tùy tiện nhân danh tiêu chuẩn, quy chuẩn của mình mà cắt xén, sửa đổi nguyên tác của người ta.
Đặc điểm của sáng tạo trong văn hóa cũng như VHNT là mặc dù không xa rời truyền thống, nhưng một tác phẩm mới bao giờ cũng là một cái gì đó không thể đo bằng những thước đo đã có. Cả về hình thức, vóc dáng, chất liệu, quy mô, loại hình,.. Và đó chính là bài toán, là lời thách đố thường trực của bản chất sự sáng tạo đặt ra cho những người, những cơ quan quản lý khi định vị các tiêu chuẩn-quy chuẩn cho các sản phẩm thuộc lĩnh vực văn hóa”- Nhà LLPB Ngô Thảo khẳng định.
Nhà báo Trần Mai Hạnh, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam cho rằng: “Thời mở cửa, hội nhập toàn cầu cùng với cơ chế thị trường đã đụng chạm tới mọi quan niệm về sản phẩm văn hóa và hoạt động văn hóa. Và như thế, ở một góc độ nào đấy, thời toàn cầu hóa là thời mà nhiều thứ thuộc lĩnh vực văn hóa (sản phẩm văn hóa, hoạt động văn hóa) được đưa ra thị trường và đều có nguy cơ trở thành hàng hóa và nó vượt qua mọi biên giới. Cùng một lúc nhân loại có thể cùng xúc động hay phẫn nộ về một thông tin, một hình ảnh được phóng ra trên xa lộ thông tin phẳng, không biên giới của hành tinh này. Không còn là luồng gió mới nữa, mà giờ đây đã là những cơn bão thông tin toàn cầu. Những biến loạn trong đời sống chính trị - xã hội do tác động của các phương tiện truyền thông mới, không còn là cảnh báo xa vời, mà đã là những sự thực nhãn tiền”.
Lấy ví dụ về những mặt trái mà thông tin đem lại như vụ Lê Văn Luyện, kẻ giết hại dã man cả nhà chủ tiệm vàng Ngọc Bích - Bắc Giang vậy mà có thời điểm hình ảnh Luyện tràn lan trên không ít báo mạng, trên nhiều trang web như những đám mây đen tích điện trên bầu trời thông tin. Luyện được một bộ phận giới trẻ xem như "người hùng", làm thơ, viết nhạc ca ngợi tạo ra sự phản cảm ghê gớm... Lê Tuấn Anh, kẻ đã hiếp dâm, giết chết và vứt xác em Nguyễn Thị Bích Ngọc, đang là học sinh THPT, quê ở xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương - Thanh Hóa xuống sông đã "hồn nhiên" trả lời các điều tra viên: "Cháu là họ hàng với anh Lê Văn Luyện nên cháu phải làm một điều gì đấy giống anh ấy". Lê Tuấn Anh ở mãi tận vùng đất xa xôi (Thanh Hóa) cũng biết rõ "sát thủ máu lạnh" Lê Văn Luyện ở tận Bắc Giang. Thời Internet vươn tới ngõ xóm, bờ tre. Thông tin, hình ảnh vụ án tải về làm rúng động làng quê...
Bởi vậy, theo nhà báo Trần Mai Hạnh, trong cơn bão toàn cầu về thông tin, để nâng cao chất lượng thông tin, ba yếu tố minh bạch - kịp thời - trách nhiệm mới là những thành tố quan trọng cấu thành nhịp thở yên bình cho xã hội.
![]() Các diễn giả giành nhiều tâm sức cho Hội thảo.
Gửi tham luận đến hội thảo, GS Đình Quang- nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL cho rằng: “Hiện nay sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của ta cũng lại đang thiên về các loại hình văn hóa đại chúng, các cuộc thi ca nhạc và múa nhảy khác nhau, các cuộc thi sắc đẹp liên tục diễn ra …lấn lướt các loại hình văn hóa nghệ thuật chính thống, bác học khác. Những chuyện “rối ren” trong đời sống văn hóa nghệ thuật cũng thường xảy ra trong giới văn hóa đại chúng này. Đó là một hiện tượng phiến diện cần chú ý nếu muốn nhân dân ta đạt được một trình độ hưởng thụ văn hóa nghệ thuật thực sự”.
Để đạt được trình độ hưởng thụ văn hóa nghệ thuật, theo GS Đình Quang, nhất thiết phải có sự giáo dục, tu dưỡng nhất định. “Phải bắt đầu có sự bồi dưỡng tự nhiên từ lời ru của mẹ, câu chuyện cổ tích của bà và chương trình giáo dục thường thức văn hóa nghệ thuật của nhà trường nhưng yêu cầu này trong hệ thống giáo dục và truyền thông của ta còn khá mỏng manh. Người mù họa điếc nhạc, lười đọc…ở ta hiện nay không ít, so với các nước phát triển là một điểm yếu khá rõ”- GS Đình Quang nhận định.
Các đại biểu tham dự hội thảo cũng đề cập đến những vấn đề về định hướng xây dựng tiêu chuẩn quy chuẩn Việt Nam về lĩnh vực văn hóa, lĩnh vực thư viện, lĩnh vực điện ảnh, lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, nhiếp ảnh; vấn đề bản quyền đối với các sáng tạo VHNT và sản phẩm văn hoá, vấn đề dấu ấn văn hoá, tiêu chuẩn, định chuẩn văn hóa trong các sản phẩm lưu niệm phục vụ cho du lịch, kinh tế cùng những vấn đề về quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu văn hóa và kiểm tra nhập khẩu phim…Họa sỹ Lê Thiết Cương đã chia sẻ về sự thiếu mỹ thuật trong các sản phẩm lưu niệm phục vụ du lịch. Họa sỹ chia sẻ, vừa qua, anh có dịp đi khảo sát hầu hết các làng nghề thủ công ở khu vực Hà Nội, một điều đáng tiếc là các sản phẩm lưu niệm đều rất xấu. Trong khi đó, ở ngay Bờ Hồ, hàng lưu niệm nào thành công thì đều có sự quản lý của người nước ngoài. Họ sử dụng chất liệu của ta, tay nghề của ta cộng với thiết kế mỹ thuật của họ nên có những tác phẩm lưu niệm đẹp. Còn các hàng lưu niệm của ta thì không bán được cho du khách vì sự cẩu thả trong sáng tạo. Lấy ví dụ trên cộng với việc nhiều triển lãm mỹ thuật với các tác phẩm chưa đủ tầm làm ảnh hưởng tới thị hiếu thưởng thức nghệ thuật của công chúng, theo họa sỹ Lê Thiết Cương, nhất thiết phải có sự chặt chẽ hơn trong kiểm duyệt cấp phép triển lãm. Theo đó, tranh xấu thì không được cấp phép triển lãm- Họa sỹ Lê Thiết Cương bày tỏ quan điểm.
Đồng quan điểm này, đạo diễn Hữu Mười (Hãng phim truyện Việt Nam) cũng cho rằng, những tác phẩm điện ảnh kém chất lượng, hài nhảm, “thảm họa” đang hạ thấp thị hiếu thưởng thức của người dân. Đạo diễn Hữu Mười cũng cho rằng, không chỉ nên cấm những tác phẩm điện ảnh có tính bạo lực, mà phải xem xét những phim “thảm họa” trong danh mục cấm.
Ông Mai Linh- Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin, Tổng Biên tập Báo điện tử Tổ Quốc, Trưởng BTC hội thảo nhận định: “Không ai đo văn hóa bằng các kích cỡ tỉ lệ quy chuẩn lạnh lùng. Nên khi làm Hội thảo này, chúng tôi trăn trở câu hỏi, lấy gì để đo văn hóa? Nhưng nhất thiết vẫn phải có quy chuẩn để nhận dạng sản phẩm văn hóa. Trong một ngày bàn luận sôi nổi, hội thảo đã động chạm đến tất cả các lĩnh vực mà ngành văn hóa quản lý (trừ di sản). Văn hóa là cái gương chiếu hậu, điều khiển một chiếc xe mà không có gương chiếu hậu thì không biết rẽ trái, rẽ phải sẽ ra sao! Chúng tôi sẽ nghiên cứu dựa trên những kiến thức, những đóng góp tại hội thảo để xây dựng một quy chuẩn nhận diện văn hóa sao cho các nhà quản lý quy chuẩn chịu được và các nhà văn hóa thấy phù hợp”.
|
||||||
Theo Tổ quốc
|
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.