DƯƠNG VIỆT QUANG
Sử cũ cho thấy rằng, triều Nguyễn đã rất chú trọng việc đầu tư thủy lợi, giao thông đường thủy. Một thống kê từ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” cho biết, có đến gần 60 lần các vua Nguyễn ban hành chỉ dụ về việc đào sông, nạo vét kênh rạch… ở 15 tỉnh trong cả nước.
Sông đào Lợi Nông khắc trên Chương đỉnh
Đào sông lớn ở Huế
Trong 3 triều vua đầu, các vua đã cho đào nhiều con sông lớn trong cả nước, trong đó có những con sông ở Huế: sông Như Ý, Lợi Nông, Phổ Lợi (Huế), sông Thoại Hà (Long Xuyên), sông Vĩnh Tế (Châu Đốc - Hà Tiên), Vĩnh Điện (Quảng Nam), Vĩnh Định (Quảng Trị), Cửu Yên (Hưng Yên), Phổ Lợi (Huế), Tân Châu (Tiền Giang).
Triều Gia Long đã đào 3 con sông lớn ở các tỉnh miền Trung và miền Nam. Sông Lợi Nông (An Cựu) được đào từ năm Gia Long thứ 13 (1814), bắt đầu từ sông Hương, sông chảy qua làng mạc rồi đổ vào đầm Hà Trung, tổng cộng dài gần 20km. Trong bài thơ “Đông Lâm dực điểu” (Bắn chim ở Đông Lâm), vua Thiệu Trị có đoạn thơ về sông, toàn bộ bài thơ được khắc vào bia đá dựng ven sông, đoạn chảy qua làng Thần Phù, Hương Thủy:
“Loại tháo lô phì tẩy lục sa
Giang thôn thu thụ tịch dương tà
Không lâm ẩn ước quy cầm tập
Tiểu giãn tì liên phiếm nghịch qua
(Nước rút đi, những chòm lau tươi trên cỏ xanh/ khắp vùng giang thôn đón rợp ánh dương tà/ từng đàn chim bay về hội tụ ẩn hiện trong khoảng rừng/ trong dòng nước lá sen, bầy chim nghịch lội qua)
Triều Minh Mạng cho đào sông Phổ Lợi (từ 1836). Con sông này thông từ sông La Ỷ đến hạ lưu sông Diên Trường với chiều dài khoảng 11km, phần đào thêm khoảng 2km có khả năng chia nước sông Hương vào mùa lũ, cấp tưới nước vào mùa hè. Năm sau, 1837, khi thấy việc đào sông Phổ Lợi không đạt yêu cầu, vua Minh Mạng chỉ dụ: “Năm trước khai đào sông Phổ Lợi để cho có lợi muôn đời không cùng. Lần ấy vì mưa lụt, chưa được thành công. Đã chuẩn ý cho sang xuân tiếp tục làm. Nay thời tiết tạnh nắng, chính là lúc có thể thi công được. Vậy giao cho kinh doãn liệu thuê dân hạt 3000 người, cứ chiếu chỗ nào năm ngoái hiện chưa làm xong và một đoạn hướng mới làm tiếp. Lấy ngày tháng giêng năm nay khởi công, theo đúng quy thức mà khai đào, sao cho trong tháng 2 phải nhất loạt hoàn thành”. Vua Thiệu Trị trong khi tuần du về Thuận An, qua sông này đã tức cảnh bài thơ “Quá Phổ Lợi hà cảm tác” cũng khắc bia đá dựng bên bờ. Mở đầu có đoạn:
“Ngưỡng duy phòng hải niệm
Cánh thả vị nông trù
Tùy thế kỳ giang quýnh
Hưng công phát nô tu”
(Ngưỡng vọng công người xưa trong phòng thủ biển/ vì sự trù phú của nhà nông mà giúp canh tác/ tùy thế đất thế sông mà lo toan/ kho công lại lo chi tiền bạc).
Bài thơ cũng nhắc lại sự kiện dân 6 xã như Dương Nỗ, La Ỷ… nguyện đem hết già trẻ, gái trai cùng đào sông, cho thấy tinh thần và trách nhiệm của người dân Huế trong việc trị thủy.
Hình ảnh sông Phố Lợi sau được khắc trên Nhân đỉnh, cùng 5 con sông đào khác. Năm 1826, vua cho vét sông Ngự Hà với 6000 dân binh cùng làm…
Thủy lợi và đắp đê trong các làng xã
Năm 1820, dân xã An Vân và Đốc Sơ (Hương Trà) dinh Quảng Đức tâu xin được miễn lao dịch để đào mương lấy nước tưới ruộng đồng. Năm 1821, dân xã An Lai (Quảng Đức) tâu xin miễn 6 tháng lao dịch để đào sông. Vua khen, cấp thêm cho 100 phương gạo để giúp phí tổn. Năm Minh Mạng thứ 18, vua chuẩn tấu cho xã Thế Lại Thượng (huyện Hương Trà) khai đào sông từ Kim Long về Bao Vinh. Năm 1881, miễn trừ việc thuế, sưu dịch cho Thanh Thủy Chánh, Thanh Thủy Thượng để khới vét sông…
Việc đào sông không tiến hành theo cá nhân mà là sự chung sức từng làng, liên thôn, có khi liên tỉnh như hai xã Lễ Môn (Quảng Trị), An Ninh (Quảng Đức) do “khe ngòi bị tắc, xin rút binh xã về để khơi đào” (Đại nam thực lục). Các làng cũng tự đứng ra làm thủy lợi dưới sự chỉ huy của cai đội làng như trường hợp ở làng Hiền Lương dưới thời Minh Mạng. Cai đội trực tiếp chỉ huy binh lính và nhân dân trong tổng cùng đào con mương qua trảng cát, lấy nước ngầm từ dãy Trường Sơn giải khát cách đồng Hiền Lương và toàn vùng lân cận.
Ở vùng Truồi, đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX, Dinh điền sứ 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên là Trần Đình Túc đã cùng với cụ Vệ nông Lê Dõng chỉ huy dân làng đắp đập sông Truồi ngăn mặn, giữ ngọt; chủ động tưới tiêu hàng vạn mẫu ruộng, biến ruộng 1 vụ thành 2 vụ ở 2 tổng An Nông và Lương Điền. 100 năm qua, phù sa sông Truồi được chặn lại bồi đắp nên hàng ngàn mẫu ruộng nhất đẵng điền ở các xứ Ba Gò, Cồn Nổi, Bàu Mới, Đồng Rớ, Càng Cua… Cụ Lê Dõng được dân quý trọng đặc cách thờ ở đình Bàn Môn sau khi qua đời, dân xứ Truồi cũng lập miếu thờ ông.
Bên cạnh mương, hói tưới tiêu, nhiều làng xã cũng tiến hành đắp đê nhằm ngăn lũ lụt và giữ nước trong ruộng. Năm 1828, xã Phù Bài (Thừa Thiên) xin phép cho biền binh gia cố đê. Năm 1832, dân 2 xã Vĩnh Xương (Phong Điền) và Thủ Lễ (Quảng Điền) hiệp lực bồi đắp đê vệ nông. Năm 1839, dân xã Diên Trường (Phú Vang, phủ Thừa Thiên) đắp con đê nhỏ ngăn nước phía tây sông Phổ Lợi.
Những làng gần biển cũng đã đắp đê ngăn mặn, tránh triều cường. Ngoài những đê công do nhà nước đắp, từng làng cũng chủ động đắp các đoạn đê sung yếu. Năm 1824, xã Thanh Hương (Quảng Điền, Thừa Thiên) xin vua nghỉ phu dịch 3 tháng để bồi đắp đê ngăn mặn; năm 1825, lại xin mượn binh biền chung sức bồi đê trong làng. Năm 1827, đê ngăn mặn làng Dương Nổ (Phú Vang, Thừa Thiên) bị vỡ, dân xin miễn lao dịch để tu sửa, vua y cho…
Thời Pháp thuộc, việc thủy lợi không còn được quan tâm như trước. Năm 1930, chính quyền bắt dân khai hoang 2 mẫu ruộng ở đầm Cầu Hai trả công rất rẻ mạt, 1 ngày công chỉ trả 1 lon gạo, vì vậy dân chỉ đi làm gượng ép chứ không nhiệt thành như trước. Năm 1935, nhân dân Bàn Môn, Lộc An, Lộc Bổn, Thủy Tân (Phú Vang, Phú Lộc) đã kết hợp đấu tranh yêu cầu chính quyền thực dân phong kiến phải tiến hành đắp đập Hà Trung ngăn mặn cứu lúa…
Hương ước tham gia quản lý thủy nông
Hầu như trong tất cả các hương ước làng xã của Thừa Thiên những năm 1802 - 1945 đều có đề xuất các quy định về việc đắp đê phòng chống lụt, hộ đê, coi sóc, duy tu các tuyến đê, kênh mương dẫn thủy nhập điền. Thời Minh Mạng, năm 1836, lý trưởng xã Phù Bài đệ tờ trình xin cấm trâu bò, vịt, người làm nghề cá gây ảnh hưởng đến đê đập, làm tắc nghẽn kênh mương. Thời Thiệu Trị, năm 1847, điều lệ xã Đông Xuyên (Quảng Điền) nghiêm cấm thả trâu bò dẫm đạp làm hư hỏng bờ đạp, chặt phá tre ở hai bên bờ đê ở xứ Miếu Đồng. Người nào vi phạm phải chịu phạt 1 con heo trị giá 5 quan tiền, ngoài ra còn thu thêm 2 quan tiền để thưởng cho người có công phát hiện. Thời Tự Đức, điều lệ xã An Gia quy định: “Phàm những đường nhánh nước chảy trong xã, hễ người nào tự tiện đắp lại bắt cá, người phát hiện sẽ được thưởng tiền 1 quan, người bị bắt phải chịu phạt vạ 1 heo và một bàn trầu cau rượu”. Thời Thành Thái, hương ước làng Phong Lai nghiêm cấm đi tắt làm sụt lở dãy đê quai để bảo hộ nhà cửa và phòng ngừa nước lụt…
Nhiều làng quy định khi đồng ruộng đã gieo cấy xong, trâu bò phải thả đến nơi hoang nhàn để chăn đón, không được cho trâu bò ăn nơi bờ ruộng… Ví như hương ước làng Phù Bài năm 1831: răn những ai ăn lương điền và khẩu phần điền ở gần sông lớn, đường nhỏ thì trừ dư ra 5 thước, nếu gần khe nhỏ thì nên dư 3 thước. Răn từ nay hai bên bờ sông và các rạch lớn nhỏ đến kỳ hạn hán nên được đưa nước vào ruộng để cứu lúa nhưng đến tháng 7 thì tất cả phải đắp lại để khỏi nước lụt sạt lở… Làng Bàn Môn quy định nếu làng tổ chức nạo vét kênh mương định kỳ, tất cả các gia đình phải tham gia; nếu có 1 mẫu ruộng thì phải cử 2 người, 3 - 5 sào thì phải có 1 người. Trước khi gieo lúa, làng cắm cây nêu đầu làng, trên cột 3 cái roi để nhắc dân làng không được đưa trâu bò ra phá, phải đi cắt cỏ trữ sẵn trong nhà. Mõ làng lại đi rao: “Cấm trâu leo kè, cấm nghé leo đường, cấm đập cấm đường, bao nhiêu cấm hết”…
Lại có hương ước về việc coi sóc tu bổ thủy lợi trong làng, như điều lệ làng An Gia định lệ cứ tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bảy thì lý dịch phải sức dân dự phòng tu bổ các nơi cầu cống đường sá, đê điều trong xã. Tờ cấm xã Thủ Lễ (Quảng Điền) quy định việc xây dựng nhà ở cạnh đe đập, bất kể quan viên, lính tráng, già lão hay nhân dân thì đều phải trình lên, hội đồng lý trưởng, hương chức xem xét, bàn thảo. Nếu thuận cho ai thì vuông đất bề dài 12 thước, bề rộng tùy theo bờ đê bên đường phải đắp đúng y như cũ, không được đào phá đường đê, vùi lấp bờ sông…
Bộ máy hành chính làng xã đều phải chịu trách nhiệm trong quản lý đê đập, đường sá, cầu cống. Các làng xã đều xây điếm canh, cử tuần đinh canh phòng, kiểm tra các công trình công cộng, đặc biệt là hệ thống thủy nông.
Với sự quan tâm từ triều đình đến địa phương, sự chung sức của toàn dân, việc trị thủy, thủy lợi tại Thừa Thiên Huế dưới triều Nguyễn đã có những thành tựu lớn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, cảnh quan môi trường, người dân gắn bó với nhau hơn trong quá trình xây dựng thủy lợi và hộ đê… Âu đó cũng là bài học cho hậu thế khi nhìn lại những gì mà cha ông xưa đã thực hiện.
D.V.Q
(SHSDB23/12-2016)
CHÂU THU HÀ
Trong những năm qua, xây dựng văn hóa doanh nghiệp (VHDN) đã và đang được các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng quan tâm thực hiện.
PHƯỚC VĨNH
Nói đến những tiềm năng phát triển của Huế là nói đến các yếu tố thiên nhiên, lịch sử văn hóa, trong đó có yếu tố sông, núi, cỏ cây và con người; là nhắc đến những bài thơ sâu lắng, những giai điệu mượt mà…
LGT: Cuốn sách Florette ou la rivière des parfums của tác giả T. Trilby(*) được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Chuyện bên dòng sông Hương(**). Bối cảnh câu chuyện xảy ra ở Huế và vùng phụ cận vào thập niên 1920 của thế kỷ XX.
LƯU TRỌNG VĂN
(thực hiện)
PHAN THUẬN AN
Nghệ thuật cung đình là những loại hình nghệ thuật gắn bó thiết thân với sinh hoạt tinh thần và vật chất của giới cầm quyền tại kinh đô dưới các triều đại quân chủ ngày xưa.
PHAN TÂN
Trong năm 2018 vừa qua, ngoài kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh cũng đã triển khai những chương trình đột phá, công trình trọng điểm, tập trung lãnh đạo, tạo tiền đề, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển theo hướng nhanh, bền vững. Các chương trình này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương…
NGUYỄN VĂN CƯƠNG - NGUYỄN VĂN KHÁNH
Trong chuyến đi điền dã khảo sát di tích tại khu vực Phường Thủy Xuân, TP Huế. Chúng tôi tình cờ phát hiện một di chỉ cổ nằm lẫn khuất trong những tán cây rậm rạp trên vườn đồi của làng Dương Xuân thượng trước đây. Vạch lá dò dẫm tìm vào, chúng tôi mới nhận ra nơi mình đặt chân đến chính là một Văn Miếu, nơi thờ phụng vị Thánh về Văn, người mà được hậu thế tôn vinh là Vạn thế Sư biểu (người thầy của muôn đời), Đức Khổng Tử. Ngôi miếu nằm lọt thỏm trong những tán lá, bụi cây.
HỒ VĨNH
Đại bác là một từ dùng chung cho tất cả các loại trọng pháo hay súng lớn. Tiền thân của chúng là những máy ném đá (Thạch pháo) ra đời cách đây 1.000 năm. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII ở Việt Nam đã xuất hiện các loại pháo bằng đồng và pháo bằng sắt mà ngày nay chúng ta thường gọi là súng thần công.
KIM THOA
Chè bán ban ngày, ban đêm. Chè gánh, chè xách, chè ăn trên bờ, chè thưởng thức dưới đò. Huế bán đủ thứ chè, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, nhưng ít thấy chè hột sen.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Hoàng tử Cảnh (1780 -1801) là con trưởng của vua Gia Long. Trong thời gian chống nhà Tây Sơn, hoàng tử Cảnh đã theo Bá-đa-lộc sang Pháp cầu viện cho họ Nguyễn. Hoàng tử Cảnh theo Thiên chúa giáo và được giám mục Bá-đa-lộc rất thương yêu.
THƠM QUANG - THANH BIÊN
Trong khối tài liệu hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV có khá nhiều tư liệu liên quan đến trường Bách Công xưa (tức trường Cao đẳng Công nghiệp Huế ngày nay). Bên cạnh tài liệu tiếng Pháp thuộc phông Tòa Khâm sứ Trung kỳ, chúng tôi cũng xin được cung cấp thêm một số thông tin quan trọng về trường Bách Công xưa được ghi chép trong các bộ chính sử của triều Nguyễn.
NGUYỄN THÁI SƠN*
Đồng chí Nguyễn Chí Diểu (1908 - 1939) là nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam.
TRẦN ĐÌNH HẰNG - LÊ ĐÌNH HÙNG
Trải qua nhiều vấn nạn của thiên tai, địch họa mà đến nay, tài liệu nghiên cứu về thời chúa Nguyễn Đàng Trong rất hiếm hoi. Vì vậy, tài liệu lưu trữ từ gia tộc sẽ góp phần thiết thực để soi rọi một số chi tiết bổ sung cho chính sử.
LÊ VĂN LÂN
Huế là đô thị không chỉ trong nước mà cả thế giới tôn vinh với nhiều danh hiệu cao quý. Nhưng đứng trước những danh hiệu này, bản thân người Huế cũng thấy đang còn nhiều khoảng cách lớn.
LÊ QUANG THÁI
Ngày xuân còn dài, xin kể vài mẫu chuyện dê tiêu biểu trên đất kinh kỳ văn vật cốt chỉ mua vui chốc lát trong hương vị của ngày Tết cổ truyền.
PHAN THUẬN AN
Cũng như các triều đại quân chủ khác trong lịch sử Việt Nam, triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) đã lập ra tại kinh đô một cơ quan chuyên trách về y tế, gọi là Thái Y Viện, để chăm lo sức khỏe cho hoàng gia và điều hành công việc chữa bệnh cho mọi người trong nước.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Đồi Dương Xuân ở nam sông Kim Trà (sông Hương) từng có phủ Dương Xuân là mặc định nhưng vì đồi lại lớn rộng, có nhiều phần nhấp nhô theo phương thẳng đứng, uốn éo theo bình đồ nên đồi có nhiều gò, cồn.
TRẦN ANH SƠN
Huế mà chúng tôi nhắc đến ở đây là xứ Huế ngày xưa, thuở còn là "Đô thành Thuận Hóa” của Chúa Nguyễn.
VÕ VINH QUANG - HỒ XUÂN THIÊN - HỒ XUÂN DIÊN
CAO CHÍ HẢI
Nghệ thuật sân khấu, âm nhạc vô cùng phong phú và đặc sắc, nhiều lễ hội cổ truyền và thuần phong mỹ tục tiêu biểu của người Việt được lưu truyền đến Nghệ thuật múa của dân tộc Việt xuất hiện cách đây khoảng 4000 năm.