Từ đọc “Thiền sư ở đâu”…

08:51 16/04/2018

LIỄU TRẦN

Lưu lạc đến tay một tập viết nhỏ “Thiền sư ở đâu”, tác giả Bùi Long. Chợt nghĩ, thời này là thời nào còn viết kiểu này.

Nào thầy Nhất Hạnh, nào thầy Thanh Từ, nào Trúc Lâm nào Yên Tử, từ Nhật Bản, từ Trung Hoa, từ Tây Tạng, thiếu gì. Thời này là thời “phát” của tâm linh mà. Chùa đình miếu mạo mọc như nấm sau mưa. Đầu năm cuối tháng chuông mõ như sấm rền.

Thế rồi đọc, thấy mấy bài viết về các nhân vật cũng không có gì gây ấn tượng với tôi, dù cũng có nhiều cảm tình. Đọc xong cũng gần như quên luôn.

Nhưng, hóa ra, một tuần sau tôi vẫn không thể quên. Tôi khá thảng thốt khi câu hỏi “Thiền sư ở đâu?,” cứ váng vất trong đầu.

Tác giả viết rất nhẹ, hoặc nói thẳng ra là nhẹ “đô”. Đã quen với chữ nghĩa hiểm hóc, với thông tin ngập ứa, dường như cuốn này chẳng ép phê gì. Những nhân vật trong sách cũng khá thú vị, nhưng tôi đã gặp số người đủ dùng cho cả mấy kiếp, tôi chẳng tham gặp thêm, hơn nữa tôi cũng e sợ đâu phải tìm gặp là tôi bắt gặp họ giống như tác giả đã bắt gặp. Thực ra, mình cũng mong manh quá, sợ thất vọng.

Nhưng quả đúng là cơ duyên khi lúc tôi được đọc tập sách nhỏ này. Cảm xúc, chính cảm xúc trăn trở đi tìm của người viết đã gây xao động trong tôi. Một thời đại, một trạng huống xã hội thế này, mà anh còn câu hỏi đó. Ôi mạch nguồn của đức Gottama vẫn còn đây, dù hệ lụy của thế cuộc làm diện mạo con đường của Ngài quá nhiều biến hoặc.

Làm sao diễn tả được nỗi xao xuyến khi tôi nhận ra, đã nhiều năm nay, khi tôi tưởng tôi đang dũng mãnh đi vào những chủ đề lớn của xã hội, những sự kiện thời cuộc với tâm thế “đạo khả đạo phi thường đạo”, đã thả mình bơi vào những dòng thời sự với sự tự tin kiêu mạn rằng mình đang giữ “tâm bình thường”, một “đạo vô ngôn”. “Thiền sư ở đâu” hay “Sự thật ở đâu”, tôi nghĩ đó là câu hỏi vốn có từ lâu của mình, không thể nào mất được, còn đây, còn đây trong mọi nẻo đường đời. Ấy vậy, chỉ là tưởng mà thôi. Sự thôi thúc trăn trở về Đạo, về thiền, về giác ngộ đã từng là trường lực bảo bọc tôi, nhưng, chỉ cần thiếu huân tập, chỉ cần đặt sự thôi thúc ấy xuống một lát, tâm ta đã sẵn sàng trượt vào biển mơ. Qua nhiều năm tháng, dữ kiện cuộc sống nhiều lên, thì mỗi ngày một tí, câu hỏi kia cứ mờ dần mờ dần rồi chỉ còn là chiếc bóng bị bản ngã đè ép, vẽ vời, khiến ta lầm tưởng là ta vẫn đeo đuổi đường đạo, mà thực ra đã lạc khỏi từ lâu. Những tháng ngày bộn bề dự án, deadline, tiệc tùng, tình ái… thời gian đầu, tâm tôi còn luôn được quán sát, điều chỉnh, nhưng rồi sự phai nhạt tự đến, những cơn mộng tự kiến tạo mà tôi không hề hay biết, vẫn nghĩ mình đủ sức dụng pháp “đối cảnh vô tâm”. Than ôi!

Đang giữa mùa xuân, tôi ngậm ngùi nhìn lại mình, đã thấy trong mình những thất vọng đớn đau, những vết thương chữa trị bằng trốn chạy, những cao ngạo nhếch cười khi nhìn người lễ Phật, những lười biếng xa rời kinh kệ, thiền định. Tôi giờ đây biết rõ mình ảo vọng khi cho rằng mình đã đủ sáng để đi trong đêm. Tôi có ngờ đâu trí trăm năm kinh sử cũng vẫn chỉ là trí thế gian. Có hàng đệ tử xuất sơn hành đạo, cũng có hạng phải rời núi vì chẳng đủ trí. Hạng kia có đủ liêm sỉ để thừa nhận với đời dưới kia điều đó?

Cảm xúc của tôi có từ tập sách này có gì giống như cảm xúc lúc người nhận ra một cành mai nhỏ vẫn nở trong đêm xuân tàn của sư Mãn Giác. Vẫn còn đây, cuộc kiếm tìm về diện mục hồn nhiên, Hồi đầu thị ngạn. Con tìm về đây, ơi quê cũ.

‘Thiền sư ở đâu” - ơn người không chỉ vì chia sẻ những trải nghiệm rất thiền, nhưng, đã thức dậy một nhành hoa muốn nở.

Tháng 3, mùa hoa gạo
L.T  
(SHSDB28/03-2018)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.

  • HOÀNG DIỆP LẠCBất chợt giữa một ngày mưa gió, nhìn những hạt nước toé lên từ mặt đất như những đoá hoa mưa. Một loài hoa của ảo giác. Có thể trong tâm trạng như vậy, Lê Tấn Quỳnh chợt hỏi:Hoa vông vangCó hay không

  • ĐINH NAM KHƯƠNG(Thơ Tuyết Nga - NXB Hội Nhà văn 2002)

  • NGUYỄN VĂN HOA1. Cuối thế kỷ 20, tôi làm cuốn sách “Tuyển tập thơ văn xuôi Việt Nam và thế giới” cùng tiến sỹ Nguyễn Ngọc Thiện (Viện Văn học Việt Nam), trong tập sách này gồm phần học thuật và phần tuyển thơ Việt Nam và Thế giới. Phần thơ Việt có nhiều tác giả sinh sống ở Huế, ngẫu nhiên-tình cờ có hai nhà thơ có thơ trong tập này, đó là Hải Bằng và Hải Trung.

  • NGA LINH NGA1. Xuất bản mười hai tập thơ, mười hai tập văn xuôi, một tập nhạc; viết mười hai kịch bản phim chân dung, hai mươi lời bình cho các phim khác, biên soạn hai mươi tập nhạc... điều thật khó tin ở một người nổi tiếng rong chơi, thích cao đàm khái luận, thường không mấy khi vắng mặt nơi những cuộc rượu của đám văn nghệ Hà Thành như Nguyễn Thụy Kha.

  • L.T.S: Trong vài năm lại đây, ở Huế, chưa có tập sách nào ra đời lại gây được “hiệu ứng ngạc nhiên” cho bạn đọc như một hiện tượng ngoài tập Thơ Trà My của Nguyễn Xuân Hoa ấn hành vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Huế và Đà Nẵng vừa qua. Ngoài các bài viết giới thiệu, phê bình in trên nhiều tờ báo trung ương và địa phương, Sông Hương vẫn tiếp tục nhận được thêm các ý kiến cảm thụ về tập thơ này.Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG           (Đọc tập thơ Trà My của Nguyễn Xuân Hoa)

  • YÊN CHÂU          (Đọc Thơ Trà My của Nguyễn Xuân Hoa)Giống như những cây xanh bói muộn bất ngờ cho một mùa hoa trái, thơ Nguyễn Xuân Hoa xuất hiện đột ngột như vậy. Anh không cho in rải rác đâu đó, cũng không đọc thơ ở những cuộc gặp gỡ bạn bè. Im lặng, đùng một cái cho ra hẳn một tập thơ. Thơ Trà My của nguyễn Xuân Hoa đã đến với bạn bè như vậy.

  • BÙI ĐỨC VINH            (Nhân đọc tập thơ “Cho người tôi thương nhớ”-NXB Hội Nhà văn 2004)Có một chàng thi sĩ phong tình đi lang thang vô định trên nẻo đường mưa bay gió tạt, chợt lơ đãng nhận ra mình là kẻ bị tình yêu truy nã trong bài thơ “Nhận diện” anh đã tự thú với trái tim thổn thức của mình.

  • INRASARA           (Đọc Mang, tập thơ của Phan Trung Thành, Nxb, Trẻ TP.Hồ Chí Minh, 2004.)Dòng Seine và cầu Mirabeau, cuộc tình với người tình. Sông đi và cầu ở lại, cuộc tình tan nhưng người tình thì ở lại. Mãi mãi ở lại, cùng nỗi buồn ở lại.                Con sông nào đã xa nguồn                Thì con sông đó sẽ buồn với tôi                                                (Thơ Hoài Khanh)

  • THANH THIỆNBốn mùa yêu là tập thơ tình mang ý nghĩa "vật chứng" cho một biệt lập tâm hồn có tên là Lưu Ly. Người thơ này dường như luôn đắm mình trong giai điệu tình yêu muôn thuở giữa ba ngôi Trao - Nhận - Trả và đã chọn cách trả sòng phẳng nhất cho sự nhận của mình là trả vào thơ.

  • NGUYỄN VĂN HOA(Nhân đọc Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường)Tôi đã đọc nhiều tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi cũng đã gặp ông trực tiếp đôi ba lần ở Huế và Hà Nội. Nhưng ấn tượng nhất là buổi hội ngộ của gia đình tôi với ông ở nhà nhà thơ Ngô Minh ở dốc Bến Ngự Huế.

  • HOÀNG VŨ THUẬT         (Thơ Chất trụ của Nguyễn Hữu Hồng Minh- Nxb Thuận Hoá 2002)Nguyễn Hữu Hồng Minh không làm cái phép phù thuỷ đưa độc giả tới một không gian rắc rối. Quan niệm về thơ của anh được trình bày rất nghiêm túc qua bài “Chất trụ”, lấy tên cho tập thơ. Tôi rất đồng tình quan niệm này, không mới, nhưng không dễ làm người ta chấp nhận.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Đọc Dòng sông Mía của Đào Thắng)

  • TRẦN THIÊN ĐẠOCứ suy theo nhan đề, thì chúng ta có thể xếp các trang Viết về bè bạn - Tập chân dung văn nghệ sĩ (NXB Hải Phòng, 2003) của Bùi Ngọc Tấn cùng một loại với mấy tập sách đã ra mắt bạn đọc vài ba năm nay.

  • NGÔ MINHDi chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh do BCH TW Đảng công bố  trong ngày tang lễ Bác tại Quảng trường Ba Đình ngày 3-9-1969 (năm Kỷ Dậu) là một tác phẩm văn hóa lớn, thể hiện tình yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân và nhân cách vĩ đại của Bác Hồ.