Báo cáo của Văn phòng thường trực phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn gửi Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cho biết trong đợt lũ vừa qua, không có nhiều thủy điện xả lũ và mức xả không lớn. Thế nhưng phản ánh từ các địa phương cho thấy bản báo cáo này hoàn toàn khác xa với thực tế.
Căn nhà của bà Võ Thị Hoa (phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn, Bình Định) bị sập và đổ nát sau cơn lũ - Ảnh: Duy Thanh
Báo cáo cho biết tại thời điểm ngày 15-11, khu vực Bắc Trung bộ có tám hồ chứa thì chỉ có hai hồ xả nước điều tiết, đó là hồ thủy điện A Lưới xả 134 m3/giây, dự kiến trong 12 giờ tới xả 300 m3/giây; hồ Bình Điền xả 296 m3/giây, dự kiến xả 600 m3/giây. Hồ Hương Điền dự kiến xả 360 m3/giây.
Tại khu vực Tây nguyên, với 21 hồ thì chỉ có một hồ xả là thủy điện Buôn Kuốp xả 36 m3/giây, duy trì trong 12 giờ tới. Khu vực duyên hải Nam Trung bộ với 14 hồ có ba hồ xả, gồm hồ Vĩnh Sơn A xả 22 m3/giây, hồ Vĩnh Sơn C xả 15 m3/giây. Riêng có thủy điện Sông Ba Hạ, mức xả theo báo cáo cập nhật ngày 15-11 lên tới 500 m3/giây.
Tai họa mang tên “thủy điện An Khê - Kanak”
24 người chết Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương nêu thiệt hại về người lên đến con số 24 (Quảng Nam: 2, Quảng Ngãi: 8, Bình Định: 12, Gia Lai: 1, Kon Tum: 1). Số người mất tích: 10 người (Quảng Nam: 1, Quảng Ngãi: 4, Bình Định: 2, Phú Yên: 1, Khánh Hòa: 1, Gia Lai: 1)... |
Tại An Khê (Gia Lai), đến chiều 17-11 người dân vẫn chưa hết bàng hoàng khi nói về cơn lũ này.Bà Trần Thị Thanh Nga (người dân tại thôn 1, xã Song An, thị xã An Khê) cho biết hai ngày qua gia đình bà phải vật vã với việc di chuyển đồ đạc, nhà cửa để chạy lũ. Rạng sáng 16-11, nước sông Ba lên rất nhanh và có tới 16 hộ gia đình tại xã Song An - nơi gia đình bà sinh sống - ngập sâu trong nước, riêng nhà của gia đình bà thì ngập lên tới bàn thờ. “Tôi ở đây từ năm 1975, ở đây không có con nước nào vô hết. Mà bữa nay tự nhiên thấy nước cuồn cuộn, không biết nước ở đâu mà nhanh vậy. Tủ rương ngã hết, còn gà vịt trôi mất” - bà Nga nói.
Ông Đặng Văn Thu, trưởng thôn Thượng An 1, xã Song An (thị xã An Khê), nói chưa bao giờ nước từ thượng nguồn sông Ba đổ về nhanh và bất ngờ như vậy. Người dân phải chạy lũ thoát thân, sáng hôm sau khi trở về đã thấy nước ngập trắng.
Số liệu của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Tây nguyên cho thấy: mực nước sông Ba đoạn chảy qua thị xã An Khê trong đêm 15 rạng sáng 16-11 vượt trên báo động 3 là 3,65m - mức nước này đã vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1981 tới 1,67m. Trong khi đó tại thị xã Ayun Pa, nước lũ cũng chạm cầu Bến Mộng. Người dân ở đây cho biết mực nước lần này lớn hơn cả đợt lũ tháng 10-2010.
Ông Trịnh Duy Thuân, bí thư Thị ủy An Khê, cho biết “thủ phạm” gây ra tình trạng ngập lụt của thị xã An Khê trong đợt mưa lũ vừa qua là do thủy điện An Khê - Kanak. Ông Hồ Văn Diện, phó chủ tịch UBND thị xã Ayun Pa, cũng nói trong đợt ngập lụt lịch sử vừa qua có nguyên nhân từ việc Nhà máy thủy điện An Khê - Kanak và hồ thủy lợi Ayun Hạ đã xả lũ. “Chiều 15-11, sau khi được thông báo hồ thủy điện An Khê - Kanak xả lũ với lưu lượng 2.400 m3/giây, chúng tôi huy động lực lượng khẩn cấp di dời toàn bộ các hộ dân, trâu bò và tài sản của dân ở các phường xã nằm dọc hai bên bờ sông lên khu vực an toàn. Nhờ vậy, dù lũ lịch sử nhưng không gây thiệt hại lớn” - ông Diện nói.
Tại cuộc họp với lãnh đạo các ngành liên quan ngày 17-11, ông Hồ Quốc Dũng - phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định - yêu cầu lãnh đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tham mưu gấp cho UBND tỉnh để kiến nghị sớm có một đánh giá khoa học về thực trạng lũ lụt miền Trung. Ông Dũng bức xúc: “Tôi xuống dưới dân, người ta nói họ sống cả ngàn đời, mưa thế này là không gì hết. Lâu nay mình sống ở quê mình biết, mưa 200-300mm là thường thôi. Nhưng những năm gần đây, ở miền Trung hễ có mưa là có lũ lớn và rất lớn. Do đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phải tham gia để đánh giá vì sao chuyện đó xảy ra, chứ bây giờ chẳng ai nói được hết. Hễ có lũ lớn, ông thì đổ cho thủy điện, ông đổ cho thủy lợi, ông thì đổ mưa to, ông thì đổ do phá rừng, đủ thứ, cuối cùng không biết đổ đâu thì nói là do biến đổi khí hậu. Nếu cứ để thế này thì đời sống của người miền Trung ngàn đời nữa còn cơ cực, không cách chi mà ngóc đầu lên nổi”.
|
Ngày 15-11, nước lũ dâng gần ngập cầu Sông Ba qua thị xã An Khê (Gia Lai) - Ảnh: Lê Trang |
Người dân mất trắng
Theo số liệu ghi nhận được cho thấy từ 7g sáng 14-11, mực nước trong hồ thủy điện Hương Điền (dung tích chứa lên đến 820 triệu m3, nằm trên sông Bồ của tỉnh Thừa Thiên - Huế) đã vượt trên mức an toàn cho phép là 40cm và mực nước này liên tục tăng lên vào những giờ sau đó, nhưng phía nhà máy vẫn không có động thái can thiệp nào. Mãi đến 13g ngày 15-11, khi phía hạ nguồn đã “no” nước do mưa kéo dài thì phía trên thượng nguồn do không chịu nổi lượng nước ồ ạt đổ về hồ nên nhà máy này mới mở cửa xả hết mức có thể với lưu lượng xả lên đến 2.000 m3/giây (trong khi nước về hồ đo được là 1.781 m3/giây). Đến 17g cùng ngày, con số xả lũ đã tăng lên 2.400 m3/giây (trong khi nước về hồ là hơn 2.000m3/giây). Việc thủy điện Hương Điền xả lũ không theo quy trình (nước xả khỏi hồ nhiều hơn nước nhận vào hồ) đã khiến hàng vạn hộ dân của Thừa Thiên - Huế bị nhấn chìm trong lũ.
Ông Nguyễn Sự - bí thư Thành ủy TP Hội An (Quảng Nam) - cho rằng ngoại trừ cái lợi của thủy điện mang lại là năng lượng thì mặt trái của nó quá nhiều. Mùa khô tích nước làm Hội An điêu đứng. Nước sông Hoài khô dòng, Cửa Đại bị ngập mặn, nhà máy nước phải đóng cửa. Mùa lũ, việc xả lũ làm nước về nhanh, gây xói lở, đổi dòng, uy hiếp an nguy của phố cổ. “Ai ủng hộ thủy điện kệ họ nhưng tôi thì không. Bất cứ một thủy điện nào xả lũ, Hội An cũng phải gánh chịu. Ngành du lịch ảnh hưởng khủng khiếp” - ông Sự nói.
Theo ông Hồ Văn Mẫn - phó Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn huyện Đại Lộc (Quảng Nam): “Khi thủy điện xả lũ, có báo trước với ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện, chúng tôi thông báo đến các địa phương và người dân. Tuy nhiên, việc tiếp nhận thông tin của người dân còn hết sức hạn chế, có nhiều người đi làm đâu có nghe thông báo, đối phó không kịp, việc thiệt hại về người và của là rất dễ xảy ra”. Ông Mẫn đề nghị các cơ quan chuyên môn, có thẩm quyền giám sát cho được các hồ chứa nước của thủy điện về quy trình vận hành xả lũ, quy trình phối hợp xả lũ giữa các thủy điện. “Phải dự báo và xả lũ sớm, khi mực nước thấp, mực nước sông ở mức báo động 1, 2 thì nên xả, đừng đợi đến khi nước sông ở mức báo động 3 thì xả một lần mấy nghìn m3/giây, dân hạ du chúng tôi chỉ có uống nước no thôi” - ông Mẫn nhấn mạnh. Ông Mẫn cho rằng trong số các thủy điện hiện đang vận hành có ảnh hưởng đến hạ lưu vùng Đại Lộc, chỉ duy nhất thủy điện A Vương là có ký cam kết cùng giám sát việc xả lũ (địa phương cử người lên giám sát xả lũ tại nhà máy) và thông báo lũ trên hệ thống loa công cộng, các thủy điện khác từ Đăk Mi 4, Sông Bung 4, 4A, 4B đều không thực hiện được việc này.
Ông Nguyễn Văn Trúc, chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, cũng nói những ngày qua mưa quá lớn, cộng thêm việc xả lũ của các thủy điện nhanh và đột ngột, có lúc xả hơn 7.000 m3/giây. Nước lớn về ban đêm, trong vòng hai giờ mà từ báo động 1 lên đến báo động 3, người dân ở dưới trở tay không kịp. Mỗi lần thủy điện xả lũ là y như rằng người dân Đại Lộc mất trắng, đợt này hoa màu bị hư hỏng nặng hơn 100ha.
Tính đến chiều tối 17-11, nước về lòng hồ tại thủy điện Sông Tranh 2 là 2.558 m3/giây, khiến nước trong lòng hồ dâng cao vượt trên ngưỡng tràn hơn 3,5m, buộc thủy điện này phải tiếp tục xả tràn với lưu lượng lên đến 2.450 m3/giây. Trong khi đó lượng nước về hồ ở thủy điện A Vương là 250 m3/giây, hiện nhà máy này đang xả về hạ lưu một lượng nước tương tự đã nhận.
NHÓM PV TUỔI TRẺ ( TTO)
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.