Thương tiếc hoạ sĩ Đỗ Kỳ Hoàng

16:25 08/01/2009
VÕ QUÊLTS: Hoạ sỹ Đỗ Kỳ Hoàng nguyên ủy viên thường vụ Hội LH.VHNT TT.Huế, nguyên chủ tịch Hội Mỹ thuật TT.Huế, nguyên giảng viên Đại học Nghệ thuật Huế v.v... đã từ trần ngày 26 tháng 10 năm 2006, hưởng thọ 75 tuổi.Thương tiếc người hoạ sỹ tài danh xứ Huế, Sông Hương xin đăng bài viết của nhà thơ Võ Quê và xin được coi đây như một nén hương tưởng niệm.

Mỗi ngày, mỗi ngày... du khách trong, ngoài nước khi đến tham quan di tích lịch sử Ngọ Môn, Huế đều không thể không thưởng ngoạn tác phẩm mỹ thuật “Lễ Truyền lô” có giá trị nghệ thuật bằng sơn mài của họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng được trưng bày tại đây, bức tranh giới thiệu về một nghi thức quan trọng của cung đình triều Nguyễn.
Theo sự đánh giá của nhiều đồng nghiệp mỹ thuật đương thời, họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng đã sáng tác bằng một tâm hồn yêu quê hương chân chính. Từ trong sâu thẳm tâm thức người nghệ sĩ tài hoa ấy là những dằn vặt, suy tư, chiêm nghiệm về đời, về người, về cuộc sống. Họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng đã dành phần lớn cảm xúc sáng tạo cho chủ đề Huế: Huế đẹp, Huế thơ, Huế cổ kính, Huế trầm lắng, Huế duyên dáng, Huế trữ tình của “Hương Giang nhất phiến nguyệt. Kim cổ hứa đa sầu” trong thơ Nguyễn Du và một Huế khí phách, hào hùng, lãng mạn cách mạng với hình tượng “trường giang như kiếm lập thanh thiên” trong thi phẩm “Hiểu quá Hương Giang” của Cao Bá Quát. Những tác phẩm hội họa chuyên về sơn mài của Đỗ Kỳ Hoàng được xuất hiện trước công chúng đã rất trung thực biểu lộ những hoài bão, khát vọng, ước mơ của ông nhằm giới thiệu, phản ảnh sinh động những giá trị, bản sắc văn hóa Huế trong các thời kỳ, qua nhiều cách thể hiện vừa phong phú, đa dạng của mỹ thuật đương đại, vừa rất nhuần nhuyễn, thuần thục, tinh tế trong hòa sắc phương Đông.

Với một quá trình sáng tác tương đối sung mãn, đam mê, linh hoạt và thêm vào đó là một bề dày hoạt động trên lĩnh vực mỹ thuật từ trước đến nay, họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng đã đem đến công chúng yêu thích nghệ thuật tạo hình những cuộc triển lãm kỳ thú và được nhiều nhà phê bình mỹ thuật, những nhà sưu tập trong và ngoài nước cảm nhận một cách sâu sắc về ý tưởng, nội dung, chủ đề thể hiện của tác giả. Đó là các cuộc triển lãm cá nhân tại Sài Gòn (1961, 1970), Huế (1966, 1972, 1993)), Đà Lạt (1969); các cuộc triển lãm chung tiêu biểu như: Triển lãm 3 họa sĩ Huế tại Hà Nội (1988), triển lãm lưu động tại An Ocean Apart, Hoa Kỳ (1995), triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc (1976, 1980, 1985, 1990, 1995, 2000...), triển lãm chung của các trường Đại học Mỹ thuật Huế, Hà Nội, Chiang Mai và Silpakorn, Thái Lan (1995, 1997), triển lãm tranh Huế nhân dịp Tuần Văn hóa Huế tại Hà Nội (1999), triển lãm tranh 7 họa sĩ Huế: Đỗ Kỳ Hoàng, Nguyễn Thái Hòa, Thân Văn Huy, Ngô Lan Hương, Hồng Trọng Mỹ, Vũ Văn Thiện, Đặng Mậu Tựu tại Khách sạn Mélia, Hà Nội do Đại Sứ quán Thụy Sỹ bảo trợ  (2000)...

Hạnh phúc lớn lao nhất của họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng trong cuộc đời dạy học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật ( nay là trường Đại học Nghệ thuật Huế) là đã rất tâm huyết khi đào tạo, bồi dưỡng nhiều thế hệ học trò ngành mỹ thuật. Những thế hệ học trò ấy đã dành riêng cho ông sự trân trọng cao khiết bởi ông đã có những cống hiến tâm thành khi truyền thụ tất cả các chức năng về kỹ thuật ứng dụng, về xử lý chất liệu, hình ảnh, sắc màu, bố cục khi sáng tác tranh sơn mài. Điều đáng nói là họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng thường tinh tế, chuẩn xác khi đánh giá, nhận xét về tài năng của đồng nghiệp cũng như tay nghề, tính cách của học trò trong các bài viết rất công phu về học thuật. Nhìn nhận về sự phát triển nền mỹ thuật Huế, nhiều người đã ghi nhận công lao của họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng, bởi ông đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng phong trào mỹ thuật Huế ngày một lớn mạnh, trưởng thành, tạo điều kiện tốt cho nhiều tác giả mỹ thuật trẻ trở thành hội viên Hội Mỹ thuật Thừa Thiên Huế, tiến tới trở thành hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam với nhiều cống hiến mới xây dựng thành công nền mỹ thuật đương đại của Thừa Thiên Huế và của cả nước. Chính xuất phát từ quan niệm này mà hai con trai của ông là Đỗ Kỳ Huy, Đỗ Kỳ Mẫn cũng trở thành những họa sĩ trẻ, tài danh, đang có những cống hiến tâm đắc cho sự phát triển phong trào sáng tạo mỹ thuật cố đô Huế.

Công tâm với những gì mà họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng đã hiến tặng cho đời, cho phong trào mỹ thuật, nhiều giải thưởng về nghệ thuật tạo hình đã được trao cho ông trong sự trân trọng, đáng quý: Giải thưởng của Hội VHNT Bình Trị Thiên (1980); Giải thưởng Bông Sen Trắng của Hội VHNT Bình Trị Thiên (1980-1985); Giải thưởng VHNT Cố Đô (1993); Giải thưởng VHNT hằng năm của Hội VHNT Thừa Thiên Huế (1995); Huy chương Vì sự nghiêp Mỹ thuật Việt Nam (Hội Mỹ thuật Việt Nam trao tặng); Huy chương Vì sự nghiệp VHNT Việt Nam (UBTQLHCHVHNT Việt Nam trao tặng).
Sau năm 1975, bên cạnh chức năng chuyên môn là một thầy giáo hội họa bộ môn sơn mài của trường Đại học Nghệ thuật Huế, họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng đã tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật, chính trị xã hội đạt hiệu quả cao. Với cương vị đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố Huế, Hội đồng Nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi hội trưởng Chi Hội Mỹ thuật Việt Nam tại Huế (1994)... họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng đã rất tâm huyết bảo vệ những giá trị truyền thống văn hóa nghệ thuật Huế trên diễn đàn, trong nghị trường, tạo niềm tin trong cử tri, trong hội viên mỹ thuật về một thành phố Huế trữ tình, giàu tính nhân văn, đầy ắp những không gian mỹ thuật.

Từ lâu, họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng vẫn canh cánh bên lòng một ý niệm, một mong ước thiết tha về một Bảo tàng Mỹ thuật Huế. Họa sĩ Đỗ Kỳ Hoàng từng tâm sự: “Giờ đây, với nữ Điêu khắc gia Điềm Phùng Thị thì đã có nhà trưng bày tác phẩm điêu khắc tại đường Phan Bội Châu, Huế; với họa sĩ Lê Bá Đảng đã có Trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng tại 15A Lê Lợi Huế. Vậy mà giới mỹ thuật Huế vẫn đang còn phân vân, băn khoăn đến khát khao, xót xa thầm hỏi: Không biết tới khi mô mỹ thuật Thừa Thiên Huế mới có một bảo tàng?”
                    V.Q

(nguồn: TCSH số 213 - 11 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ VĂN THUYÊNThuộc lớp họa sĩ được đào tạo cuối cùng ở trường Mỹ thuật Đông Dương, nhưng họa sĩ Phạm Đăng Trí đã đi vào con đường hoạt động nghệ thuật chủ yếu là bằng cái vốn tự học tập, tự tìm tòi và nghiên cứu riêng của mình.

  • NGUYỄN HỮU NGÔKhu nhà máy bên kia sông tràn đầy sức sống giữa một bầu trời êm ả. Những bông cỏ chen nhau vươn lên… và bỗng nhiên một cánh chuồn chuồn đỏ thắm đáp xuống - một chi tiết thật bất ngờ và thú vị. Toàn thể bức tranh tỏa ra ánh dịu dàng của một buổi sáng mùa xuân.

  • ĐẶNG MẬU TỰUKhi được Hội Mỹ Thuật Việt Nam phân bố cho miền Trung một suất đi thực tế Trường Sa, Họa sĩ Lê Văn Nhường là một điểm trong tầm ngắm để được giới thiệu đi trong chuyến hải hành này. Trường Sa là một trong những mục tiêu mà Hội Mỹ thuật quan tâm trong cuộc vận động sáng tác về biển đảo trong năm 2010 - là điểm nóng vì là tiền tiêu của Tổ quốc. Ai cũng mong có một lần được đi đến đó.

  • THANH TÙNGVào những ngày cuối tháng 7-2010 Đinh Cường từ Mỹ về và Phan Ngọc Minh từ Đà Nẵng ra tổ chức một cuộc triển lãm tranh ở gallery Chiêu Ê - số 89 Minh Mạng, thành phố Huế - nhà riêng của hoạ sĩ Hoàng Đăng Nhuận.

  • TRẦN THANH BÌNHCách đây đúng 9 năm, có một họa sĩ xứ Huế đã lang thang gần 2 tháng trời trên những góc phố cổ kính Hà Nội để "chiêm nghiệm", đó là Lê Quý Long.

  • LÊ QUÝ LONGMùa xuân năm ấy, vào dịp Tết, chợt nhớ đến người bạn đồng nghiệp ở cách thành phố hơn hai kilômét về phía tây dọc theo dòng sông Hương. Anh ở gần chợ Long Thọ, bên trái là con đường đi đến sân Hổ Quyền.

  • SĨ THIỆNTrại sáng tác điêu khắc Quốc tế lần 2 được tổ chức tại Huế đã kết thúc được 3 tháng. Bằng sự lao động sáng tạo, bất chấp cái "mưa thúi đất thúi trời", 14 nhà điêu khắc Việt Nam là 16 nhà điêu khắc đến từ châu Mỹ, châu Âu, châu Á đã để lại cho Huế 30 bức tượng, một món quà vô giá và vĩnh hằng.

  • NGÔ MINHTôi quen biết họa sĩ Đặng Mậu Tựu từ những ngày gửi con trai đi học lớp hội họa ở Nhà Thiếu nhi Huế. Những ngày đó thiếu nhi đến học vẽ đông lắm. Có lớp buổi sáng, buổi chiều, lại có lớp ban đêm. Lớp nào cũng có mặt thầy Đặng Mậu Tựu có mái tóc bồng bềnh như sóng Quy Nhơn, mặt mày hốc hác vì thiếu ngủ và thiếu dinh dưỡng, cặm cụi dạy các cháu cách cầm cọ, pha màu, phác thảo tranh. Rồi thầy Tựu dắt các em đi chơi Bạch Mã, Lăng Cô... để tìm cảm hứng vẽ.

  • LGT: Sau hơn năm tháng bị tai biến, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận đang dần hồi phục trở lại. Ý thức sống là sáng tạo đã thôi thúc người họa sĩ. Và như vậy toile đã căng lại trên khung, màu cũng đã sẵn sàng.A. Camus trong một cơn bệnh đã chiêm nghiệm “Bệnh tật là một dòng tu kín”. Hy vọng rằng trong ngọn lửa sáng tạo nhen lên lần này, tranh Hoàng Đăng Nhuận có thêm nhiều chiêm nghiệm mới trong dòng tu kín của mình.S.H

  • ĐẶNG MẬU TỰU... Về quê, về quê, ai cũng có ít ra một lần về quê.Về cái nơi chôn nhau cắt rốn ấy, dù giàu nghèo đến đâu thì mảnh đất ấy cũng rất thiêng và rất riêng với mình.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANTừ những thập niên sáu mươi đến tám mươi của thế kỷ trước, trong làng vẽ Huế, họa sĩ Lê Vinh - một cây cọ cinéma nổi lên như hiện tượng. Tưởng rằng, ông chuyên vẽ tranh quảng cáo, pano, nhưng không, ông có 20 bức vẽ còn lưu giữ trong Bệnh viện Trung ương Huế từ năm 1970 và là người vẽ tranh Bác Hồ to lớn nhất Việt Nam trong thời điểm 1975.

  • HẠNH NHIĐó là tên sê-ri tranh sơn mài của họa sĩ Đinh Khắc Thịnh - người được biết đến nhiều với các tác phẩm mỹ thuật sắp đặt trong các Festival nghề thủ công truyền thống và các Festival Huế.

  • PHAN THANH BÌNH-KHÁNH TRANGNăm nay triển lãm mỹ thuật Bắc Miền Trung lần thứ VIII được tổ chức tại Thanh Hoá, vùng đất địa đầu của khu vực miền Trung. Triển lãm trưng bày 116 tác phẩm của 46 tác giả là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và 51 tác giả hội viên Hội VHNT các địa phương. Hội đồng nghệ thuật đã loại 19 tranh vi phạm quy chế về thời gian sáng tác, kích thước (TT-Huế có 3 tranh) và đặc biệt trong đó có 9 tranh bị loại vì chất lượng nghệ thuật kém.

  • PHAN THANH BÌNHHình bóng người phụ nữ xứ Huế từ lâu đã được khắc sâu trong nghệ thuật hội họa với bao tác phẩm, dáng hình và tình cảm sâu nặng, với những vẻ đẹp chiều sâu hài hòa, rung cảm, xao động lòng người. Những tác phẩm ấy đã có ý nghĩa lịch sử lớn lao trong việc khẳng định và làm sáng tỏ hơn những giá trị tinh thần, phẩm chất của con người Huế nói chung và của người phụ nữ Huế nói riêng.

  • Đầu năm 1997, khi mới chuyển về công tác tại Đài Truyền hình Huế, tôi có ý định làm một phim tài liệu nghệ thuật về hoạ sĩ Bửu Chỉ. Sau nhiều lần từ chối, họa sĩ Bửu Chỉ đã đồng ý giúp tôi việc này. Ngày 25-2-97, tôi gửi anh 7 câu hỏi nhằm có thêm tư liệu để lên đề cương kịch bản phim. Hơn 20 ngày sau, anh chuyển cho tôi một thếp giấy vở học trò gồm 13 tờ do tự tay anh viết xong, đề ngày 16-3-1997. Vì nhiều lý do, phim chưa làm được, tôi gửi trả anh các tư liệu đã mượn, riêng bài trả lời phỏng vấn, anh nói tôi hãy giữ làm kỷ niệm về một dự định bất thành.Với tất cả tấm lòng thương quý và kính mến một người Anh, xin được giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Anh mà tôi xem như là những trang di cảo về CUỘC ĐỜI VÀ NGHỆ THUẬT.                                                ĐẠI DƯƠNG

  • ĐẶNG MẬU TỰUGiới họa sĩ xem Bửu Chỉ là một người đặc biệt không chỉ vì tính khí hoặc bởi từ một người học và tốt nghiệp ngành luật nhưng lại tự học vẽ,  có tác phẩm từ lúc học Luật rồi trở thành họa sĩ thực thụ, chết sống với nghề, mà vì tác phẩm của anh có một sắc thái riêng, anh đã tạo cho mình một cõi riêng trong nền nghệ thuật đương đại.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOMột ngày cuối năm Con Khỉ, tôi ghé vào Gallery Minh Châu số 7 Lý Đạo Thành, Hà Nội, không phải để chiêm ngưỡng tranh của các bậc thầy hội hoạ Nguyễn Phan Chánh, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng... vẫn thường được bày bán ở đây, hay để thăm cô chủ nhỏ Minh Châu quen thân từ trong Huế như mọi lần, mà để xem tranh của mẹ cô vừa mang từ Huế ra trình làng với giới hâm mộ hội hoạ đất Hà Thành.

  • PV: Ảnh hưởng nào đã cho hoạ sỹ về một thế giới quan có tên gọi là: "Không gian Lê Bá Đảng"? Lê Bá Đảng (L.B.Đ): Không gian của tôi là tạo hoá thiên nhiên hài hoà trong tác phẩm. Không có cô đứng, cô ngồi, cô uỷ lụy, cô say, cô tỉnh, cô chiêm bao; không nhìn thẳng như mọi người mà nhìn từ nhiều góc độ.

  • PHÚC VINHSau một thời gian dài lang bạt giang hồ, tết này, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận quyết định trở về Galery Chiêu Ê, nơi ông đã gắn bó một thời trai trẻ, trú mình trong căn họa thất xinh xắn vừa xây dựng.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀNLàm nghệ thuật ở xứ nghèo là một “thiện nghiệp gian nan”! Thiện nghiệp vì làm cho đời vui. Gian nan vì phải sống đời áo cơm vất vả.