Thông điệp của Corona

09:41 06/07/2020

Đại dịch Corona đang tác hại một cách khủng khiếp. Từ mức tử vong 3.331 tại Trung Quốc vào đầu tháng 4-2020, theo thống kê chính thức, chỉ sau một thời gian ngắn - tính đến ngày 29-4-2020 - con số này đã vọt lên 217.596 người tử vong; tổng số ca nhiễm tăng đến 3.134.199 người (1).

Thế nhưng, đây chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, chủ yếu vì ta không thể đếm hết ai đã bị nhiễm. Song song với đại dịch Corona là một thảm họa toàn cầu khác, một loạt sóng thần mang tên kinh tế, xã hội và chính trị mà hiện nay chưa ai đoán được kết cục sẽ đi về đâu.
 

NẾU CHỈ NÓI VỀ MẶT Y TẾ...
 
.. thì Corona gây thảm họa lớn nhất kể từ 100 năm nay. Ngày nay người ta còn nhắc đến đại dịch của năm 1918/1919 với trên 20 triệu người chết, được mệnh danh là “dịch cúm Tây Ban Nha”. Từ đó đến nay khái niệm “đại dịch” mờ phai trong tâm  khảm con người và đó là một trong những lý do của tình trạng kinh hoàng hiện nay. Dù dịch bệnh vẫn xuất hiện thường xuyên như SARS năm 2003, H1N1 năm 2009, MERS năm 2012 hay EBOLA năm 2014, người ta vẫn xem dịch bệnh là một loại rủi ro y tế có tính chất địa phương, xảy ra tại các nước nghèo ở châu Á hay châu Phi. Năm 2015, nhân sĩ đáng trọng Bill Gates có một bài giảng thuyết nói vẻ khả năng xảy ra một nạn dịch toàn cầu, trong đó chúng ta hoàn toàn không chuẩn bị. Thế nhưng bài nói đáng được chú ý đó vẫn bị rơi vào quên lãng.
 
Vì những lẽ đó, Corona ập đến như một cơn sóng thần hoàn toàn bất ngờ. Bắt đầu từ Vũ Hán trong khoảng những ngày Tết âm lịch, dịch Corana bị giấu giếm một thời gian và đó là lý do làm dịch lây lan tại Trung Quốc và trên thế giới. Thế giới phương Tây nhìn Vũ Hán với tâm trạng nhìn SARS hay EBOLA năm xưa và nghĩ mình sẽ được miễn trừ. Nhưng lần này, virus Corona có một đặc tính kỳ lạ là nó lây nhiễm ngay tức khắc, trước khi người bệnh bắt đầu có triệu chứng. Người ta vẫn tiếp tục ăn Tết khi đã mang bệnh và đã lây cho người khác. Sau đó từ Vũ Hán người ta đi khắp thế giới.
 
Đến phiên mình, các nước giàu mạnh Âu - Mỹ cũng coi nhẹ dịch bệnh và đánh mất thời gian chuẩn bị. Tỉ lệ tử vong của Corona không hề thấp, nó cao gấp 10 làn H1N1. Cuối cùng thì từ Tết âm lịch đến nay chỉ chưa đầy ba tháng trôi qua, con số tử vong toàn thế giới đã gấp hơn 70 lần con số ban đầu của Trung Quốc. Đó là con số tối thiểu, sự thực thường nằm trong bóng tối.
 
Đại dịch Corona là một loại bệnh khốc liệt, với tốc độ lây lan nhanh, với độ tử vong cao. Những con số thống kê hàng ngày tuy làm người ta sợ hãi nhưng nó cũng làm mòn tâm trí, dễ sinh tâm vô cảm. Chỉ những ai làm việc trên tuyến đầu như y sĩ, chuyên viên bệnh viện, những ai chứng kiến cái chết hàng loạt trong các nhà dưỡng lão, tại các nghĩa trang, viện thiêu xác... mới cảm hết nỗi đau thương của sự chết chóc, của sự bất lực, của sự lựa chọn cứu ai bỏ ai, khi số bệnh nhân cao hơn giường bệnh. Họ mới là người chứng kiến những cái chết cô đơn xót xa, những cuộc mai táng hàng loạt vô danh tính, vô trách nhiệm, không xứng đáng dành cho con người.
 
Không thể kể xiết nỗi đau khổ của sự chết chóc, của người đi - người ở lại. Nhà thiêu xác quá tải, những hộp tro vung vãi tại Trung Quốc, những nấm mồ tập thể tại Mỹ, cảnh tử thi nằm trên đường phố cả tuần tại Nam Mỹ không ai thu dọn. Tất cả đều là những cảnh tượng của thế kỷ XXI, những điều mà trước đó vài ba tuần không ai có thể hình dung được.
 
2.jpg
Sự khác biệt về kinh tế là, lần này hầu như tất cả mọi ngành kinh tế - cả sản xuất và dịch vụ, đều bị tê liệt
 
TỪ KINH TẾ - XÃ HỘI...
 
Đối phó với siêu vi vô hình Corona, người ta chỉ còn phương pháp cách ly xã hội để tránh lây lan. Khi chưa có thuốc chữa và vaccine chích ngừa thì đó là giải pháp độc nhất để tránh tử vong. Ban đầu thế giới nhìn biện pháp phong tỏa toàn thể tại Vũ Hán với sự kinh ngạc pha ngầm chút phê phán, cho đây là một phương pháp độc đoán khó áp dụng tại phương Tây. Thế rồi, khi đại dịch tràn đến Âu - Mỹ thì quả thực, không còn con đường nào khác ngoài việc cách ly con người, cô lập gia đình và xã hội. Thực tế đến nhanh hơn cơn lũ. Khi cả Trung Quốc, Ấn Độ, Âu - Mỹ và các nước khác đóng kín mọi sinh hoạt, thì cả thế giới đi vào sự tê liệt. Cỗ máy kinh tế vốn vận hành trên bình diện toàn cầu từ mấy mươi năm nay thình lình câm bặt.
 
So với các cuộc khủng hoảng trước, sự khác biệt về kinh tế là, lần này hầu như tất cả mọi ngành kinh tế - cả sản xuất và dịch vụ, đều bị tê liệt, từ các công ty xí nghiệp đa quốc gia cho đến các cửa hàng bán lẻ, những tiệm ăn bé nhỏ, các loại kinh doanh tự do và cá thể. Tình trạng này xảy ra gần như một lúc trên toàn thế giới. Đó là điều mà không ai có thể tưởng tượng có thể xảy ra, kể cả trong một cuộc chiến quân sự trên mức độ toàn cầu. Ngày hôm nay, sau nhiều tuần tê liệt, một số nơi đã bắt đầu vận hành bộ máy sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế là vô cùng to lớn. Rất nhiều cơ sở phá sản, cả trăm triệu người lâm vào cảnh thất nghiệp và rơi vào bế tắc tài chánh. Rõ ràng nhất là, cấu trúc kinh tế của thế giới trong những năm qua sẽ bị thay đổi một cách triệt để.
 
Về mặt xã hội, hệ quả khó giải quyết nhất là vấn đề thất nghiệp. Tại các nước tiên tiến như châu Âu và Mỹ, Nhà nước đủ ngân sách để tung những gói cứu trợ khổng lồ nhằm giảm thiểu số người thất nghiệp và cân bằng phần nào thu nhập cho dân chúng. Tuy thế, chưa ai biết công nợ phát sinh sẽ lấy gì bù đắp, kể cả các nước “giàu” như Tây Ban Nha hay Ý. Trong các nước khác như Ấn Độ, lran, Nam Mỹ hay châu Phi... ta có thể tưởng tượng ra một tình hình xã hội bi đát, trong đó con người vừa thiếu ăn, vừa không có công ăn việc làm, vừa bị phong tỏa trong nhà thiếu mọi điều kiện vệ sinh. Ta sẽ không ngạc nhiên nếu tới đây, các biến động xã hội sẽ phát sinh trong một số nước, xem như một hệ quả của cơn đại dịch.
 
Dù tại nước nghèo khổ hay giàu có, con người phải trải nghiệm một dạng mới của đời sống, đó là cách ly xã hội, hạn chế tiếp xúc, phải làm quen với một loại cô đơn bất đắc dĩ. Con người bỗng nhận ra rằng, liên lạc và tiếp xúc vốn là nhu câu thiết yếu của loài người, nếu thiếu có thể sinh ra nhiều loại tâm bệnh. Người ta cũng ngỡ ngàng nhận ra, bị bắt buộc tập hợp với nhau trong bốn bức tường là một điều không hề dễ chịu cho mọi thành viên trong một gia đình. Sự hài hòa trong gia đình sẽ bị phá vỡ nếu không có sự hài hòa với xã hội, nếu không có sự tiếp xúc trao đổi với cộng đồng. Một nguyên lý sống được biết từ lâu nay, tự chứng minh trong một hoàn cảnh vô cùng bất ngờ của con người.
Không thể kể hết mọi xáo trộn xã hội trên thế giới. Mỗi người chỉ trải nghiệm được những gì xảy ra trong môi trường riêng của chính mình. Đó là những đảo lộn chưa hề xảy ra và chúng xảy ra cùng loạt, đồng thời trên toàn cầu. Điều đó nói lên quy mô kỳ lạ của biến cố này trong lịch sử.
 
... ĐẾN CÁC TRẬT TỰ CHÍNH TRỊ
 
Tất cả chúng ta đều biết, nạn dịch Corona ban đầu chỉ là một vấn đề y tế, nhưng ngay phút đầu tiên đã bị chính trị hóa cao độ. Nạn dịch bùng phát tại Vũ Hán, một trung tâm công nghiệp củaTrung Quốc. Và ai cũng biết đối với Trung Quốc, “dập dịch” bằng bất cứ giá nào trở thành một nhiệm vụ chính trị của họ. Từ đó sinh ra tất cả luồng thông tin trái chiều về thành công hay thất bại đối với dịch bệnh, về các con số lây nhiễm và tử vong, về các thuyết âm mưu khác nhau. Ngày nay đã lộ rõ hai giải pháp có tính chính trị trong việc đối phó với Corona. Một bên là giám sát và tuyên truyền để “dập dịch”, bên kia dựa trên ý thức tự giác và kéo dài thời gian để đợi thuốc men. Hai giải pháp này phản ánh hai nền văn hóa, hai thể chế khác nhau và sẽ trở nên vô cùng thiết yếu về sau.
 
Đến khi đại dịch lan tràn toàn thế giới thì với sự suy sụp của các nền kinh tế chủ chốt như của Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga... người ta mới biết rằng, nạn dịch này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ cho các cấu trúc và chế độ chính trị. Hơn thế nữa, sự suy yếu của các nền kinh tế, của sự bấn loạn nội bộ, của sự tê liệt các phương tiện tác chiến (thí dụ Hàng không mẫu hạm) có khả năng dẫn đến các phiêu lưu quân sự. Khi đó thì đại dịch y tế sẽ thành đại chiến quân sự và tình hình hiện nay nguy hiểm hơn bao giờ hết. Người ta đang nhìn về biển Đông với một sự quan ngại sâu xa.
 
Bên cạnh các xung đột địa chính trị, mỗi quốc gia đều chạm trán với những thử thách to lớn. Do sự suy thoái trầm trọng về các chỉ số kinh tế, mỗi quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu... đều phải đổi mới chính trị, về mặt cấu trúc, thể chế, chính sách vĩ mô. Người ta biết rõ nước Mỹ sẽ không như xưa nữa, nhưng cường quốc này sẽ đi về đâu, đây là điều có những suy luận trái chiều. Trung Quốc sẽ khó lòng giữ vai trò “công xưởng của thế giới” nữa, họ cũng sẽ không dễ dàng thâu tóm các hãng xưởng trên thế giới vì người ta đã biết nghi ngờ một siêu cường đầy tham vọng. Liên minh châu Âu liệu có còn giữ được hiến chương chính trị của mình hay không, sau những thử thách nặng nề về nạn di dân, về tái thiết, về công nợ? Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Y tế Thế giới WHO có còn giữ cấu trúc cũ hay không, trước sự tranh chấp quyết liệt của các thành viên?
 
Các quốc gia nhỏ bé hơn tại châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh... liệu thể chế của họ có còn tồn tại hay không, khi con virus nhỏ bé đã lái cơn giận dữ của quân chúng chống lại các nhà cầm quyền. Thế giới hầu như sôi sùng sục với những âm mưu, thủ đoạn to nhỏ khác nhau... lợi dụng cơn đại dịch này để làm lợi cho vị trí và quyền lợi riêng của đất nước, thể chế hay phe phái mình.
 
Hiện nay, tuyệt đối không ai có thể nói, bộ mặt của thế giới cuối năm 2020 sẽ như thế nào, về trật tự chính trị, về cấu trúc kinh tế, về đời sống xã hội. Tất cả những khía cạnh này hiện đang tác động hỗ tương lên nhau và cuối cùng, ảnh hưởng lên quyết định của lãnh đạo các siêu cường, những người có thẩm quyền sinh sát toàn nhân loại.
 
3.jpg
Trong đại dịch Corona, một vấn đề thuộc về tâm thức văn hóa của phương Tây cũng lộ rõ
 
TỪ NHIỀU ĐỘNG TÂM MÃNH LIỆT...
 
Khi đời sống đảo lộn, sinh hoạt tê liệt, nỗi sợ dâng cao, có không ít người động tâm nhìn lại toàn cảnh xã hội, thẩm xét lại nền văn minh trong thế giới của mình và phát hiện nhiều điều vô cùng cốt lõi.
 
Moustapha Dahleb, một nhà văn xứ Chad ở châu Phi, bỗng nhiên được nhiều người biết đến. Tác giả viết một bài cảm thán với tiêu đề: “Loài người rúng động, xã hội suy sụp vì thứ xoàng xĩnh nhỏ nhoï” (2), trong đó nói lên tính “dễ tổn thương” của con người. Với một lối văn nhẹ nhàng hóm hỉnh, tác giả nêu đúng mạch: “Chỉ cần vài ngày để nhân loại ý thức được rằng mình chỉ là làn hơi và hạt bụi”.
 
Vô hình vô ảnh, virus Corona xóa nhòa mọi ranh giới giàu nghèo, châu lục. Thế nhưng nó cũng làm rõ sự khác biệt về những định kiến sâu kín. Giáo sư Paul Robert Vogt, người Thụy Sĩ, có bài viết trên một tờ báo ít người biết (3), nhưng được cả thế giới chú ý. Chỉ trong hai ngày đã có 350.000 lượt người tham khảo bài viết này. Khác với các nguồn tin đại chúng, ông xác định nạn dịch Corona đã được báo trước từ rất sớm, nhưng châu Âu và Mỹ “quá tự mãn” với nên y tế của mình. Họ có một tinh thần “thượng tôn” đã ăn sâu trong tâm khảm, khi tự so sánh với châu Á hay châu Phi. Theo Vogt, Âu - Mỹ ngày nay lãnh đủ mọi hậu quả của lòng cao ngạo đó. Hubert Védrine, cựu ngoại trưởng Pháp, cho rằng (4) châu Âu “ngây thơ” vì “vốn vẫn còn tự coi mình như là lực lượng tiên phong của nền văn minh nhân loại”.
 
Trong đại dịch Corona, một vấn đề thuộc về tâm thức văn hóa của phương Tây cũng lộ rõ. Đó là một nền văn hóa xuất phát từ tâm thức cá nhân. Ngược lại, người châu Á, với Nhật và Hàn Quốc, luôn tiểm tàng trong tâm một tâm thức cộng đồng. Hai loại tâm thức này vốn nằm ẩn kín trong tâm lý con người nhưng chi phối mọi hoạt động xã hội. Ở đây ta sẽ không bàn loại tâm thức nào ưu việt hơn. Nhưng, khi đại dịch tràn tới, đòi hỏi con người phải đối phó trên phương diện cộng đồng thì con người phương Tây bỗng tỉnh ngộ về sự thiên lệch của mình.
 
Đó là một trong những lý do tại sao các chính phủ châu Âu trong giai đoạn đầu ngại đưa ra những biện pháp quyết liệt, dù là một chuyện nhỏ như mang khẩu trang. Sự lo ngại về “tính bầy đàn” làm cho con người phương Tây mất lòng tương trợ và tâm liên kết. Khi xã hội tê liệt, con người bỗng bừng tỉnh. Người ta nhận ra rằng, thì ra những con người tầm thường, thậm chí nhỏ bé trong xã hội, như anh lái xe tải, chị thu ngân, chị điều dưỡng, anh y tá... là những thành viên không thể thiếu khi tất cả đều thúc thủ. Người ta ngộ ra, mình cần biết bao người hàng xóm, mối liên hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa người dân và thể chế. Trước sự động tâm sâu xa đó, Chủ tịch Hội đông Giám mục Công giáo Đức Georg Bätzing đã nói: “Trận đại dịch này là cơ may của lịch sử... Hy vọng trận dịch này dạy cho chúng ta rằng, tất cả mọi người đều rất phụ thuộc lẫn nhau” (5).
 
Mối liên hệ giữa cá thể và tập thể vốn là một chủ đề triết học quan trọng bậc nhất của xã hội loài người. Bài học trên đã được đại dịch chỉ rõ. Một mối liên hệ khác, giữa con người và thiên nhiên, cũng được phát hiện một cách hào hứng. Người ta chuyên cho nhau xem những bức không ảnh của Hy Mã Lạp Sơn, của Vũ Hán, của Venice... để thấy thiên nhiên hồi phục thế nào chỉ sau vài tuần không bị ô nhiễm do con người gây ra. Dù nan đề này đã được báo động từ chục năm nay, nhưng đại dịch Corona đã lay động ta phải tới với một nhận thức dứt khoát về sinh thái, chúng ta đang ngồi chung trên một chiếc thuyền và mọi người đang phá hủy chiếc thuyền đó vì những chỉ số kinh tế, vì phát triển vật chất, vì quyền lợi riêng tư.
 
Trong những ngày cách ly lặng lẽ, người ta có cơ hội chiêm nghiệm về những điều sâu kín thường bị sinh hoạt hàng ngày che lấp. Bên cạnh thảm họa mà con người phải chịu đựng, đại dịch dường như là tiếng sét vang lên đánh thức con người ra khỏi cơn mê ngủ, nhận thức nhiều điều cao quý đã quên trong tâm khảm. Nhưng hơn thế nữa, đại dịch Corona còn mang một thông điệp sâu xa hơn.
 
4.jpg
Đại dịch Corona đã lay động ta phải tới với một nhận thức dứt khoát về sinh thái
 
... ĐẾN NHẬN THỨC PHẬT GIÁO
 
Sự vật luôn luôn biến dịch, điều đó là nguyên lý cơ bản nhất trong vũ trụ. Từ Đông sang Tây, vĩ nhân mọi thời đại đã ghi nhận điều đó, đặt nó thành tiên đề cho nhận thức luận của mọi nên triết học. Tính chất biến dịch của sự vật được Phật giáo gọi là “Vô thường” và đó là một trong ba nên tảng của giáo lý mà ta gọi là “Tam Pháp ấn” (Vô thường, Vô ngã, Khổ).
 
Nguyên lý Vô thường là cơ bản vì mọi sự vật trên thế gian, từ nhỏ đến lớn, đều tuân thủ quy luật này. Nhỏ như đóa hoa tàn sau vài ba ngày, lớn như một triều đại sụp đổ sau trăm ngàn năm, tất cả chỉ nói lên một điều: Đó là tình trạng ổn định mà ta đang thấy trong mọi sự chẳng qua là một sự thăng bằng tạm thời, nó sẽ biến đổi và hủy diệt sau một thời gian.
 
Nạn dịch và cảnh tang tóc hiện nay trên thế giới lay động chúng ta mãnh liệt. Chưa bao giờ có một biến cố làm con người chứng kiến luật Vô thường tác động sâu rộng và toàn thể như lần này. Trong vòng vài tuần, sức khỏe hàng triệu người bị đe dọa, mạng sống hàng trăm ngàn người bị tước bỏ. Hàng chục, hàng trăm triệu người mất công ăn việc làm. Cơ sở kinh doanh, hàng triệu công ty phá sản chỉ sau một đêm.
 
Gia đình, học đường và tương quan xã hội tưởng như thành tố bền vững của xã hội, chỉ cần một sắc lệnh của Nhà nước là bị xáo trộn và gián đoạn. Trật tự kinh tế mà chúng ta gọi là toàn cầu hóa, tưởng như là công thức bất di bất dịch, bị đặt lại vấn đề như trở bàn tay. Và cuối cùng, nhưng là quan trọng nhất, trật tự chính trị thế giới đang đi vào một giai đoạn bất định nguy hiểm, các siêu cường lên án lẫn nhau, chỉ cần một ngòi nổ là xảy ra chiến tranh.
 
Không nhiều thì ít, mỗi người đều được đánh thức, đều cảm nhận một điều gì đó, theo cách của mình. Moustapha Dahleb nói, chúng ta chỉ là “làn hơi và hạt bụi”, người theo đạo Phật thì nói: “bệnh là khổ, già chết là khổ”.
 
5.jpg
Phải chăng Corona là một bài kinh vô tự vĩ đại?
 
Hiểu thấu luật Vô thường mà dạng cụ thể nhất của nó là bệnh tật và chết chóc, thực ra là sự chấn động lớn nhất trong đời. Tất cả chúng ta đều biết, Thái tử Tất-đạt-đa đã từng ra bốn cửa thành và ba lần trong đó Ngài đã chứng kiến cảnh già, cảnh bệnh, cảnh chết. Những cảnh khổ đó làm Ngài động tâm và quyết chí xuất gia. Ngài đi tìm phương cách giải thoát khỏi cái khổ do Vô thường gây ra. Cuối đời, lời dạy tối hậu của Ngài trước khi nhập Niết-bàn là: “Các hành là vô thường, các vị hãy tỉnh tấn” - theo kinh Đại bát Niết-bàn.
 
Trong vô số cảnh khổ do dịch Corona gây nên, ta chú ý một điều đáng xúc động: Đa số ca tử vong nằm ở người già. Họ nhiễm một thứ bệnh lây truyền khủng khiếp và do đó, khi ra đi người thân không thể tiễn đưa - trên giường bệnh, nơi thiêu xác hay ngoài nghĩa trang. Thậm chí thi hài của họ không ai dám thu dọn nếu không có áo quần bảo hộ. Sự tụ hội bi thảm của cái già, cái bệnh và cái chết này làm ta chấn động.
 
Ngày xưa Phật cần ba lần ra khỏi cửa thành để chứng kiến ba cảnh già, bệnh và chết. Ngày nay, đệ tử của Phật, nếu biết nhìn, sẽ chứng kiến ba cảnh khổ đó chỉ trong một ca tử vong.
 
“Các hành là vô thường” - được ghi lại trong một bài kinh bằng ngôn ngữ. Cho những ai biết quan sát thì một cánh hoa héo tàn cũng nói lên tính vô thường của vạn sự, cánh hoa cũng là một bài kinh, bài kinh không chữ, bài kinh vô tự. Bài kinh vô tự trực tiếp hơn, nó không cần ngôn ngữ, không cần suy luận. Một bài kinh có thể không có ảnh hưởng gì cả cho người đọc, nhưng cũng có thể mang lại một chứng nghiệm tích cực, dẫn đến những hành động đúng đắn. Trong cơn khủng hoảng cao độ, lác đác đã có những quan sát và nhận thức, cho rằng có thể sau cơn đại dịch này, thế giới sẽ tốt đẹp hơn.
 
Rõ ràng là bên cạnh những đau thương mất mát, đại dịch Corona mang lại cho ta một thông điệp lớn, một thông điệp không lời về tính chất Vô thường của vạn sự. Phải chăng Corona là một bài kinh vô tự vĩ đại?

CHLB Đức, 29-4-2020
Nguồn: Nguyễn Tường Bách - GNO

 

Chú thích

(1) Theo tổng hợp chính thúc từ Reuters và CNN, tính đến 6 giờ 30 ngày 29-4-2020.
(2) Tìm thấy trên Internet, dịch giả Ngô Thị Phương Thiện.
(3) COVID-I9 - eine Zwischenbilanz oder eine Analyse der Moral, der medizinischen Fakten, sowie der aktuellen und zukünftigen politischen Entscheidungen; “Mittelländischen Zeitung”, ngày 08-4-2020.
(4) Trả lời phỏng vấn trên Figaro, ngày 22-3-2020.
(5) Phát biểu nhân lễ Phục sinh, ngày 13-4-2020.
 
 
Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.