Thoáng Nguyên Xuân

09:15 02/03/2023

BẠCH LÊ QUANG

1.
Trà nương Nguyên Xuân nhìn xa, nhìn thật xa, nơi có mấy dặm sơn khê mây phủ... Nắng chiều phủ bóng mảnh vườn hong hanh mùi hương Nguyệt Quế sau mưa, sau những dòng tuế nguyệt thênh thang ở xứ này, hai mùa mưa và nắng.

Minh họa: TÔ TRẦN BÍCH THÚY

Mưa thì khốc liệt, nắng thì gần như... nghe những tàn phai. Mà tàn phai luôn là thật. Thật như những hòn than trong bếp củi ngày nào và mới đó, nơi đại ngàn kiêu hãnh cùng gió cả, gầm vang khúc phiêu bồng chốn thủy tận sơn cùng nay trở về nằm yên, mệt mỏi thở dài, chờ khoảnh khắc của một kiếp tàn tro. Lửa vẫn nhảy múa điệu luân hồi mênh mang trong bếp lửa côi cút của trà nương Nguyên Xuân buổi giã kinh thành về với chốn xưa, nơi một nhan sắc thoáng bóng xuân thì đã từ đó ra đi.

Thuở đó, Kim Long của nàng vẫn xanh một màu xanh rộng rãi, vẫn còn nguyên dấu hài những bậc vương tôn công tử, áo xiêm lũ lượt, vén mây cưỡi hạc, mong tìm một chồi non lộc biếc để đôi khi trong thẳm sâu tâm đắc thì có thể về thưa với mạ mà “Trăm năm tính cuộc vuông tròn”... Hôm đi, mạ Nguyên Xuân cũng là một trà nương bậc thầy xứ kinh kỳ, mạ thức suốt ba đêm dặn dò... Triều đình là chốn long đàm hổ huyệt, giữ mình được chút nào hay chút ấy. Nhẫn là thành sự của muôn đời. Tài đến từ tâm. Tâm sáng thì tài tự nhiên vận hành thông suốt. Nghe dặn, lòng trà nữ chuẩn bị vào triều càng thao thức nỗi niềm riêng không muốn tỏ bày.

Buổi trước, ở Hồng Nhan Trà, quán trà mà mạ mở bên dòng Hương khi trở về từ cung cấm, trà nữ Nguyên Xuân đã chia tay với một khách thương hồ vấn vương duyên nợ. Duyên nợ với trà, với Hương Giang thơm màu cổ tích, với hồng nhan buổi giang hồ dừng bước. Nắng buổi ấy bỗng nhuốm màu quan san dù sông vẫn chưa thu để xanh một màu xanh ly biệt. Nguyên Xuân không khóc nhưng lòng sóng sánh như tiếng đàn bầu chùng buông những cung bậc cuối cùng thổn thức điệu chia ly. Sáng ấy là ngày rằm, sương sớm vẫn còn dày đặc như một lời tâm sự chưa hết với dòng sông. Tiếp lệ dâng trà cho dòng sông ngày rằm, ngày mồng một của những người Huế sống bên cạnh dòng sông linh hiển tự ngàn năm, trà nữ Nguyên Xuân đã dậy từ rất sớm, sớm hơn cả tiếng chuông Linh Mụ, tiếng chuông vọng thuở kinh kỳ sơ khai màu nguyệt bạch, tiếng chuông mà người ở đây hay nói với nhau, rằng đó là một thứ âm thanh có công phu điểm tâm cho trí và hồn người Huế được mãi tĩnh yên cho một ngày đang sắp sửa.

Trà nữ dậy sớm để đem nước về pha trà. Đó là những giọt nước như vẫn còn đâu đó trên những tán lá sen hồ Tịnh mà đêm qua sương xuống và nắng chưa kịp mang đi... Với mạ, với những trà nhân nức tiếng nơi đây hay kể cả những người thường thưởng trà theo kiểu bình dân mô, tê, răng, rứa... thì đó mới là thứ nước pha trà của Huế, Huế ơi, Huế của cung đình, Huế của những công nương gửi thưa lời yêu với “trái tim bọc vải quấn trăm lần” nhưng vẫn ngại e lời nói đó còn sỗ sàng, đường đột. Nước pha trà của Nguyên Xuân để dâng lên dòng sông yêu quý đã vậy, huống hồ là chuyện ướp trà. Lần đầu tiên khách thương hồ họ Vũ, trong một chiều lữ thứ dừng chân nơi trà thất của nàng đã ngẫu nhĩ tiền định mà sở thị dụng công ướp trà của Nguyên Xuân. Những cánh trà mỏng mảnh, cong vút mi mắt gái xuân thì nhuốm màu trắng bạc của khói sương kinh thành được tay thon trà nữ ủ nồng trong những búp sen thơm màu cố quận từ những đêm trước... Mùi trà, vị trà, sau khi chạm vào tay thơm cùng những cánh sen, đài sen tinh khiết, hương vị ấy, bấy giờ đã được đẩy đến những cung bậc cảm xúc thưởng lãm gần như cuối cùng.

Hương và vị lúc này chỉ chực chờ nghe tiếng thở dài của nước, những giọt nước đọng trên những cánh sen hồ Tịnh từ đêm qua. Và rồi, khi những hòn than trong bếp lửa đỏ hồng đã bắt đầu hóa kiếp vô thường, tất cả sẽ cùng lặng yên giữa một dòng sông không bao giờ nói để hòa quyện vào nhau cho một bản hợp âm đang chuẩn bị những cung bậc, những tiết tấu đầu tiên. Lúc này, Nguyên Xuân sẽ rất khẽ khàng với Hương Giang mới choàng tỉnh để bày biện một cuộc trà dâng, chắc chắn sẽ nhuốm màu cung kính cho một dòng sông đã thơm từ thuở Thạch Xương Bồ vẫn còn đâu đó dọc hai bờ huyền thoại. Nguyên Xuân tóc thả vai gầy trên tấm chiếu hoa màu nắng sớm mưa chiều với chiếc ấm thuở mạ về với cha, thuở nàng vẫn còn li ti một hạt bụi nào đó giữa trần gian đông mà thưa thớt. Trà dâng từ ấm xưa lần lượt qua mười ngón Nguyên Xuân hóa điệu nghê thường mà xuôi xuống với năm chén quân màu trắng bạc. Năm chén trà dâng mà người ở đây cho rằng chúng được bày theo thế ngũ hành tương sinh. Tuy vậy, phải có đôi mắt thật sắc của đời thương hồ, họ Vũ mới nhận thấy, trong cuộc trà dâng giữa một không gian, thời gian vẫn còn mờ tỏ của Nguyên Xuân hôm nay, không phải là năm chén quân như thông lệ mà lại có đến sáu chén. Và chén quân thứ sáu này, đặc biệt, không hề có một giọt trà nào đầy vơi theo bàn tay nàng, Nguyên Xuân trà nữ.

Nắng vẫn chưa kịp tỏa bung sắc lụa ngọc ngà. Trong ánh mờ của một đêm chưa tận, một ngày chưa thấu, nhìn chén trà thứ sáu vẫn cô độc như một nỗi niềm chưa tỏ, họ Vũ nghi hoặc nhìn trà nương Nguyên Xuân. Giữa khoảnh khắc yên lặng của đất và trời, Vũ hỏi: Quên chăng, thừa chăng hay còn một nguồn cơn nào chưa thấu suốt của cuộc trà dâng khi vẫn chưa đến hồi kết cuộc?

Nghe thắc mắc của Vũ, mắt trà nương vẫn không rời năm chén trà đã sóng sánh, nàng thưa, giọng trong như tiếng hạc bay qua, thanh âm nhẹ mà sắc nhưng lại rất đỗi thẫn thờ. Dạ, chén thứ sáu không thừa mà cũng không phải là một phút giây lơ đễnh của thần trí, cũng chẳng có nguồn cơn gì. Theo lệ, trà dâng luôn là năm chén của lý số ngũ hành tương sinh. Tuy vậy, khi có người chứng kiến, dù là ai, ngẫu nhĩ một thoáng hay tâm đắc một đời, sơ ngộ đến rồi đi hay mãi mãi là duyên trời định... chén này sẽ được bày biện để khi kết thúc nghi lễ, chén sẽ được rót trà mà dâng lên cho người ấy, Huế gọi đó là tấm lòng của sông Hương buổi sớm.

Hiểu được sự tình, họ Vũ không còn chút hồ nghi nào nữa. Lòng họ Vũ lúc này chỉ còn lại những trầm mặc u hoài không thể tỏ bày. Họ Vũ không biết sau khi cạn cợt chung trà này mình sẽ là ai nữa trong trái tim trà nữ. Tim ấy vẫn như sông không bao giờ nói, vẫn một màu mấy độ xanh thẳm buổi cố quận tân triều, buổi tìm em tôi tìm. Vũ càng bần thần, tự hỏi. Mình sẽ là ai, sẽ là ngẫu nhĩ, là một tiền định hay mãi là một thương hồ lênh đênh? Là tâm đắc một đời hay chỉ là một áng mây bay, ngàn năm gió thoảng.

Vũ thở dài... Mái tóc Nguyên Xuân càng thả mềm xuống lòng thương hồ trong buổi trà dâng. Và khi Nguyên Xuân quỳ xuống tấm chiếu đã vàng phai mấy độ thuở mạ về với cha, cung kính dâng những chén trà thơm sen hồ Tịnh cho Hương Giang buổi sớm ngày rằm giữa càn khôn tuế nguyệt, khi sương vẫn chưa xong khúc từ ly với sông, họ Vũ lúc này, trong rối bời đi và ở, bỗng thấy trà nữ có dáng giai nhân của Hàn thấp thoáng đài trang sau trúc tre Vỹ Dạ nhuốm màu khói sương, đêm nguyệt bạch, là Diễm của những cung đàn, là trà nương Nguyên Xuân của hôm nay, cố quận kinh kỳ, chờ đến ngày mai khi sương còn chưa kịp nói với sông một lời giã biệt, sẽ bỏ lại Kim Long cố quận để khởi đầu một cuộc lữ bất định tiến cung, xa vời ngày trở lại. Lúc ấy, cũng là lúc họ Vũ bỗng nhận ra, sương đã tan dần trên dòng sông.

Vũ thẫn thờ trên tay chén trà thứ sáu dành riêng cho mình. Trà dâng Hương Giang lúc này đã thấy nhuốm vị chia ly, đã mang sắc vọt vàng của một thứ nắng chiều, dù đưa người ta không kịp đưa qua dòng sông mây trắng.

2.
Sáng nay, lại là một ngày rằm. Ngày rằm tháng chạp, mưa đổ dồn trên sông vắng, trên Hồng Nhan Trà vẫn lặng lẽ như đợi ai về, đợi người đã ra đi. Trà nương Nguyên Xuân bây giờ là chiếc bóng của ngày xưa còn đó. Chiếc bóng của xuân thì đã thoáng qua, đã thấy tàn phai màu thời gian, bạc trắng kiếp tro than trong những bếp lửa hồng những buổi trà dâng nơi ngai vàng điện ngọc. Nàng đi trong một buổi sáng mưa tầm tã trên sông Hương. Và về cùng cơn mưa đó. Thoáng chốc mà đã mấy mươi năm từ độ biển cả của cha đã hóa thành nương dâu xanh thẳm của mạ, của những trầm thăng sử lịch thành bại mất còn, của thời gian suy rồi thịnh, thịnh rồi suy.

Trên một góc nhỏ bức vách chính diện của trà thất, lúc này, có treo một mộc bản sơn son thếp vàng với thủ bút của một vị vua yêu trà bậc nhất trong thiên hạ đã ưu ái tặng trà nương Nguyên Xuân buổi giã cung đình về với dân dã, về với Kim Long vẫn còn xanh một màu cây trái. Mộc đề mấy chữ mà nghe như hồn trà quyện với hồn sông những buổi sớm trà dâng mà phủ dụ hiển vinh cho một đời tài tử - giai nhân chắc chắn sẽ vướng mùi trần ai khổ lụy.

Vị sư già đến từ ngôi chùa có tiếng chuông sớm nhất xứ kinh kỳ cố quận, thủng thỉnh nhắp chén trà nức tiếng của Hồng Nhan Trà, sư chậm rãi, ôn tồn ngước mắt chiêm quan mấy chữ vàng trên chính diện trà thất. Trong ánh sáng ban sơ của ngày, của sông và của tuệ nhãn đã thấu suốt cõi ta bà, sư khe khẽ thở dài, lời tựa gió mây. Chao ôi, mấy chữ vua ban, mấy chữ vua ban: “Kinh Kỳ Đệ Nhất Trà Nương”. Tài mà chi, sắc mà chi... cô đơn đã thị hiện từ khi sông đã bắt đầu rời đại ngàn để về cùng mây trắng.

Âm dứt, trà cạn, chuông đã ngưng điểm. Người và bóng sư đã xa khuất trong mịt mù mưa sớm trên dòng sông buổi ấy mà lời vẫn như nước sông không chịu chảy, vẫn đọng lại đâu đây, trên tàng cây tán lá của một dòng sông chối từ viễn xứ, đọng lại nơi một góc rất tối của Hồng Nhan Trà buổi sớm. Ở đó, nơi một góc rất tối ấy, chủ nhân vẫn quyết giữ lại chén trà quân thứ sáu, dù đã thật lâu, thật lâu rồi, thuở Kim Long vẫn còn xanh một màu xanh rộng rãi.

3.
Lại nghe, sau lời như thầm thì của vị sư già trước khi rời quán, khách uống trà sáng ấy, thật lạ, họ còn nghe có cả tiếng hò vọng lại từ sông Hương dù hôm ấy, trời Huế vẫn tầm tã mưa rơi... Hò rằng: “Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn/ Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về”...*

B.L.Q
(TCSH408/02-2023)


-------------------
(*) Thơ Tuệ Sỹ

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.