Thơ Nguyễn Bính viết ở Huế

09:59 29/07/2008
HỒNG DIỆUVâng. Thơ của nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) viết ở Huế, trong đó có thơ viết về Huế và thơ viết về những nơi khác.

Tôi chưa được biết, lâu nay, trên sách báo ở Huế và các địa phương từ bắc đến nam đã có ai đề cập chuyện này chưa. Nếu chưa thì thật tiếc, và tôi sẽ là người đầu tiên được làm việc này. Còn nếu đã có ai viết rồi thì tôi vẫn cứ viết, vì như thế chứng tỏ chúng tôi đã đồng cảm, đã tâm đắc về cùng một hiện tượng, và chắc chắn là chúng tôi viết khác nhau.
Cho đến nay, không có tư liệu nào cho biết thật đích xác Nguyễn Bính đã đến Huế mấy lần.Theo một số nhà văn kể lại, và căn cứ vào năm tháng ghi dưới một số bài thơ, thì thấy Nguyễn Bính có thể mới đến Huế một lần, vào cuối năm 1941 và ở đó đến năm 1942. Nguyễn Bính từ Hà Nội đến đây cùng hai nhà văn Tô Hoài và Vũ Trọng Can. Sau đó, Tô Hoài trở về Hà Nội, Vũ Trọng Can viết thư mời nhà thơ Yến Lan đến Huế diễn kịch với ông và Nguyễn Bính.
Nhà văn Tô Hoài kể: “Quãng những năm 1940 (đúng ra phải viết những năm 40- H.D), đói rách cả rồi, ở lại Hà Nội ăn bám anh em mãi không còn được, đành phải kéo nhau đi kiếm ăn nơi xa xôi. Lúc đầu đi ba người: Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can và tôi.. Ghé xuống Thanh Hóa trước tiên... Vào Huế cũng sống vật vờ như ở Thanh... Chúng tôi ở yên chùa Trúc Lâm( Huế) có đến hàng tháng”. Nhà thơ Yến Lan thì viết: “Một hôm tôi nhận được thư của Vũ Trọng Can... Thư này viết từ Huế... Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ tối. Cả “ban kịch” đều ra đón, gồm có Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can và một chàng thanh niên... Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh gặp và quen trên các nẻo đường phố của Huế...”.
Còn những tháng năm Nguyễn Bính ghi dưới các bài thơ viết ở Huế là 1941, 8-1941, 29-9-1941, tháng Chạp năm Ngọ (1942). Như vậy có thể Nguyễn Bính ở Huế đến hơn một năm. Không biết trong thời gian đó ông có đi nơi nào, rồi trở lại, hay là liên tục ở Huế. Dẫu sao, có điều chắc là Nguyễn Bính ở Huế khá lâu, lâu đến có lúc ông phải than thở, trong bài Giời mưa ở Huế:
            Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh
            Để rồi
nằm mốc ở nơi đây!
Và, nếu tôi không lầm, trong những ngày sống ở Huế ấy, Nguyễn Bính đã viết mười ba bài thơ, gửi đăng các báo, về sau in trong tập Mười hai bến nước (1942) mười hai bài (trừ bài Oan nghiệt), cùng với hai bài viết ở nơi khác nữa.
Không biết, có phải người nhận định sớm nhất đối với những bài thơ viết về Huế là nhà phê bình Hoài Thanh (và Hoài Chân) không? Trong quyển Thi nhân Việt (1932- 1941), Hoài Thanh viết: “Huế đẹp, Huế nên thơ. Ai chẳng nói thế? Ai chẳng thấy thế? Nhưng sao hình ảnh Huế trong thi ca lại tầm thường thế? Có lẽ cảnh Huế quá huyền diệu, quá mơ màng không biết tả thế nào cho thoát sáo. Cũng có lẽ ngắm cảnh Huế, người ta khó tránh được cái buồn vơ vẩn, nó là khí vị riêng của xứ này và lòng người ta không đủ thản nhiên để ghi lấy hình sắc riêng của mỗi vật. Kể có ít câu của Thu Hồng và hai câu này của Quỳnh Dao cũng được:
            Một hôm tôn nữ cười trong nón
            Sông mở lòng ra đón bóng yêu.
Nhưng tả cảnh Huế chưa ai bằng Trân... lần thứ nhất những vẻ đẹp xứ này được diễn ra thơ”.
Đoạn văn trên, Hoài Thanh viết vào tháng 10-1941, lúc ấy ông chưa đọc những bài thơ viết về Huế của Nguyễn Bính. Nếu đã đọc, tôi tin là ông sẽ viết khác.
Ấn tượng từ những bài thơ viết về Huế của Nguyễn Bính cho tôi thấy: “hình ảnh Huế trong thi ca” không hề “tầm thường, không hề “sáo” một tí nào, và chưa nhà thơ nào có nhiều thơ viết về Huế hay và hiện đại như Nguyễn Bính, cho dù đó là cái hay mà tâm trạng buồn đóng vai trò chủ đạo.
Thật vậy. Nếu như yếu tố cơ bản của thơ là tình cảm, và tình cảm ấy phải đi được từ trái tim nhà thơ đến trái tim người đọc, thì thơ viết về Huế và không chỉ riêng thơ viết về Huế của Nguyễn Bính đã làm được như vậy. Đành rằng thơ tả cảnh Huế của Nam Trân chẳng hạn, cũng như thơ tả cảnh thôn quê Bắc Bộ của Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân chẳng hạn, có cái hay riêng của nó, nhưng nếu như những cảnh ấy được gắn bó chặt chẽ, hài hòa với tình, thì cái hay của thơ sẽ tăng lên nhiều lắm. Cùng nhìn cầu Trường Tiền, nhà thơ Nam Trân viết:
            Ba nhịp cầu Trường Tiền
            Đứng dày người hóng mát
            Ngọn gió Thuận An lên
            Áo quần kêu sột soạt
Những câu thơ thuần túy tả (hay kể).
Còn Nguyễn Bính thì:
            Cầu cong như chiếc lược ngà
            Sông dài mái tóc cung nga buông hờ
            Đôi bờ đôi cánh tay vua
            Cung nga úp mặt làm thơ thất tình.
Viết như thế, phải nói là độc đáo, cảnh và tình đã hòa vào nhau, và người viết phải có một óc tưởng tượng kỳ lạ mới thấy được cây cầu như chiếc lược (cong), mới thấy được hai bờ sông như đôi cánh tay (vua), và mới thấy được dòng sông như mái tóc dài của người con gái (cung nữ) đang nằm úp mặt!
Dòng sông Hương còn hấp dẫn Nguyễn Bính nhiều lần nữa. Có khi, nhà thơ gọi nó là Một con sông lạnh (tên một bài thơ), mà cái đêm trên sông uống rượu nghe đàn ấy là một đêm buồn, buồn đến não ruột:
            Đêm tàn chẳng có chiêm bao
            Đêm tàn có mấy chòm sao cũng tàn
            Chén sầu đổ ướt tràng giang
            Canh gà bên nớ giằng sang bên này.
Lại có khi, dưới con mắt nhà thơ, sông Hương chìm trong một không gian đen tối, ảm đạm:
            Suốt giời không một điểm sao
            Suốt giời mực ở nơi nào loang ra
Dòng sông ấy có Con đò không chở những người chính chuyênLửa đò chong cái trăng hoa đúng là một “đặc điểm” của sông Hương thời bấy giờ (và không chỉ riêng thời bấy giờ)
Đọc đoạn thơ này, vốn ở đầu bài Một chiều say, về sau Nguyễn Bính tách ra để nhập với mấy đoạn khác thành bài Vài nét Huế:
            Ở đây có nước sông Hương
            Có cây núi Ngự, có đường Nam Giao
            Bồng bồng sáu nhịp cầu cao
            Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh
            Thâm u một dải hoàng thành
            Đình suông con én không đành bay đi...
ta thấy có thể nói về hai điều. Một là, thơ viết về một địa phương đã ghi được một ít địa danh tiêu biểu của địa phương ấy, làm cho những người chưa từng đến đấy cũng nhớ được (mà thơ thì rất dễ nhớ), ấy là sông Hương, núi Ngự, đường Nam Giao, cầu Trường Tiền sáu nhịp (nhà thơ Nam Trân coi như ba nhịp). Hai là, cái buồn ở đây, trong tâm trạng của nhà thơ, đã đi đến tận chỗ sâu thẳm, từ cảnh vật: mọi nơi đều có màu xanh (của cây cối) nhưng là thứ màu xanh vô hồn mà bóng mát của nó rất thờ ơ, không dành cho ai cả, hoàng thành thì vắng lặng, con chim én đậu trong cái đình trống như sợ nếu mình bay mất thì sự sống ở đây không còn nữa, nên cảm cảnh mà không đành bay đi.
Cùng với cảnh Huế là người Huế. Nếu ở thơ Nam Trân, ta thấy Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo chiếc Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng, hay người bán quà: Hai tay xách hai vịm - Một vài mụ le te - Tiếng non rao lảnh lói - Chốc chốc: “Ai ăn chè?”... thì thơ Nguyễn Bính có:
            Những nàng thiếu nữ sông Hương
            Da thơm là phấn, môi hường là son
            Tựu trường, san sát chân thon
            Lao xao nón mới màu sơn sáng ngời
            Gió thu cứ mãi trêu ngươi
            Đôi thân áo mỏng tơi bời bay lên
            Dịu dàng đôi ngón tay tiên
            Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường
Nguyễn Bính còn có bài thơ Xóm Ngự Viên mà ở đó sự hoài cổ lại trở về với những đức vua, hoàng hậu và công chúa, với những cung tần, mỹ nữ và quan trạng, như là một ám ảnh vốn thấy rất rõ trong nhiều bài thơ của ông. Sự ám ảnh rõ đến mức trở thành một đặc điểm nghệ thuật của thơ Nguyễn Bính nhất là lúc này (lúc tác giả viết bài thơ) cái nơi cổ kính ấy không còn chút dấu tích gì của một thời được coi là êm đẹp, yên ả, thanh bình và sang trọng - cho dù nhà thơ đã cẩn thận đặt một nghi vấn: “Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển - Là đây?...
Nhưng, sẽ là một thiếu sót lớn, nếu nói đến thơ Nguyễn Bính viết về Huế mà không nói đến thơ viết về mưa. Người viết những dòng này đã có dịp chứng kiến một trận mưa mịt mù, dai dẳng ở đây. Và đặc trưng của mưa Huế đã là một “thi liệu” cho bao nhiêu thi sĩ. Mấy chục năm trước, Tố Hữu có hai câu vào loại hay nhất trong những câu thơ viết về mưa Huế:
            Nỗi niềm chi rứa, Huế ơi
            Mà mưa xối xả, trắng trời Thừa Thiên
(Bốn cặp phụ âm đi liền nhau ở câu thứ hai mang một cái gì xót xa, day dứt, nhức nhối, xuất phát từ nỗi nhớ nhung da diết của một người con đứng ở vùng giải phóng nhìn về quê mẹ đang còn trong tay quân xâm lược!). Trước Tố Hữu mấy chục năm, Nam Trân cũng có thơ về mưa Huế. Có lần, Nam Trân than thở: Đã quá nửa tháng rồi- Mà mưa, mưa chẳng dứt.
Với Nguyễn Bính, hơn ai hết, ở Huế, cơn mưa của thiên nhiên thấm sâu vào tâm hồn con người. Nhà thơ kêu:
            Mấy tuần ròng rã gió mưa!
và nghe rõ tiếng
            Mưa rào rào, gío ào ào
và buồn lây với những cô cậu
            Học sinh mấy buổi đi về
            Quần cao nón thấp ê chề gió mưa!
Đặc sắc của Nguyễn Bính về thơ mưa ở xứ này tập trung trong bài Giời mưa ở Huế, mà hai câu như một điệp khúc lặp lại ở đầu mỗi đoạn trong bài làm người ta nghĩ đến Huế là phải đọc:
            Giời mưa ở Huế sao buồn thế
            Cứ kéo dài ra đến mấy ngày!
Trong Giời mưa ở Huế, Nguyễn Bính tả mưa qua những hình tượng mạnh, có những sáng tạo nghệ thuật thật lạ:
            Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
            Giời mờ ngao ngán một loài mây
            Tràng Tiền vắng ngắt người qua lại
            Đập Đá mênh mang bến nước đầy
            Đò vắng khách chơi nằm bát úp
            Thu về lại giở gió heo may...
 Rồi cái buồn của cảnh mưa làm nhà thơ nghĩ đến cái nghèo của mình và của bạn mình đang ở Huế:

            Túi rỗng, nợ nần hơn Chúa Chổm
            Áo quần trộm mượn, túng đồ thay
và nghĩ đến người thân đang ở ngoài bắc, nghĩ đến những người đã gặp, những nơi đã qua trên đường tha hương - toàn những chuyện không có gì là vui! Giời mưa ở Huế là một trong những bài thơ buồn nhất của Nguyễn Bính!
Xứ Huế còn tạo nguồn cảm hứng để Nguyễn Bính có ba bài thơ không viết về cảnh và người Huế mà viết về cảnh và người những nơi khác. Đó là Oan nghiệt (1941), Hoa với rượu (8- 1941) Xuân tha hương (1942) đều là những bài thơ hay.
Với giọng “độc thoại nội tâm”, trong Oan nghiệt, nhà thơ nhớ về con gái mình vừa được sinh ra sau những ngày dan díu với một kỹ nữ, và sự lo lắng khi nghĩ đến nông nỗi con mình khó thoát khỏi bước đường đời người mẹ đã và đang trải. Lời thơ thật xót xa, đau đớn. Có những câu chua xót, đọc qua khó mà quên được:
            Rồi có một đêm màn rủ thấp
            Ngã vào tay một khách làng chơi
            Em có nghĩ rằng trong hắt hủi
            Con mình trằn trọc cánh tay ai?
            Em có nghĩ rằng trong quán trọ
            Đầu tôi lại gối cánh tay tôi?
Hai câu nhà thơ khuyên con gái:
            Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ
            Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con!
làm ta bỗng nhớ nỗi buồn chung của văn nhân thi sĩ một thời.
(Tản Đà: Cuộc trần thế kiếm ăn chẳng dễ- Rẻ rúng thay là nghệ làm văn!. Tú Mỡ: Nghề thơ chẳng đủ nuôi thi sĩ. Xuân Diệu: Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt- Cơm áo không đùa với khách thơ)..
Hoa với rượu
là một câu chuyện tình duyên với bao kỷ niệm êm đềm, thơ mộng của đôi bạn trẻ ngày trước, rồi bỗng nhiên cách xa, lỡ dở được hồi tưởng lại trong sự buồn bã, tiếc nuối..
Còn Xuân tha hương thuộc loại “thơ một vần”, ở đây là trăm câu một vần. Tôi đã có lần nhận xét: hình như ở ta xưa nay chưa ai có biệt tài làm thơ nhiều câu một vần như Nguyễn Bính. Ở Xuân tha hương, lại sử dụng thủ pháp nghệ thuật ấy, nhà thơ gửi tấm lòng mình về người chị ở quê xa, vừa “thương chị từ khi đi lấy chồng” vừa buồn cho cảnh phiêu dạt, phải đón xuân nơi xứ người trong cảnh:
            Thiên hạ đua nhau mà sắm tết
            Riêng mình em vẫn cứ tay không

Bài thơ có những câu mà nhiều văn nhân, thi sĩ có thể vận vào mình, vì đã được viết ra từ kinh nghiệm của một người từng trải:
            Ai bảo mắc vào duyên bút mực,
            Suốt đời mang lấy số long đong!
            Người ta đi kiếm giàu sang cả,
            Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông!...

Có thể nói, cái buồn của một thi sĩ nghèo, tha hương, cộng với cái buồn mà xứ Huế êm đềm, thơ mộng rất dễ tạo cho người ta, đã làm nên một loạt bài thơ đặc sắc của Nguyễn Bính. Nói một cách khác, xứ Huế đã làm hay thêm thơ Nguyễn Bính, và ngược lại, thơ Nguyễn Bính đã tôn lên cái ý vị, cái đặc điểm của riêng xứ huế.
Hãy tưởng tượng, nếu không có những bài như vậy - cho dù đã trừ đi những chỗ này chỗ khác còn bất cập - thơ Nguyễn Bính nói riêng và thơ Việt hiện đại nói chung sẽ mất đi bao nhiêu là hương sắc?
H.D

(nguồn: TCSH số 155 - 01 - 2002)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ HUỲNH LÂMTừ “Vọng sông quê” đến “Mang” của Nhà xuất bản Trẻ, rồi “Gửi thiên thần” của Nhà xuất bản CAND và bây giờ là “Đồng hồ một kim” của Nhà xuất bản Văn Học” được gửi đến bạn đọc, Phan Trung Thành đã khẳng định được gương mặt thơ của thế hệ 7.X. Ở đây, số lượng tác phẩm không định hình nên một gương mặt thơ, mà chính những câu chữ đã vẽ lên chân dung một nhà thơ.

  • TIỂU VĂNGiữa tháng 11 năm 2008, tôi được dự một buổi hội thảo nói chuyện chuyên đề về sách tại Zen Café (phố Ngọc Hà). Đây là buổi nói chuyện của tác giả - dịch giả Lê Thị Hiệu, với bút danh thường gọi là Hiệu Constant, giới thiệu về tác phẩm đầu tay của chị - tiểu thuyết Côn trùng. Buổi nói chuyện nằm trong chương trình “Tôn vinh Văn hóa Đọc” do Công ty Truyền thông Hà Thế khởi xướng và tổ  chức.

  • HÀ KHÁNH LINHHồng Nhu truyện ngắn, Hồng Nhu thơ… Lần đầu tiên nhìn thấy Hồng Nhu xuất hiện tiểu thuyết tôi thực lòng rất mừng. Tuy nhiên đọc gần hết hai chương đầu nỗi lo cứ cồm cộm lên trong tâm thức nhưng chính gần cuối chương II cái chất tiểu thuyết mới bắt đầu hé lộ ra, để rồi từ đó lôi cuốn người đọc cho đến hết truyện.

  • LÊ QUANG TƯCông trình Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX (những vấn đề lý luận và lịch sử)(1) được biên soạn bởi Trần Ngọc Vương (chủ biên), Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Thịnh, Trần Nghĩa, Đoàn Lê Giang, Kiều Thu Hoạch, Cao Tự Thanh..., do nhà xuất bản Giáo dục in năm 2007, dày 912 trang.

  • LÝ HOÀI XUÂN(Nhân đọc tập thơ “Mẹ!” của Văn Lợi – NXB Thuận Hoá, 2006)

  • TRẦN HUYỀN SÂMNhư con thú hoang ôm vết thương lòng đi tìm nơi trú ẩn, gương mặt người thiếu phụ mang nỗi buồn tiền kiếp - tự ngàn xưa: Người thiếu phụ có đôi mắt buồnĐi lang thang trong chiều mùa hạNỗi cô đơn lây sang cả đá...

  • MAI VĂN HOANNgười đời thì lập ngôn còn Nhụy Nguyên thì “lập thiền”. Thú thực tôi chưa hiểu hết dụng ý của Nhụy Nguyên khi đặt tên cho tập thơ đầu tay của mình là Lập thiền. Bản thân từ Hán Việt vốn ẩn chứa nhiều tầng nghĩa.

  • BỬU NAMI. Văn học Mêhicô ở thế kỷ XX, có lẽ được xem như một nền văn học năng động và sáng tạo nhất Châu Mỹ La tinh. Táo bạo trong những tìm tòi mới, linh hoạt uyển chuyển trong cách diễn tả, đa dạng phong phú trong cách sử dụng các cấp độ ngôn ngữ, sáng suốt trong cách chọn lựa đề tài, hình thức, ngôn ngữ: tiểu thuyết và truyện ngắn ở Mêhicô tạo được những không gian sáng tạo và đổi mới một cách tự do.

  • NGUYỄN TÝ51 bài thơ cùng 8 ca khúc được phổ thơ của Trần Hữu Lục vỏn vẹn 120 trang qua tập thơ “Vạn Xuân” (*) mới nhất của anh, người đọc đồng cảm cùng tác giả- một người con xứ Huế tha phương.

  • NGÔ MINHNhà xuất bản Văn nghệ vừa ấn hành tập ký “Phùng Quán- Ba phút sự thật”, tập hợp mười lăm bài viết, ký thấm đẫm chất nhân văn rất của cố nhà thơ nổi tiếng Phùng Quán.

  • NGUYỄN ĐÔNG HIẾUTrong cuộc đời làm xuất bản của mình, Phùng Quán là một nhà văn đã để lại cho tôi những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc, khó quên.

  • PHẠM PHÚ PHONG Tập nhật ký Tây tiến viễn chinh (do Đặng Vương Hưng biên soạn và giới thiệu, Phạm Tiến Duật viết lời bạt, Nxb Hội Nhà văn, 2005) của liệt sĩ Trần Duy Chiến, bắt đầu viết từ ngày 7.10.1978, khi anh mới nhập ngũ, đến ngày 25.6.1980, trước khi anh hy sinh gần một tháng.

  • BỬU NAM giới thiệu1. Cuốn tiểu thuyết best - seller “Hồi ức của một Geisha” của nhà văn Arthur Golden vừa được dựng thành phim. Nhà văn Arthur Golden đã dành cả 40 năm cuộc đời mình tìm tư liệu về cuộc sống của những nàng Geisha ở Nhật Bản, để sáng tạo nên một cuốn tiểu thuyết Best - Seller giữ vị trí được bạn đọc thế giới yêu thích lâu dài trên danh mục những tiểu thuyết bán chạy nhất do báo New York Times bình chọn.

  • HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc tập thơ Lệ Thuỷ mút mùa của Ngô Minh)Nói đến Ngô Minh là nói đến thế - giới - cát. Cát trong suy nghĩ của Ngô Minh như thứ ngôn ngữ minh triết về đời sống con người. Là vật chất, nhưng không giản đơn như mọi thứ vật chất. Cát có thể nóng như lửa, lại mềm mại dịu êm dưới chân người. Li ti từng hạt nhỏ, vậy mà bên nhau cát xây nên luỹ nên thành án ngữ dọc biển bờ Tổ quốc. Cát hiền lành trong sạch, khi giận giữ có thể biến thành những cơn bão khủng khiếp.

  • BÙI ĐỨC VINH(Nhân đọc tập thơ “RỖNG NGỰC” của Phan Huyền Thư, NXB Văn học 2005)

  • PHAN THUẬN AN"Khóc Bằng phi" hay "Khóc Thị Bằng" là một bài thơ nổi tiếng xưa nay, nhưng tác giả của nó là ai thì chưa được xác minh một cách cụ thể. Người ta thường cho rằng bài thơ trữ tình này là do vua Tự Đức (1848-1883) làm ra để thương tiếc một bà cung phi tên là Thị Bằng còn rất trẻ đẹp nhưng chết sớm.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong văn học Nga thế kỷ XX, Aleksandr Solzhenitsyn là một trong những nhà văn lớn, nổi tiếng có nhiều đóng góp cho nền văn học Nga trên nhiều phương diện, một người suốt đời tận tụy và kiên trì đấu tranh cho sự chiến thắng của nghệ thuật, của sự thật đối với những cái xấu, cái ác. Nhưng ông cũng là một nhà văn có cuộc đời đầy thăng trầm, bất hạnh và phức tạp.

  • BÙI LINH CHIAnnemarie Selinko (1914-1986) là một nhà báo, nhà tiểu thuyết gặt hái được một số thành công trong sự nghiệp tại Tổ quốc của mình là nước Áo. Trong những tháng ngày chạy nạn 1943, bà đã cùng chồng đến Thụy Điển, đã chứng kiến những làn sóng người tị nạn phải rời bỏ quê hương trước ý chí ghê gớm của kẻ độc tài khát máu Himler gây ra.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Nobel là một giải thưởng danh giá nhất, nhưng cũng chứa đựng nhiều nghịch lý nhất trong tất cả các giải thưởng. Riêng giải Nobel văn học, bao giờ cũng gây tranh cãi thú vị. Bởi vì, Hội đồng Viện Hàn Lâm Thụy Điển phải trung thành với lời di chúc của Alffred Nobel: trao tặng giải thưởng cho người sáng tạo ra tác phẩm văn học xuất sắc nhất, có khả năng định hướng lý tưởng cho nhân loại.

  • NGUYỄN THỊ MAI(Nhân đọc tập thơ “Ra ngoài ngàn năm” của nhà thơ Trương Hương - NXB Văn học – 2008)