Theo con đường cách mạng

15:48 11/09/2008
NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.

Người thư ký này tên là Lưu Văn Xân, một cán bộ mới được điều động từ Hà Tĩnh ra, là người của Bộ Nội vụ được giao trọng trách mở lớp bồi dưỡng cán bộ cho các địa phương và làm thư ký tốc ký mỗi khi cần đến. Ngày ấy, ở Chiến khu Việt Bắc, ta chưa có các phương tiện ghi âm hiện đại như hiện nay nên việc ghi tốc ký các cuộc họp quan trọng cần có một cán bộ biết tốc ký nhanh, trung thực. Nhờ được giao nhiệm vụ là thư ký tốc ký nên ông Lưu Văn Xân được tiếp xúc với Bác Hồ và các cán bộ lãnh đạo Trung ương. Có lần, bên bếp lửa hồng, Bác Hồ thân mật đùa vui với ông Lưu Văn Xân: “Thưa ngài cựu tri huyện...” - Lưu Văn Xân vui vẻ thưa lại: “Thưa Chủ tịch, bây giờ là người cộng sản Lưu Văn Xân đang phục vụ Người ạ” (1). Thì ra Lưu Văn Xân từng là công chức hạng 2 ngạch Nam triều cũ, từng là tri huyện Yên Thành trong những ngày bão táp của Cách mạng tháng Tám 1945.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, Chính phủ Thủ tướng Trần Trọng Kim chủ trương cử một số quan chức trẻ, có nhân cách thay thế một số quan lại trong bộ máy chính quyền các phủ huyện - Lưu Văn Xân là một cựu học sinh trường Quốc Học, trường Hậu bổ ở Huế, theo giới thiệu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Đình Nam được chuyển từ Hà Tĩnh ra làm tri huyện Yên Thành cuối tháng 6 năm 1945. Trước khi ra Yên Thành, Lưu Văn Xân được ông Phan Đăng Tài, em ruột nhà cách mạng Phan Đăng Lưu đang làm thông phán toà sứ Hà Tĩnh, là người của Việt Minh bí mật đến bắt liên lạc, giao nhiệm vụ. Lưu Văn Xân và Phan Đăng Tài vốn quen biết nhau từ trước.
Về Yên Thành, Lưu Văn Xân vừa phải làm nhiệm vụ của một viên tri huyện, một quan “phụ mẫu chi dân” vừa phải khéo léo ngầm thực hiện những điều ông Phan Đăng Tài căn dặn, chỉ sau một thời gian ngắn, Lưu Văn Xân đã liên lạc được với đồng chí Phan Phúc Tường, một cựu chính trị phạm, người của Việt Minh Yên Thành.
Nhận chức tri huyện Yên Thành vào lúc mới 34 tuổi, lại vào thời điểm tin tức về những hoạt động của Việt Minh các tổng Quan Hoá, Quan Trung, Vân Tụ, Vân Hội... rậm rịch khắp các làng xã. Nhờ được thông báo trước, Lưu Văn Xân đã tiếp sức cho các tổng lý nạp tiền thuế về huyện rồi giữ lại ở đó, không nạp vô tỉnh, lợi dụng danh nghĩa hoạt động cho thanh niên tiền tuyến (thường gọi là Thanh niên Phan Anh)(2) tổ chức các hoạt động lạc quyên cứu đói cho dân, không thực hiện kế hoạch bắt dân nhổ lúa trồng đay và thu mua thóc của hiến binh Nhật.
Nhờ sự lãnh đạo kịp thời khẩn trương của Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh, chỉ sau vài tháng, cơ sở Việt Minh được xây dựng khắp các tổng xã.
Ngày 23 - 8 - 1945, Ủy ban khởi nghĩa huyện được thành lập. Ngày 24 - 8, biểu tình nổ ra ở chợ Dinh. Quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở 16 làng trong huyện. Sáng ngày 25 - 8 - 1945, hàng vạn quần chúng kéo đến huyện đường biểu tình. Tri huyện Lưu Văn Xân, theo lệnh của Việt Minh, trước đó đã thu giữ toàn bộ vũ khí của bảo an binh đóng trên địa bàn gồm 12 khẩu súng, hơn 2000 viên đạn, cùng 21.000 đồng (tiền Đông Dương) giao nộp cho đại diện Việt Minh từ đêm 24 - 8. Tại buổi lễ mít tinh sáng 25 - 8, sau lời tuyên bố của ông Ngô Xuân Hàm, tri huyện Lưu Văn Xân phát biểu mấy lời hoan nghênh chính quyền cách mạng.
Ngay sau khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện, đại diện của chính quyền cách mạng mời vị cựu tri huyện vốn có cảm tình với cách mạng, đã thực hiện nghiêm túc những việc Việt Minh giao, không làm điều gì có hại cho phong trào... gặp gỡ, động viên và mời ông Lưu Văn Xân ở lại, giúp chính quyền mới một số công việc về tư pháp nhưng ông Lưu Văn Xân xin được trở về quê hoạt động. Kết thúc 60 ngày làm phụ mẫu chi dân của vị tri huyện cuối cùng ở Yên Thành.
Về Hà Tĩnh, như cá gặp nước, Lưu Văn Xân được ông Phan Đăng Tài, lúc này đã là Phó Chủ tịch UBND cách mạng lâm thời tỉnh Hà Tĩnh và các đồng chí trong Việt Minh Hà Tĩnh giao trách nhiệm làm Trưởng phòng tiếp tế, lo một phần công việc chống giặc đói cho nhân dân. Ngày 19 - 5 - 1946, Lưu Văn Xân vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt . Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hà Tĩnh là hậu phương trực tiếp của chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa, công cuộc kháng chiến mở ra nhiều lĩnh vực hoạt động mới mẻ, khó khăn. Nhờ sự giúp đỡ của ông nguyễn Tài Đức, Phan Trọng Bình, Mai Trọng Đạm, Phan Đăng Tài, Nguyễn Danh Dương... và tập thể cán bộ trong Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Hà Tĩnh, Lưu Văn Xân nhanh chóng trở thành một cán bộ có năng lực, thạo việc, mẫn cán, ông được bầu vào Huyện ủy Hương Khê năm 1947 giữ chức vụ Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến huyện. Năm 1949 được bổ sung vào Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Bấy giờ, ở khu 4 đang rộ lên phong trào học văn hoá, trong đó có việc học ghi tốc ký chữ quốc ngữ theo một phương pháp mới do ông Phan Đăng Tài (lúc này Phan Đăng Tài làm Chánh Văn phòng Liên khu 4) sáng tạo ra, thường gọi là tốc ký LÊ HOẠ Lưu Văn Xân được các cán bộ trong Tỉnh uỷ Hà Tĩnh suy tôn là người ghi tốc ký nhanh nhất, đẹp nhất.
Cuối năm 1949, theo yêu cầu của Trung ương, Lưu Văn Xân được điều ra Chiến khu Việt Bắc phục vụ trong cơ quan Bộ Nội vụ, trực tiếp phục vụ các đồng chí Trần Hữu Dực, Phan Kế Toại. Và ở đây, vị cựu tri huyện có những thời điểm vinh dự được gặp, được làm việc, được sống bên lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tề tựu bên ngọn cờ đoàn kết, đại nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những vị cựu quan lại của chính quyền cũ như Phan Kế Toại, Phan Anh, Phạm Khắc Hoè, Tạ Quang Bửu... khu rừng Việt Bắc ngày ấy hội tụ nhiều nhân tài khắp đất nước, và Lưu Văn Xân vinh dự được đứng trong đội ngũ những người trí thức yêu nước đi kháng chiến, góp phần nhỏ bé sức lực của mình cho kháng chiến.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Lưu Văn Xân được về tham gia tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Từ năm 1954 đến năm 1970, ông được giao các chức vụ, Trưởng phòng 5 Bộ Nội vụ, Phó Văn phòng, Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ chính quyền địa phương Bộ Nội vụ, Hiệu trưởng kiêm Bí thư Hiệu uỷ Trường Hành chính Trung ương. Năm 1971, ông được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu.
Có hàng vạn, hàng triệu con suối nhỏ chảy ra sông để hợp dòng ra sông lớn hội tụ về biển cả. Có hàng triệu con đường đến với cách mạng, đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh, từ một công chức nhỏ trong bộ máy chính quyền cũ, việc tri huyện cuối cùng của huyện lúa Yên Thành trở thành người cộng sản, thành một cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước. Ấy là nhờ sức lay động, lan toả của Cách mạng tháng Tám, của tư tưởng - đạo đức Hồ Chí Minh, của sự phấn đấu không mệt mỏi của một tri thức có nhân cách, có lòng yêu nước chân chính.
Đi theo con đường của Cách mạng tháng Tám, của Bác Hồ, noi gương người cha Lưu Văn Xân, tất cả con trai, con gái, dâu rể của ông Lưu Văn Xân đều trở thành đảng viên, cán bộ của Đảng, Nhà nước, có người là Vụ trưởng Vụ Báo chí, có người là Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, có người là Đại tá an ninh, có người là sỹ quan quân đội, có người là cán bộ chủ trì một phường Hà Nội, có người là bác sỹ, kỹ sư, doanh nhân. Cả người vợ thảo hiền của ông là cụ bà Đào Thị Lan cũng trở thành đảng viên cộng sản từ năm 1948.
Dịp kỷ niệm 62 năm khởi nghĩa giành chính quyền ở Yên Thành, cả cụ ông cụ bà Lưu Văn Xân đều đã trở thành người thiên cổ. Nhưng con đường gian khổ mà vẻ vang mà ông đã trải qua, còn ít người biết đến.
                                                                                                            N.Đ.T

(nguồn: TCSH số 228 - 02 - 2008)

 

--------------------
(1) Báo QĐND cuối tuần số 12/ 10/ 2003.
(2) Tổ chức Thanh niên tiền tuyến do ông Phan Anh làm Bộ trưởng.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • LÊ HUỲNH LÂMNhững ngày mưa gió lê thê của mùa đông ngút ngàn vừa đi qua, những trận lụt bất thường gây nên bao tan tác, để lại những vệt màu buồn thảm trên gương mặt người dân nghèo xứ Huế, các con đường đầy bùn non và mịt mùng từng đám bụi phù sa, những vết thương còn âm ỉ trong hồn người…

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCâu chuyện tôi sắp kể với các bạn dưới đây không phải là một câu chuyện thuộc huyền sử về lửa cỡ như ngọn lửa Prométe hay biểu tượng lửa trong đạo Hinđu, hay lửa trong Kinh Dịch tương ứng với phương nam, màu đỏ, mùa hè...

  • PHAN VĂN LAITrong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Huế đã nổi lên là một chiến trường xuất sắc, được Đảng, Chính phủ tặng danh hiệu: “Tiến công nổi dậy, anh dũng kiên cường”, được Bác Hồ khen ngợi: “Bác rất vui mừng vừa qua Huế đã đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi to lớn” và được cả nước tự hào về Huế.